Trong đời nhà Lương, Phật giáo được thịnh hành nhất ở Nam triều. Vì ngoại hộ có Lương Võ Đế thâm tín Phật giáo, bên Tăng già có ba đại Pháp sư là Pháp Vân chùa Quang Trạch, Trí Tạng chùa Khai Thiện, Tăng Mân chùa Trang Nghiêm xuất hiện. Lương Võ Đế là ông vua tin Phật giáo đứng thứ nhất trong lịch đại Hoàng đế ở Trung Quốc. Trong khoảng 48 năm trị vì, nhà vua đem vương quyền và Phật giáo dung hòa thành một mối.
Lương Võ Đế, lúc đầu theo Nho giáo và Đạo giáo, nên không quan tâm tới Phật giáo, nhưng sau Ngài biết đến Phật giáo thì lại nhất tâm quy y. Giữa năm thứ 3 niên hiệu Thiên Giám (504), nhân dịp lễ Phật đản mồng 8 tháng 4, vua đã cử hành đại lễ “Xả đạo phụng Phật” tại Trùng Vân điện, và còn ra lệnh cho các công khanh, bách quan bỏ Đạo giáo quy y Phật giáo. Tới niên hiệu Thiên Giám năm thứ 10 (511), vua tự soạn ra bài văn Đoạn Tửu Nhục (bỏ uống rượu ăn thịt) để quyết tâm tu trì. Lại niên hiệu Thiên Giám năm thứ 16 (517), vua hạ sắc lệnh cấm nhân dân không được cúng tế quỷ thần bằng rượu thịt, và bắt thay thế bằng hoa quả, năm Thiên Giám thứ 18 (519), nhân ngày mồng 8 tháng 4 vua lại tự phát tâm thọ giới Bồ tát ở Ngài Tuệ Ước tại chùa Thảo Đường, ngay sau đó, thì các công khanh sĩ thứ noi gương Ngài cũng thọ giới có hàng mấy vạn người. Vua còn ra lệnh dựng chùa Đồng Thái, Đại Ái Kính và nhiều chùa lớn ở các nơi, và mở rất nhiều pháp hội như “Vô Giá Đại Hội”, “Bình Đẳng Pháp Hội”, “Cứu khổ Trai Đàn”, “Đại Pháp Hội” v.v. Để thực hiện hạnh tu Bồ tát, vua đã ba lần xả thân vào chùa nhổ cỏ, quét dọn, theo việc như chư tăng, các quần thần phải bỏ tiền ra để chuộc Ngài về cung.
Vua không những chỉ chú trọng vào việc phúc thiện mà việc nghiên cứu giáo lý Phật giáo, vua cũng thấu hiểu được tới chỗ cao siêu. Đặc biệt về nghĩa lý Kinh Bát Nhã, vua hiểu rất thấu đáo, theo Lịch Đại Tam Bảo Kỷ, vua đã chú sớ bộ Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Tư Chú Kinh (50 quyển). Vua thường tự giảng Kinh Bát Nhã tại chùa Đồng Thái, nhưng đặc biệt ở niên hiệu Đại Thông năm thứ 5 (533), vua khai giảng Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật tại chùa Đồng Thái, có 698 các quan đình thần văn võ và hàng mấy vạn người đủ các hàng Tăng Ni, đạo sĩ, thứ dân, cũng đều tụ tập để nghe, và còn có cả sứ thần của nước Vu Điền, Ba Tư cũng tới tham dự. Đương thời, các bậc cao Tăng lại là thân thích của vua, như Tăng Mân, Pháp Sủng, Pháp Vân, Tuệ Siêu v.v., thường lui tới chốn cung đình để giúp vua về việc nghiên cứu Phật giáo.
Trong thời đại này, ba bậc đại Pháp sư là Trí Tạng, Pháp Vân và Tăng Mân đều là những học giả của Niết Bàn và Thành Thực. Vì thế, nên Ngài Trí Tạng đã soạn được bộ Thành Thực Luận Sớ (14 quyển), và Thành Thực Đại Nghĩa Ký v.v. Ngài Pháp Vân thì sở trường về Kinh Pháp Hoa, lại hiểu thấu đáo nghĩa luận Thành Thực, liền đem so sánh cả hai bên mà soạn thành bộ Nhị Đế Chương, Ngài Tăng Mân thì giảng luận Thành Thực hơn 50 lần, Kinh Niết Bàn 30 hồi, Kinh Đại Phẩm Bát Nhã 40 lượt. Ngoài ra, Ngài Tăng Hựu đã soạn bộ Xuất Tam Tạng Ký Tập (15 quyển), Hoằng Minh Tập (14 quyển) và Thích Ca Phổ (45 quyển). Xuất Tam Tạng Ký Tập thì ghi chép những kinh lục đã phiên dịch từ thời tối cổ, rất có giá trị cho việc nghiên cứu. Hoằng Minh Tập ghi chép và tập hợp những bài luận liên quan tới Phật giáo. Thích Ca Phổ ghi chép về gia thế của dòng họ Thích Ca, đều là những bộ sách rất quý trọng cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Tăng Sướng là đệ tử Ngài Tăng Hựu, vì ảnh hưởng sự học của thầy, nên đã trước tác những bộ Danh Tăng Truyện, Tỳ Kheo Ni Truyện (4 quyển) và Kinh Luật Dị Tướng (50 quyển). Đương thời nhà sử học Tuệ Cảo lại dựa vào các truyện đó mà soạn thành bộ Cao Tăng Truyện (14 quyển). Bộ này hiện còn, rất cần cho việc nghiên cứu Phật giáo từ thời cổ xưa nhất.
