Biên Niên Sử Phật Giáo

2021
23/10/2021

Năm 567

Năm Ðinh Hợi 567 – Thời Nam Tề (Nam Triều)
Niên hiệu Quang Ðại nguyên niên.
Hòa thượng Tư Ðại (Huệ Tư) dời về Nam Nhạc.

23/10/2021

Năm 502

Năm Nhâm Ngọ 502 – Thời Nam Tề (Nam Triều)

Niên hiệu Trung Hưng thứ 2. Họ Tiêu làm chủ Nam Tề, có bảy vua gồm 24 năm, rồi nhường ngôi cho họ Lương. Nhà Lương, đóng đô ở Kim Lăng. Cao Tổ Vũ Hoàng đế, tên Diễn họ Tiêu, nhận ngôi từ Tề. Ðổi niên hiệu Thiên Giám nguyên niên.

2020
01/01/2020

Cúng Dường Tứ Sự Cho Chư Tăng Ni Trong Mùa Dịch Covy-19

  • Cúng dường Bộ Đại Tạng Kinh Tiếng Việt (Bộ 37 Tập gồm Kinh A Hàm Và Kinh Nykaya in chung) cho các chùa, Học Viện Phật Giáo
  • Cúng dường lương thực cho các chùa trong mùa an cư 2020 ( Mùa Đại Dịch Covy-19) ở Nha Trang
  • Cúng dường Kinh-Sách cho chư Tăng Ni sinh đang học các Khóa Cử Nhân Phật Học tại Các Học Viện Phật Giáo Việt Nam: SG – Huế – HN
2019
01/01/2019

Cúng Dường Kinh-Sách Cho Chư Tăng Ni Sinh Tại Các Trường Phật Học

  • Cúng dường Bộ Đại Tạng Kinh Tiếng Việt ( Phiên bản điện tử chứa trong máy đọc sách Kindle, Kobo, Tolino) cho chư tăng ni đang theo học tại các trường Phật Học
  • Cúng dường Bộ Đại Tạng Kinh Tiếng Việt (Bộ 37 Tập gồm Kinh A Hàm Và Kinh Nykaya in chung) cho các chùa, Học Viện Phật Giáo
  • Cúng dường Kinh-Sách cho chư Ni sinh đang học các Khóa Cử Nhân Phật Học tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam – Huế. Tạm trú tại Ni Xá Chùa Hồng Đức – Huế.
2018
01/01/2018

Cúng Dường Bộ Đại Tạng Kinh Tiếng Việt (Phiên Bản Điện Tử)

  • Tích hợp chức năng “Tự Động Hiển Thị Chú Thích” (Tooltips) đối với các Thuật Ngữ Phật Học để các Phật Tử tiện tra cứu khi đọc các tài liệu Phật Học trên trang nhà Pháp Thí Hội.
  • Cúng dường Bộ Đại Tạng Kinh Tiếng Việt ( Phiên bản điện tử chứa trong máy đọc sách Kindle, Kobo, Tolino) cho chư tăng ni có sở nguyện nghiên cứu sâu về Đại Tạng để sau này trở thành Giảng Sư.
2017
01/01/2017

Tích Hợp Phần Mềm Đọc Sách KOReader Vào Máy Đọc Sách

  • Tích hợp phần mềm đọc sách KOReader vào máy đọc sách Kobo để đọc online/offline Kinh-Sách từ Webiste Pháp Thí Hội.Hỗ trợ tra cứu cùng lúc nhiều bộ Từ Điển Phật Giáo do Pháp Thí Hội số hóa.
2016
01/01/2016

Nâng Cấp Hệ Thống Website Lên Phiên Bản 3.0

  • Phát triển phiên bản 3.0 tương thích chuẩn mới HTML5.Hoạt động tốt trên di động, máy tính bảng, điện thoại thông minh
  • Thực hiện Phật Sự “Hùn Phước Cúng Dường Đại Hồng Chung cho chùa Nghĩa Hòa – TP Nha Trang – Tỉnh Khánh Hòa
2015
01/01/2015

Xây Dựng Cơ Sở Dữ Liệu Phật Giáo

  • Xây dựng cơ sở dữ liệu Phật Giáo gồm : Phật Sử (Timeline) – Lịch sử các Tông Phái – Tiểu sử Danh Tăng/Ni để hỗ trợ mục đích tra cứu cho quý Phật Tử.
  • Cúng dường Kinh-Sách cho chư tăng ni (hàng quý ) đang theo học các lớp Phật Học.
01/01/2015

Năm 2015 (Ất Mùi – PL.2559)

Năm 2015 (Ất Mùi – PL.2559)

– Vào lúc 15 giờ 15 phút ngày 03 tháng 1 (nhằm ngày 13 – 11 – Giáp Ngọ), Hòa thượng Thiện Trinh (1921-2015) thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì Tổ đình Phú Thạnh (An Giang), viên tịch, thọ 94 tuổi, 72 hạ lạp. Lễ nhập kim quan cố Hòa thượng được cử hành lúc 9 giờ 00 ngày 04/1/2015. Đến 13 giờ 00 ngày 09/1/2015, Lễ tưởng niệm và cung tống kim quan cố Hòa thượng nhập bảo tháp tại khuôn viên Tổ đình Phú Thạnh thuộc phường Vĩnh Mỹ, Tp. Châu Đốc, tỉnh An Giang.

– Vào lúc 8 giờ 20 phút ngày 12 tháng 1 (nhằm ngày 22 – 11 – Giáp Ngọ), Hòa thượng Nhật Bổn – Thiện Bình (1950-2015) thế danh Trương Văn Y, pháp danh Nhật Bổn, hiệu Thiện Bình, sinh tại Bình Thạnh Đông, Châu Đốc, An Giang, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Bửu Liên (quận Bình Thạnh, Tp. HCM), viên tịch, thọ 65 tuổi, 45 hạ lạp. Lễ nhập kim quan cố Hòa thượng được cử hành lúc 17 giờ 00 ngày 12/1/2015. Đến 07 giờ 00 ngày 17/1/2015, Lễ tưởng niệm và cung tống kim quan cố Hòa thượng trà tỳ tại đài hỏa táng Phúc An Viên, quận 9, Tp. HCM.

– Ngày 19 tháng 1 (nhằm ngày 29 – 11 – Giáp Ngọ), Hòa thượng Nhật Thiện – Chơn Lạc (1938-2015) thế danh Nguyễn Văn Thiện, húy Nhật Thiện, hiệu Chơn Lạc, tự Liên Độ, sinh tại xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Huệ Nghiêm (TP. HCM), viên tịch, thọ 77 tuổi, 48 hạ lạp.

– Ngày 21 tháng 1 (nhằm ngày 02 – 12 – Giáp Ngọ), Lễ húy nhật lần thứ 15 Cố Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000), Tổ sư phục hưng Tông Tổ sư thiền Việt Nam, tại chùa Phật Đà, quận 3, TP. HCM, dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Hiển Tu và Hòa thượng Thích Minh Hiền cùng đông đảo chư tôn đức tăng ni.

– Ngày 27 tháng 1 (nhằm ngày 08 – 12 – Giáp Ngọ), Thiền viện Thường Chiếu (Long Thành, Đồng Nai) tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm ngày Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo cũng là ngày truyền thống tông môn Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử,  dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Thanh Từ, Tông chủ Thiền phái Trúc Lâm.

– Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 27 tháng 1 (nhằm ngày 08 – 12 – Giáp Ngọ), Hòa thượng Nhựt Lai – Thiện Tánh (1925-2015) thế danh Nguyễn

Trường Chính, húy Nhựt Lai, tự Thiện Tánh, hiệu Huệ Viên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, Viện chủ Viện Chuyên Tu (Tân Thành, Bà Rịa – Vũng Tàu), viên tịch, thọ 91 tuổi, 50 hạ lạp. Lễ nhập kim quan cố Hòa thượng cử hành trang nghiêm lúc 08 giờ 00 ngày 28/1/2015. Đến 08 giờ sáng ngày 31/1/2015, Lễ cung tống kim quan cố Hòa thượng nhập bảo tháp Tịch Quang tại Viện Chuyên Tu 2, ấp Bình Lâm, xã Lộc An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

– Ngày 12 tháng 3 (nhằm ngày 22 – 1 – Ất Mùi), Đại lễ khánh thành Tổ đình Tường Vân (tại phường Thủy Xuân, TP. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế) và Lễ giỗ Trưởng lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết (1890-1973), Đệ nhất Tăng thống GHPGVNTN. Buổi lễ với sự chứng minh của Trưởng lão Hòa thượng Thích Đức Phương, Phó Pháp chủ GHPGVN.

– Ngày 15 tháng 3 (nhằm ngày 25 – 1 – Ất Mùi), Gia đình nhà Thư pháp Tuệ Chiếu và Phật tử Thái Tâm phát tâm cúng dường quyển “kinh Kim Cang giảng giải của Hòa thượng Thích Thanh Từ” viết bằng thư pháp, đến Thiền viện Trúc Lâm Trí Đức, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Nhật Quang. Tác phẩm này có đến 250 trang, dài 1,3m, ngang 1,1m, dày 30 cm và nặng 200 kg, phải mất 9 tháng để nhà thư pháp Tuệ Chiếu hoàn thành tác phẩm này.

– Ngày 15 tháng 3 (nhằm ngày 25 – 1 – Ất Mùi), Lễ khai pháp đầu năm tại Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng (TP. Thanh Hóa) cho chư Tăng Ni trong tông môn và hơn 1.000 Phật tử về tham dự.

– Sáng ngày 19 tháng 3 (nhằm ngày 29 – 1 – Ất Mùi), tại Tổ đình Long Thiền thuộc phường Bửu Hòa, Tp. Biên Hòa, BTS GHPGVN tỉnh Đồng Nai hiệp cùng chư Tăng Ni và Phật tử thuộc Môn phong Tổ đình Long Thiền và chùa Thanh Long long trọng tổ chức Lễ đại tường cố Hòa thượng Nhật Cao – Huệ Hiền (1955-2013), nguyên Ủy viên HĐTS GHPGVN, trụ trì Tổ đình Long Thiền và chùa Thanh Long (Biên Hòa, Đồng Nai). Quang lâm chứng minh và tham dự có chư tôn giáo phẩm HĐTS GHPGVN, BTS GHPGVN tỉnh Đồng Nai và các tỉnh thành lân cận, lãnh đạo chính quyền địa phương, quí quan khách và đông đảo Phật tử.

– Ngày 04 tháng 4 (nhằm ngày 16 – 2 – Ất Mùi), Lễ đặt đá xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Yên Thành tại núi Phượng, xã Xuân Thành, huyện

Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Buổi lễ dưới sự đại diện chứng minh của HĐTS GHPGVN, BTS GHPGVN tỉnh Nghệ An, Ban Quản Trị Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và UBND huyện Yên Thành,…đầu tiên khởi công hạng mục tượng Đại Phật An Quốc tại núi Phượng.

– Ngày 19 tháng 4 (nhằm ngày 01 – 3 – Ất Mùi), tại Thiền viện Trúc Lâm Sùng Phúc (Hà Nội), Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, cùng Quỹ hỗ trợ bảo tồn di sản Văn hóa Việt Nam đã tổ chức Lễ cung rước an vị Tôn tượng Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông và tưởng niệm lần thứ 685 ngày viên tịch của Đệ nhị Tổ Trúc Lâm – Tổ sư Pháp Loa (1284-1330).

– Ngày 10 tháng 5 (nhằm ngày 22 – 3 – Ất Mùi), Lễ khởi công xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Đại Giác và chú nguyện đúc Đại hồng chung tại Tổ 6, thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Buổi lễ có sự chứng minh của Chư tôn đức HĐTS GHPGVN, Hòa thượng Thích Liên Hải, Hội trưởng Hiệp hội Phật giáo Quốc tế Đài Loan, Chư tôn đức Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, BTS GHPGVN các tỉnh, thành và gần 10.000 Phật tử về tham dự (Giác Ngộ Online – Mobile).

– Ngày 10 tháng 5 (nhằm ngày 22 – 3 – Ất Mùi), Lễ bế mạc khóa IV và Khai giảng khóa V Lớp Học Thiền Căn Bản tại chùa Phật Đà ở số 362/46, đường Nguyễn Đình Chiểu, phường 4, quận 3, Tp. HCM, do Hòa thượng Minh Hiền Chủ nhiệm lớp học tổ chức. Khóa V này có khoảng 100 học viên đăng ký tham học.

– Ngày 20 tháng 5, tại Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên (Vĩnh Phúc), Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Hội Kiến trúc sư Việt Nam và GHPGVN tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức Hội thảo khoa học và Dự án xây dựng Đại Tượng Phật “Quốc Thái Dân An Phật Đài”. Tham dự hội thảo có, Thượng tọa Thích Thanh Điện, Chánh văn ph ng I TW. GHPGVN, Hòa thượng Thích Tấn Đạt, Phó văn ph ng II TW. GHPGVN, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Tuấn, Viện trưởng Viện nghiên cứu Tôn giáo, GS. TS Kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính, Phó chủ tịch Hội kiến trúc sư Việt Nam, Đại đức Thích Kiến Nguyệt trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, chủ trì buổi hội thảo, cùng đông đảo Tăng Ni các Thiền viện Trúc Lâm, các tỉnh, thành và Phật tử (www.phattuvietnam.net).

– Ngày 28 tháng 8 (nhằm ngày 15 – 7 – Ất Mùi), Ni trưởng Nhựt Định – Huyền Huệ (1924-2015), thế danh Huỳnh Thị Chín, pháp danh Nhựt Định, tự Như Huệ, hiệu Huyền Huệ, sinh tại xã Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, Trưởng Phân ban Ni giới TW. GHPGVN, Viện chủ Tổ đình Hải Ấn (Tp. HCM), viên tịch, thọ 92 tuổi, 72 hạ lạp. Những tác phẩm dịch thuật của Ni trưởng : Duy Thức Chương, Bát Thức Quy Củ Tụng Trang Chú, Luật Tứ Phần, San Thọ Chư Giới Đàn Ni, Tỳ-kheo Ni Giới Bổn, Duy Thức Tam Thập Tụng, Thành Duy Thức Luận, Kinh Nhật Tụng, Nghi Thức An Cư, Kinh Bách Dụ,… (Hoa Đàm, số 25)

– Vào lúc 23 giờ 00 ngày 02 tháng 9 (nhằm ngày 20 – 7 – Ất Mùi), Hòa thượng Nguyên Trang – Giải Nghiêm (1945-2015) thế danh Lương Văn Thể, pháp danh Nguyên Trang, tự Giải Nghiêm, hiệu Viên Tịnh, sinh tại làng Đông Hải, nay thuộc phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, Tp. Đà Nẵng, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, trụ trì Tổ đình Tịnh Độ (Quảng Nam), viên tịch, thọ 71 tuổi, 46 hạ lạp.

– Ngày 25 tháng 9 (nhằm ngày 13 – 8 – Ất Mùi), Lễ khai mạc Khóa tu Bồ Tát Hạnh Lần II tại Thiền viện Trúc Lâm Sùng Phúc ở Hà Nội, khóa tu trong 3 ngày (từ 25 – 27/9/2015; nhằm ngày 13 – 15/8/Ất Mùi). Đến chứng minh và tham dự có Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm Phó chủ tịch HĐTS TW. GHPGVN, Đại đức Tâm Thuần, Thượng tọa Thông Quán cùng chư tôn đức Tăng Thiền viện Trúc Lâm Sùng Phúc và gần 300 thiền sinh tham dự.

– Ngày 14 tháng 10 (nhằm ngày 02 – 9 – Ất Mùi), Lễ khai mở Khóa tu Thiền ba tháng vào mùa Đông (từ ngày 14/10/2015 – 11/1/2016, nhằm ngày 02/9/Ất Mùi – 02/12/Ất Mùi) tại Thiền đường Liễu Quán 1, ấp Phước Thành, xã Tân Hòa, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, do Tông phong Tổ Sư Thiền tổ chức.

– Ngày 25 tháng 10 (nhằm ngày 13 – 9 – Ất Mùi), Hòa thượng Thông Quả (1939-2015) thuộc Thiền phái Trúc Lâm, Tổ khai sơn Tu viện Phước Hoa (Đồng Nai), viên tịch, thọ 76 tuổi, 32 hạ lạp. Vào lúc 10 giờ 00 ngày  26/10/2015, Lễ nhập kim quan cố Hòa thượng được cử hành trang nghiêm. Đến 9 giờ 00 ngày 31/10/2015, Lễ truy niệm và cung tống kim quan cố Hòa thượng nhập bảo tháp tại khuôn viên Tu viện Phước Hoa thuộc huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

– Sáng ngày 22 tháng 11 (nhằm ngày 11 – 10 – Ất Mùi), Lễ khánh thành Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác tại ấp 1, xã Thạnh Tân, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Buổi lễ có sự chứng minh và tham dự : Hòa thượng Thích Minh Thiện – Ủy viên HĐTS T.Ư GHPGVN; Hòa thượng Thích Nhật Quang Ủy viên HĐTS – Trưởng ban Quản trị  Thiền phái Trúc Lâm cùng chư tôn đức giáo phẩm T.Ư Giáo hội, chư  tôn đức BTS các huyện, thị xã, Tp. Tiền Giang; chư tôn đức Tăng Ni thuộc các Thiền viện trực thuộc Thiền phái Trúc Lâm và đại diện lãnh đạo Chính quyền T.Ư Nhà nước, quý vị lãnh  đạo tỉnh, Tp. Tiền Giang và hàng vạn đồng bào Phật tử. Trước đó, lúc 09 giờ 00 sáng ngày 20/11/2015, Hòa thượng Thích Thanh Từ, Tông chủ Thiền phái Trúc Lâm đã chấn tích  quang lâm Thiền viện để chứng minh. Sau đó, diễn ra Lễ an vị Tổ; đến 14 giờ 30 phút ngày 21/11/2015, Lễ truyền giới Bồ tát tại gia, 17 giờ 00 chú nguyện xây dựng tháp Đại Giác, 20 giờ 30 phút : Thuyết pháp (www.thuongchieu.net).

– Sáng ngày 23 tháng 11 (nhằm ngày 12 – 10 – Ất Mùi), Lễ khánh thành Từ đường Trúc Lâm tại ấp Tích Khánh, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, có sự quang lâm chứng minh của Hòa thượng Thích Thanh Từ, Tông chủ Thiền phái Trúc Lâm. Buổi lễ hành chánh với sự chứng minh và tham dự của : Hòa thượng Thích Quang Đạo – Ủy viên HĐTS T.Ư GHPGVN, Hòa thượng Thích Nhật Quang Ủy viên HĐTS – Trưởng ban Quản trị Thiền phái Trúc Lâm cùng chư tôn đức BTS GHPGVN tỉnh Vĩnh Long; chư tôn đức Tăng Ni thuộc các Thiền viện trực thuộc Thiền phái Trúc Lâm; đại diện lãnh đạo Chính quyền có Đại tướng Phạm Văn Trà, ông Bùi Hữu Dược,…quý vị lãnh  đạo tỉnh Vĩnh Long, quí quan khách và khoảng 5000 Phật tử về dự lễ (giacngo.vn).

– Vào lúc 17 giờ 55 phút ngày 03 tháng 12 (nhằm ngày 22 – 10 – Ất Mùi), Ni trưởng Thích Đàm Ánh (1925-2015) thế danh Đào Thị Sàng, hiệu Đức Huy, sinh tại phố Tiền Môn, thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, thuộc dòng Tào Động, Viện chủ Tổ đình Phụng Thánh (Tp. Hà Nội), viên tịch, thọ 90 tuổi, 70 giới lạp. Lễ nhập kim quan cố Ni trưởng diễn ra lúc 09 giờ 00 ngày 05/12/2015. Đến 08 giờ 30 phút ngày 07/12/2015, Lễ truy niệm và cung tống kim quan cố Ni trưởng trà tỳ, và đến 15 giờ 00 cùng ngày, lễ cung nghinh Xá-lợi nhập bảo tháp tại khuôn viên Tổ đình Phụng Thánh, ngõ Cống Trắng, phường Trung Phụng, quận Đống Đa, Tp. Hà Nội.

– Sáng ngày 06 tháng 12 (nhằm ngày 25 – 10 – Ất Mùi), Lễ cung thỉnh nhục thân cố trưởng lão Hòa thượng Thiện Hòa – Minh Luân (1903-2003) nhập bảo tháp tại Tổ đình Đống Cao (chùa Sếu), xã Tân Hưng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương và lễ tưởng niệm sau 12 vắng bóng của ngài. Buổi lễ với sự chứng minh của chư tôn giáo phẩm HĐCM TƯ. GHPGVN,  chư tôn đức HĐTS GHPGVN cùng đông đảo môn đồ, pháp quyến của cố Hòa thượng và bà con, quan khách, quý Phật tử gần xa về tham dự.

– Sáng ngày 14 tháng 12, Hội thảo khoa học “Thiền phái Tào Động Việt Nam và quần thể di tích Nhẫm Dương : Giá trị lịch sử, văn hóa và Phật giáo” diễn ra tại chùa Nhẫm Dương ở xã Duy Tân, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Hội thảo này được sự đồng thuận tổ chức của Viện nghiên cứu Tôn giáo thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp Ban Văn hóa T.Ư GHPGVN, GHPGVN tỉnh Hải Dương và Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương, Sơn môn Tào Động Việt Nam và UBND huyện Kinh Môn.

Quang lâm chứng minh hội thảo có Hòa thượng Thích Thanh Đàm UVTT HĐCM GHPGVN cùng chư tôn đức giáo phẩm HĐTS

GHPGVN, chư tôn đức trong BTS tỉnh Hải Dương và các tỉnh thành lân cận cùng đông đảo giáo sư, tiến sĩ, các nhà khoa học, Phật tử trong và ngoài tỉnh về tham dự. Về phía chính quyền có ông Dương Ngọc Tấn, Phó Ban Tôn giáo Chính phủ cùng quí vị đại diện các cơ quan ban ngành T.Ư và tỉnh Hải Dương đến tham dự (Giác Ngộ Online).

– Sáng ngày 30 tháng 12 (nhằm ngày 20 – 11 – Ất Mùi), Lễ khởi công xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Cà Mau tại khóm 4, phường Tân Xuyên, Tp. Cà Mau. Buổi lễ với sự chứng minh tham dự của chư tôn đức Tăng Ni trong tỉnh và các tỉnh thành lân cận. Thiền viện sẽ xây dựng trên diện tích 9 ha, với 10 hạng mục như : nhà tổ, chính điện, lầu chuông, lầu trống, cổng tam quan, 2 nhà chờ,…Đơn vị thi công là Công ty xây dựng Xuân Trường. Đại tướng Phạm Văn Trà cùng chư tôn đức vận động xây dựng công trình này.

01/01/2015

Năm 2016 (Bính Thân – PL.2560)

Năm 2016 (Bính Thân – PL.2560)

– Sáng ngày 31 tháng 1 (nhằm ngày 22 – 12 – Ất Mùi), Lễ khánh thành Thiền viện Trúc Lâm Trà Vinh tại ấp Khoán Tiều, xã Trường Long H a, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Quang lâm chứng minh và tham dự buổi lễ có : Hòa thượng Thích Thiện Nhơn, Chủ tịch HĐTS GHPGVN… cùng chư tôn đức tăng ni đại diện BTS, chư tôn đức tăng ni trụ trì các tự viện trong và ngoài tỉnh; chư tôn đức tăng ni thuộc các thiền viện trực thuộc Thiền phái Trúc Lâm trong cả nước và hàng ngàn Phật tử. Về phía chính quyền có sự tham dự của ông Nguyễn Thiện Nhân, Chủ tịch UBTƯ MTTQVN, Đại tướng Phạm Quang Trà,… cùng các ông bà đại diện các sở ban ngành TƯ và địa phương về tham dự (Giác Ngộ Online).

– Vào lúc 04 giờ 15 phút ngày 09 tháng 2 (nhằm ngày 02 – 1 – Bính Thân), Ni trưởng Quả Đức – Diệu Tín (1918-2016) thế danh Nguyễn Thị Thêm, húy Quả Đức, pháp danh Diệu Tín, hiệu An Tịnh, sinh tại xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 45, Viện chủ Tổ đình Quan Âm (Cà Mau), viên tịch, thọ 98 tuổi, 78 hạ lạp.

– Vào lúc 18 giờ 45 phút ngày 11 tháng 2 (nhằm ngày 04 – 1 – Bính Thân), Hòa thượng Như Thể – Giải Trọng (1946-2016), thế danh Đinh Quý, húy Như Thể, tự Giải Trọng, hiệu Chủng Từ, sinh tại làng Ngọc Tứ, xã Thanh Phong, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, thuộc Thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, Giám sự Tổ đình Long Tuyền (Hội An, Quảng Nam), viên tịch, thọ 71 tuổi, 45 hạ lạp. Lễ nhập kim quan cố Hòa thượng chính thức cử hành lúc 11 giờ ngày 12/2/2016. Đến 08 giờ ngày 18/2/2016, Lễ tưởng niệm và cung tiễn kim quan cố Hòa thượng nhập bảo tháp tại khuôn viên tổ đình Long Tuyền thuộc phường Thanh Hà, Tp. Hội An, tỉnh Quảng Nam.

– Vào lúc 0 giờ 45 phút ngày 16 tháng 2 (nhằm ngày 09 – 1 – Bính Thân), Thượng tọa Thích Thông Trí (1956-2016), thế danh Nguyễn Phước Tiến, sinh tại xã Quế Lộc, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì chùa Phước Long (Điện Bàn, Quảng Nam), viên tịch, thọ 61 tuổi, 25 hạ lạp. Lễ nhập kim quan cố Thượng tọa chính thức cử hành lúc 17 giờ ngày 16/2/2016. Đến 08 giờ sáng ngày 19/2/2016, Lễ tưởng niệm và cung tiễn kim quan trà tỳ tại đài hỏa táng Đà Nẵng.

– Ngày 19 tháng 2 (nhằm ngày 12 – 1 – Bính Thân), Hòa thượng Thích Huệ Chơn (1921-2016), thuộc Thiền phái Trúc Lâm, Viện chủ Thiền viện Bửu Minh (Cần Giuộc, Long An), viên tịch, thọ 95 tuổi, 59 hạ lạp. Vào lúc 13 giờ ngày 21/2/2016, Lễ di quan cố Hòa thượng đến trà tỳ tại đài hỏa táng xã Đa Phước, huyện Bình Chánh, Tp. HCM.

– Sáng ngày 16 tháng 3 (nhằm ngày 08 – 2 – Bính Thân), Hòa thượng Thích Không Trú (1953-2016) sinh tại làng Đại Hào, xã Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 44, trụ trì chùa Viên Giác (Lâm Đồng), viên tịch, thọ 64 tuổi. Vào lúc 18 giờ 00 chiều ngày 16/3/2016, Lễ nhập kim quan Cố Hòa thượng chính thức cử hành trang nghiêm. Đến ngày 22/3/2016, Lễ truy điệu và cung tống kim quan Cố Hòa thượng nhập bảo tháp tại chùa Viên Giác thuộc xã Xuân Trường, Tp. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

– Sáng ngày 22 tháng 3 (nhằm ngày 14 – 2 – Bính Thân), Lễ an vị tôn tượng Đức Phật Bổn sư Thích Ca tại Thiền viện Trúc Lâm Yên Thành (Nghệ An), do Ban quản trị Thiền viện cùng với đền – chùa Gám tổ chức. Tượng cao 3,5m, nặng 13 tấn, được làm bằng đá trắng nguyên khối do các nghệ nhân đến từ Đà Nẵng chế tác.

– Sáng ngày 23 tháng 3 (nhằm ngày 15 – 2 – Bính Thân), nhân ngày Lễ tưởng niệm Đức Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni nhập Niết-bàn, tại Thiền viện Trúc Lâm Phụng Hoàng – Đà Lạt tổ chức khóa tu 3 ngày từ ngày 15/2 – 17/2/Bính Thân. Khóa tu do Thượng tọa Thông Phương trụ trì Thiền viện hướng dẫn. Theo chương trình của khóa tu có các thời khóa như : tụng kinh sám hối ba nghiệp, nhiễu tháp, tọa thiền.

– Ngày 11 tháng 4 (nhằm ngày 05 – 3 – Bính Thân), Tổ đình Thánh Quang (Nhẫm Dương) xã Duy Tân, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương long trọng tổ chức Đại lễ kỷ niệm 312 năm ngày Thánh tổ Quốc sư Thông Giác – Thủy Nguyệt (1636-1704) – Đệ nhất Tổ sư Thiền phái Tào Động Việt Nam nhập Niết-bàn (ngày 06/3/âm lịch, 1704 – 2016). Chứng minh và tham dự đại lễ có Hòa thượng Quảng Tùng – Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN, Thượng tọa Thọ Lạc – Ủy viên thường trực HĐTS GHPGVN, Trưởng Sơn môn Tào Động Việt Nam, ông Nguyễn Quốc Tuấn – Viện trưởng viện Nghiên cứu Tôn giáo TƯ,…cùng đông đảo chư tôn đức Tăng Ni trong và ngoài tỉnh Hải Dương và đại diện lãnh đạo huyện Kinh Môn, lãnh đạo xã Duy Tân cùng hàng nghìn bà con Phật tử (www.phattuvietnam.net).

– Vào lúc 10 giờ 40 phút ngày 28 tháng 4 (nhằm ngày 22 – 3 – Bính Thân), Hòa thượng Chơn Huệ – Chánh Trí (1918-2016) họ Nguyễn, húy Văn Phùng, pháp danh Chơn Huệ, tự Chánh Trí, hiệu Bích Viên, nguyên quán thôn Trung Kiên, tổng Bích La, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 40, Trưởng môn phái Tổ đình Hải Đức (Huế), viên tịch, thọ 99 tuổi, 72 hạ lạp. Lễ nhập kim quan cố Hòa thượng trang nghiêm diễn ra sáng ngày 29/4/2016. Đến sáng ngày 04/5/2016, Lễ truy niệm và thỉnh kim quan cố Hòa thượng nhập bảo tháp trong khuôn viên chùa Hải Đức tại số 182, đường Phan Bội Châu, phường Trường An, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

– Vào lúc 00 giờ 55 phút ngày 01 tháng 5 (nhằm ngày 25 – 3 – Bính Thân), Hòa thượng Trí Biện – Quảng Bửu (1944-2016) thế danh Nguyễn Bá Cừu, pháp danh Quảng Bửu, tự Trí Biện, hiệu Minh Trí, nguyên quán thôn Tân Mỹ, xã Phước H a, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 44, trụ trì Tu viện Nguyên Thiều (Bình Định), viên tịch, thọ 73 tuổi, 44 hạ lạp. Lễ nhập kim quan cố Hòa thượng diễn ra lúc 15 giờ ngày 01/5/2016. Đến 08 giờ 30 phút ngày 04/5/2016, Lễ nhập bảo tháp cố Hòa thượng trong khuôn viên Tu viện Nguyên Thiều thuộc thôn Đại Lễ, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định (Giác Ngộ Online).

– Sáng ngày 08 tháng 5 (nhằm ngày 02 – 4 – Bính Thân), Lễ tổng kết lớp Thiền Căn Bản khóa 5 và khai giảng khóa 6 tại chùa Phật Đà (quận 3, Tp. HCM). Lớp học thiền này do Hòa thượng Minh Hiền đảm trách giảng dạy (học vào ngày Chủ nhật hàng tuần).

– Vào lúc 07 giờ 00  ngày 01 tháng 6 (nhằm ngày 26 – 4 – Bính Thân), Hòa thượng Minh Đạo – Thiện Thanh (1941-2016) thế danh Nguyễn Văn Ba, húy Thiện Thanh, hiệu Minh Đạo, sinh tại xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Vạn Linh (Đức Hòa, Long An), viên tịch, thọ 78 tuổi, 51 hạ lạp. Lễ nhập kim quan cố Hòa thượng được cử hành trang nghiêm lúc 13 giờ 00 ngày 01/6/2016, tại chùa Vạn Linh. Sau đó, cung thỉnh kim quan về quàn tại chùa Thiên Châu, Văn ph ng BTS GHPGVN tỉnh Long An ở số 101, đường Huỳnh Văn Nhứt, phường 3, Tp. Tân An, tỉnh Long An. Đến 07 giờ 30 phút ngày 05/6/2016, Lễ truy niệm và cung tống kim quan cố Hòa thượng về nhập bảo tháp trong khuôn viên chùa Vạn Linh thuộc xã Lộc Giang, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

– Ngày 17 tháng 6 (nhằm ngày 13 – 5 – Bính Thân), tại Thiền viện Trúc Lâm Sùng Phúc (phường Cự Khối, quận Long Biên, Tp. Hà Nội), thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 300 năm ngày viên tịch của Thiền sư Minh Châu Hương Hải (1628-1715), vị đã có công khôi phục Thiền phái Trúc Lâm thời Hậu Lê. Sau lễ giỗ đã có cuộc tọa đàm về công hạnh của Thiền sư, với sự chứng minh và tham dự của chư tôn đức HĐTS GHPGVN cùng 100 Tăng Ni và trên 1.000 Phật tử của Thiền phái Trúc Lâm.

– Ngày 19 tháng 6 (nhằm ngày 15 – 5 – Bính Thân), Thiền tự Trúc Lâm Viên Giác thuộc thôn Võ Cạnh, xã Vĩnh Trung, Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa long trọng tổ chức Lễ an vị tôn tượng Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni và Tam Tổ Trúc Lâm tại Đại hùng bảo điện của Thiền tự này. Buổi lễ với sự chứng minh và tham dự của chư tôn đức Tăng Ni trong và ngoài tỉnh; cùng lãnh đạo chính quyền và hơn 700 thiền sinh thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ở 3 tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa và đông đảo Phật tử.

2014
01/01/2014

Ấn Tống Kinh-Sách Cúng Dường Cho Các Chùa Ở Vùng Xa

  • Thực hiện Chương Trình Ấn Tống Kinh-Sách cúng dường cho các chùa khó khăn ở vùng sâu vùng xa.
  • Lễ tác bạch và cung thỉnh Viện Chủ Nghĩa Hoà Tự chứng minh Phật sự Ấn Tống Kinh-Sách để cúng dường cho các đạo tràng/chùa có điều kiện khó khăn ở Việt Nam
  • Biên tập bộ Chú Thích Danh Từ Phật Học.Xây dựng chức năng tra cứu Từ Điển – Hiển thị ngẫu nhiên Danh Từ Phật Học trên website Pháp Thí Hội.
  • Biên tập phiên bản số hoá các bộ Từ Điển Phật Học.
  • Tích hợp Lịch Ăn Chay(tính theo dương lịch) vào lịch cá nhân chạy trên Smartphone, PC, Máy Tính Bảng.
  • Xây dựng Tủ Truyện Tranh Phật Giáo để làm phương tiện học phật cho các em nhỏ. Có thể trên máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng, máy đọc sách, smartphone.
01/01/2014

Năm 2013 (Quý Tỵ – PL.2557)

Năm 2013 (Quý Tỵ – PL.2557)

– Ngày 02 tháng 1 (nhằm ngày 21 – 11 – Nhâm Thìn), Trưởng lão Hòa thượng Thông Lạc (1928-2013), thế danh Lê Ngọc An, pháp danh Thông Lạc, sinh tại 18 Thôn Vườn Trần, xã Tân Thới Nhì, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định, thuộc Thiền phái Trúc Lâm, viện chủ Tu viện Chơn Như (Trảng Bàng, Tây Ninh), viên tịch, thọ 86 tuổi.

– Ngày 17 tháng 1, Lễ khánh thành Thiền viện Trúc Lâm Chân Pháp tại xã Phú Vinh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Buổi lễ dưới sự chứng minh của Ban quản trị Thiền phái Trúc Lâm, BTS GHPGVN tỉnh Đồng Nai, lãnh đạo tỉnh Đồng Nai và các ban ngành đoàn thể huyện Định Quán cùng với hơn 3.000 Phật tử, quan khách về tham dự.

– Ngày 18 tháng 1 (nhằm ngày 07 – 12 – Nhâm Thìn) Hòa thượng Thích Đắc Pháp (1938-2013), thế danh Thái Hồng Điệp, sinh tại xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, Cố vấn Ban Quản trị Thiền phái Trúc Lâm, trụ trì Thiền viện Sơn Thắng (Vĩnh Long), viên tịch, thọ 76 tuổi. Vào lúc 11 giờ sáng ngày 08/12/Nhâm Thìn, Lễ nhập kim quan cố Hòa thượng tại Thiền viện Sơn Thắng. Đến 8 giờ sáng ngày 22/1/2013 (nhằm ngày 11 – 12 – Nhâm Thìn), Lễ truy điệu và cung tống kim quan cố Hòa thượng nhập bảo tháp diễn ra trang nghiêm, với sự chứng minh của chư Tôn đức giáo phẩm HĐTS TW. GHPGVN, BTS GHPGVN tỉnh Vĩnh Long, Ban quản trị Thiền phái Trúc Lâm cùng chư Tôn đức các tỉnh thành, Tăng Ni sinh các bản trường Phật học Vĩnh Long, tông môn pháp phái các hệ thống Thiền viện thuộc Thiền phái Trúc Lâm, đông đảo Phật tử về tiễn đưa nhục thân cố Hòa thượng nhập bảo tháp tại Thiền viện Sơn Thắng ở số 1/1, ấp Thanh Mỹ 1, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long (www.thuongchieu.net).

– Vào lúc 14 giờ 00 ngày 21 tháng Giêng năm Quí Tỵ, Hòa thượng Tâm Cần – Chơn Ngộ (1913-2013) thế danh Lương Hào, húy Nhơn, pháp danh Tâm Cần, tự Từ Thục, hiệu Chơn Ngộ, sinh tại xã Hòa Giải, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, Viện chủ Tổ đình Tịnh Độ (Quảng Nam), viên tịch, thọ 101 tuổi, 67 hạ lạp.

– Ngày 09 tháng 3 (nhằm ngày 28 – 1 – Quý Tỵ), Hòa thượng Nhật Cao – Huệ Hiền (1955-2013), thế danh Lương Trung Hiếu, húy Nhật Cao, tự Huệ Hiền, nguyên quán Thủ Đức, TP. HCM, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, trụ trì Tổ đình Long Thiền (Đồng Nai), viên tịch, thọ 60 tuổi, 40 hạ lạp.

– Vào lúc 8 giờ 00 ngày 07 tháng 4 (nhằm ngày 27 – 2 – Quý Tỵ), tại chùa Phật Đà ở số 362/46, đường Nguyễn Đình Chiểu, phường 4, quận 3, Tp. HCM, diễn ra buổi họp của Chư tôn đức trong Tông môn Tổ Sư Thiền, nhằm thảo luận về địa điểm An cư kiết hạ và vài vấn đề khác trong tông môn.

– Vào lúc 6 giờ 30 phút ngày 20 tháng 4 (nhằm ngày 11 – 3 – Quý Tỵ), Hòa thượng Quảng Phước – Thiện Nhơn (1931-2013) thế danh Hồ Thanh Tùng, húy Quảng Phước, tự Thiện Nhơn, hiệu Quán Hạnh, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 45, Viện chủ Tổ đình Thiên Đức (Bình Định), viên tịch, thọ 83 tuổi, 55 hạ lạp.

– Ngày 25 tháng 4 (nhằm ngày 16 – 3 – Quý Tỵ), Hòa thượng  Nhựt Sáu – Từ Nhơn (1926-2013) thế danh Nguyễn Văn Sáu, húy Nhựt Sáu, hiệu Từ Nhơn, sinh tại Sa Đéc, Đồng Tháp, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì Việt Nam Quốc Tự (TP. HCM), Phó chủ tịch Thường trực HĐTS GHPGVN, viên tịch, thọ 88 tuổi, 68 hạ lạp. Sinh tiền, Hòa thượng được Nhà nước tặng : Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương vì Sự nghiệp Đại đoàn kết toàn Dân tộc (Giác Ngộ – Online – Mobile).

– Ngày 29 tháng 4 (nhằm ngày 20 – 3 – Quý Tỵ), tại Thiền viện Quảng Đức (Tp.HCM) Lễ tưởng niệm và cung tiễn kim quan Đại lão Hòa thượng Thích Từ Nhơn (1926-2013) – Phó chủ tịch Thường trực HĐTS GHPGVN – trà tỳ đã diễn ra trang nghiêm và long trọng với sự tham dự của chư Tôn đức giáo phẩm HĐCM, HĐTS, lãnh đạo các ban, ngành, viện, BTS GHPGVN các tỉnh thành cùng đông đảo Tăng Ni, Phật tử (www.phattuvietnam.net).

– Ngày 16 tháng 5, Lễ lạc thành và an vị Phật tại Thiền viện Phúc Trường ở số 20/22, đường Phan Đăng Lưu, ấp 3, xã Tân An, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Buổi lễ dưới sự chứng minh của Ban quản trị Thiền phái Trúc Lâm, BTS GHPGVN Tp. Thủ Dầu Một cùng chư tôn đức Tăng Ni và đại diện lãnh đạo ban ngành của địa phương và khoảng 500 Phật tử về tham dự.

– Ngày 16 tháng 7, Lễ khởi công xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam trên một diện tích 38.016 m2, tại ấp Mỹ Nhơn, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ.

– Ngày 28 tháng 7 (nhằm ngày 28 – 7 – Quý Tỵ), Thiền viện Sùng Phúc (Long Biên, Hà Nội) tổ chức khóa tu một ngày cho Thanh Thiếu niên Phật tử Trần Thái Tông, có hơn 500 bạn trẻ về tu tập.

– Ngày 23, 24 tháng 7 năm Quý Tỵ, Lễ kỷ niệm chu niên ngày thành lập Thiền đường Liễu Quán 1 tại ấp Phước Thành, xã Tân Hòa, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Vào lúc 6 giờ 50 phút, ngày 02 tháng 8 (nhằm ngày 26 – 6 – Quý Tỵ), Hòa thượng Nhựt Viên – Phổ Chiếu (1937-2013) thế danh Đoàn Văn Ngàn, húy Phổ Chiếu, tự Nhựt Viên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, Trưởng tông môn Tổ đình Linh Nguyên – Phước Tường; Viện chủ chùa Đại Hạnh (quận 3, Tp. HCM), viên tịch, thọ 76 tuổi, 56 hạ lạp. Lễ nhập kim quan cố Hòa thượng được cử hành vào lúc 14 giờ 00 ngày 02/8/2013, tại chùa Đại Hạnh. Đến 6 giờ 00 ngày 06/8/2013, Lễ truy niệm và cung tống kim quan cố Hòa thượng nhập bảo tháp tại Tổ đình Phước Tường ở số 16, đường Lã Xuân Oai, phường Tăng Nhơn Phú A, quận 9, Tp. HCM (Giác Ngộ Online).

– Vào lúc 14 giờ 45 phút, ngày 30 tháng 8 (nhằm ngày 24 – 7 – Quý Tỵ), Hòa thượng Thiện Trí – Nhật Quang (1940-2013), thế danh Trần Văn Trừ, húy Nhật Quang, tự Thiện Trí, hiệu Minh Quang, sinh tại làng Long Bình, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Ấn Quang (Tp.HCM), viên tịch, thọ 74 tuổi, 50 hạ lạp (www.phattuvietnam.net).

– Vào lúc 22 giờ ngày 30 tháng 8 (nhằm ngày 24 – 7 – Quý Tỵ), Lễ nhập kim quan cố Hòa thượng Thiện Trí – Nhật Quang (1940-2013) được cử hành trang nghiêm tại chùa Ấn Quang ở số 243, đường Sư Vạn Hạnh, phường 9, quận 10, Tp. HCM. Lễ nhập kim quan diễn ra dưới sự chứng minh của chư Tôn đức HĐCM, HĐTS TW GHPGVN, BTS GHPGVN Tp.HCM, chư tôn đức Tăng Ni cùng đông đảo Phật tử về tham dự. Đến sáng 6 giờ ngày 03/9/2013, Lễ di quan cố Hòa thượng và quàn tại Tổ đình Hội Sơn. Vào lúc 8 giờ ngày 04/9/2013 (nhằm ngày 29/7/Quý Tỵ), lễ truy niệm và cung tống kim quan cố Hòa thượng nhập bảo tháp tại Tổ đình Hội Sơn thuộc phường Long Bình, quận 9, Tp.HCM (giacngo.vn)

– Ngày 08 tháng 9 (nhằm ngày 04 – 8 – Quý Tỵ), Lễ bổ nhiệm trụ trì, đặt đá xây dựng và đúc đại hồng chung Thiền viện Trúc Lâm Hồng Lĩnh thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tỉnh. Buổi lễ có sự tham dự chứng minh của chư tôn đức Giáo phẩm HĐCM, HĐTS GHPGVN, đại diện lãnh đạo chính quyền TW và tỉnh Hà Tỉnh, BTS GHPGVN tỉnh Hà Tỉnh, Ban quản trị Thiền phái Trúc Lâm cùng chư Tôn đức Tăng Ni các tỉnh thành, và đông đảo Phật tử. Đại đức Trung Tuệ được BTS Phật giáo huyện Nghi Xuân quyết định bổ nhiệm trụ trì Thiền viện. Hòa thượng Phước Tú đại diện Thiền phái trao Thiền bản và Thanh quy cho Đại đức tân Trụ trì (thienvientruclamtueduc.vn).

– Ngày 11 tháng 9 (nhằm ngày 07 – 8 – Quý Tỵ), Thiền viện Trúc Lâm Tuệ Đức tại xã Đồng Quế, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ chức Lễ giỗ Tổ sư Kim Tôn cổ tự và cắt băng khánh thành ba ngôi bảo tháp Tổ tại Thiền viện.

– Vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 13 tháng 9 (nhằm ngày 09 – 8 – Quý Tỵ), Hòa thượng Quảng Trí – Đạt Đạo (1951-2013), thế danh Huỳnh Văn Hà, pháp danh Quảng Trí, tự Pháp Không, hiệu Đạt Đạo, sinh tại xã Hạnh Thông, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 45, trụ trì chùa Bát Nhã (quận Bình Thạnh, Tp. HCM), viên tịch, thọ 63 tuổi, 41 hạ lạp. Sáng ngày 14/9/2013, Lễ nhập kim quan cố Hòa thượng tại chùa Bát Nhã diễn ra trang nghiêm. Đến sáng ngày 19/9/2013 (nhằm ngày 15/8/Quý Tỵ), Lễ truy niệm và cung tống kim quan cố Hòa thượng trà tỳ tại Đài hỏa táng Bình Hưng H a, Tp. HCM. Buổi lễ dưới sự chứng minh của chư tôn giáo phẩm HĐTS TW. GHPGVN, Học viện PGVN tại Tp. HCM, chư tôn đức tăng ni các ban, ngành, viện của Giáo hội cùng đông đảo Phật tử về tham dự (Giác Ngộ Online).

– Ngày 15 tháng 8 năm Quý Tỵ, Hòa thượng Tâm Nhẫn – Chí Tín (1922-2013) họ Lê, húy Văn Dụ, pháp danh Tâm Nhẫn, tự Hành Từ, hiệu Chí Tín, sinh tại làng Trâm Bái, thôn Dương Xuân Thượng, xã Xuân Thủy, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Sắc tứ Long Sơn (Khánh Hòa), viên tịch, thọ 92 tuổi, 67 hạ lạp.

– Ngày 20 tháng 10 (nhằm ngày 16 – 9 – Quý Tỵ), Lễ an vị Phật tại Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác tại ấp 1, xã Thạnh Tân, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Thanh Từ (1924-?) và Ban Quản Trị Thiền phái Trúc Lâm.

– Ngày 01 tháng 12 (nhằm ngày 29 – 10 – Quý Tỵ), chư tăng ni và Phật tử Tổ đình Thiền viện Thường Chiếu (Long Thành, Đồng Nai) cứu trợ đồng bào bị thiên tai lũ lụt tại các tỉnh miền Trung, lần thứ nhất tổng chi phí 1.041.000.000 VND. Lần thứ hai, cứu trợ tại tỉnh Quảng Nam, huyện Điện Bàn, với tổng chi phí 620.000.000 VND.

– Ngày 02 tháng 12 (nhằm ngày 30 – 10 – Quý Tỵ), Lễ an vị Tôn tượng Sơ Tổ Trúc Lâm và Cúng tiên thường tại Thiền viện Thường Chiếu (Long Thành, Đồng Nai), dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Thanh Từ (1924-?).

– Ngày 02 tháng 12 (nhằm ngày 30 – 10 – Quý Tỵ), tại chùa Trình (Quảng Ninh) diễn ra Hội thảo khoa học chủ đề “Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử và công tác quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị Khu di tích Yên Tử hiện nay”, với sự tham dự của Hòa thượng Thích Đức Nghiệp, Phó pháp chủ cùng chư tôn đức giáo phẩm HĐCM, HĐTS GHPGVN; và ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Trưởng ban Dân Vận T.Ư cùng đại diện các cơ quan ban, ngành T.Ư, địa phương, các nhà khoa học, giáo sư, tiến sĩ, các học giả,..(BGN-722)

– Ngày 03 tháng 12 (nhằm ngày 01 – 11 – Quý Tỵ), Lễ an vị bảo tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông, Sơ Tổ thiền phái Trúc Lâm, tại Quảng  tỉnh Quảng Ninh), tượng cao 12,6m (phần thân tượng 9,9m, phần bệ rộng 2,7m) với tổng trọng lượng 138 tấn được đúc bằng đồng nguyên khối. Lễ khánh thành và an vị  do HĐTS GHPGVN, UBND tỉnh và BTS GHPGVN địa phương phối hợp tổ chức trọng thể (BGN-722).

– Hòa thượng Thanh Khánh – Nguyên Cát (1921-2013), thuộc dòng thiền Tào Động, trụ trì Tổ đình Hồng Phúc (Hà Nội), viên tịch, thọ 93 tuổi.

– BTS GHPGVN tỉnh Bình Dương cho phép thành lập Thiện viện Trúc Lâm Thanh Nguyên tại xã Tam Lập, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Sau đó Thiền viện làm Lễ động thổ xây dựng.

01/01/2014

Năm 2014 (Giáp Ngọ – PL.2558)

Năm 2014 (Giáp Ngọ – PL.2558)

– Ngày 13 tháng 1 (nhằm ngày 13 – 12 – Quý Tỵ), Sa-di Ni Thanh Giới (1920-2014) thế danh Tô Thị Phong, pháp danh Thanh Giới, thuộc Thiền phái Trúc Lâm, trụ ở thiền thất của Thiền viện Thường Chiếu (Long Thành, Đồng Nai), viên tịch, thọ 95 tuổi (Kỷ Niệm Viên Tịch Sa Di Ni Thích Nữ Thanh Giới (1920-2014), NXB Văn hóa Văn nghệ 2014).

– Vào lúc 05 giờ 00 ngày 18 tháng 1 (nhằm ngày 18 – 12 – Quý Tỵ), Hòa thượng Quảng Động – Phước Thành (1918-2014) họ Phạm, pháp danh Quảng Động, tự Chủng Quả, hiệu Phước Thành, sinh tại thôn Đức Phổ, xã Cát Minh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 45, Viện chủ Tổ đình Thiên Phước (Bình Định), viên tịch, thọ 101, 72 hạ lạp. Vào lúc 08 giờ 00 ngày 19/1/2014, Lễ nhập kim quan cố Hòa thượng chính thức cử hành trang nghiêm. Đến 08 giờ sáng ngày 23/1/2014, Lễ cung tống kim quan cố Hòa thượng nhập bảo tháp tại khuôn viên Tổ đình Thiên Phước, xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (www.phattuvietnam.net).

– Ngày 08 tháng 3, Lễ an vị Phật và bổ nhiệm trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng tại Đồi C4, phường Hàm Rồng, TP. Thanh Hóa, cho Đại đức Thích Kiến Nguyệt.

– Ngày 03 tháng 1 (nhằm ngày 03 – 12 – Quý Tỵ), Ni trưởng Như Hạnh (?-2014), thuộc Thiền phái Trúc Lâm, trụ trì Thiền viện Linh Chiếu (Đồng Nai), viên tịch, thọ 75 tuổi, 45 hạ lạp. Ngày 04/1/2014, Lễ nhập quan cố Ni trưởng cử hành. Đến ngày 07/1/2014 (nhằm ngày 07/12/Quý Tỵ), nghi thức cung tống kim quan cố Ni trưởng được cử hành trang nghiêm, sau đó trà tỳ tại Trung tâm hỏa táng Núi Dinh (Bà Rịa – Vũng Tàu) và nhập tháp tại Thiền viện Linh Chiếu.

– Ngày 21 tháng 1 (nhằm ngày 21 – 12 – Quý Tỵ), Hòa thượng Phước Hảo (1930-2014), thế danh Huỳnh Phước Hảo, hiệu Phước Hảo, sinh tại Vĩnh Bình (Vĩnh Long), thuộc thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Cố vấn Thiền viện Chơn Không (Vũng Tàu), viên tịch, thọ 85 tuổi, 57 hạ lạp. Vào lúc 20 giờ, ngày 21/1/2014 chư tôn đức Thiền phái Trúc Lâm đã trang nghiêm cử hành lễ nhập kim quan cố Hòa thượng tại Thiền viện Chơn Không. Vào lúc 07 giờ, ngày 24/1/2014 (nhằm ngày 24/12/Quý Tỵ), Lễ di quan cố Hòa thượng trà tỳ tại đài hỏa táng Long Hương (Bà Rịa – Vũng Tàu).

Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 20 tháng 2 (nhằm ngày 21 – 1 – Giáp Ngọ), Ni trưởng Lệ Hạnh – Thanh Quang (1922-2014) thế danh Bùi Thị Điệu, húy Lệ Hạnh, tự Giác Huệ, hiệu Thanh Quang, thuộc thiền phái Lâm Tế  – Chánh Tông, đời thứ 42, viện chủ chùa Liên Hoa (Trà Vinh), viên tịch, thọ 92 tuổi, 59 hạ lạp. Lúc 12 giờ 00 ngày 21/2/2014, Lễ nhập kim quan Cố Ni trưởng được hành trang nghiêm. Đến 09 giờ 00 sáng ngày 25/2/2014, Lễ truy niệm và cung tống kim quan Cố Ni trưởng nhập bảo tháp lúc 11 giờ 30 phút.

– Ngày 26 tháng 3, Phái đoàn Tăng Ni và Phật tử thuộc Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam lên đường đi chiêm bái các Tổ đình Thiền tông Nhật Bản (www.truclambachma.net).

– Ngày 27 tháng 3 (nhằm ngày 27 – 2 – Giáp Ngọ) Lễ công bố quyết định trụ trì Thiền đường Linh Sơn tại thôn 9, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng cho Hòa thượng  Thích Minh Hiền, Trưởng tông phong Tổ Sư Thiền. Buổi lễ  dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Toàn Đức Phó Ban thường trực BTS GHPGVN tỉnh Lâm Đồng và chư tôn đức trong BTS cùng lãnh đạo chính quyền địa phương, quí Phật tử về tham dự.

– Ngày 19 tháng 4 (nhằm ngày 20 – 3 – Giáp Ngọ), Lễ thếp vàng Tôn tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông và cung tiến, thỉnh về Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã (Huế), dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Đức Phương, Phó Pháp chủ GHPGVN.

– Ngày 20 tháng 4 (nhằm ngày 21 – 3 – Giáp Ngọ), Lễ khởi công xây dựng chánh điện Thiền viện Trúc Lâm Phượng Hoàng thuộc xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang và công bố quy hoạch chi tiết xây dựng Thiền viện. Tham dự có đại diện Văn ph ng Trung ương Đảng, Ban Tôn giáo Chính Phủ, Lãnh đạo tỉnh Bắc Giang, BTS GHPGVN tỉnh Bắc Giang, đại diện Ban quản trị Thiền phái Trúc Lâm cùng các Tăng Ni, Phật tử, du khách. Công trình tòa chính điện có tổng mức đầu tư gần 30 tỷ đồng với 2 tầng, quy mô hơn 3.000m2 (www.vanhoabacgiang.vn).

– Ngày 11 tháng 5 (nhằm ngày 13 – 4 – Giáp Ngọ) Lễ tổng kết khóa 3 và khai giảng khóa 4 lớp học Thiền Căn Bản tại chùa Phật Đà, quận 3, TP. HCM, do Hòa thượng Thích Minh Hiền giảng dạy.

– Ngày 14 tháng 5 (nhằm ngày 16 – 4 – Giáp Ngọ) Lễ khai  khóa An cư kiết hạ PL. 2558, năm 2014, tại Thiền đường Liễu Quán I (núi Dinh, Tân Hòa, Tân Thành, Bà Rịa – Vũng Tàu) tăng chúng tông phong Tổ Sư Thiền tập trung về an cư nơi đây. Buổi Lễ đặt dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Giác Cầu. Thiền đường này do Thượng tọa Thích Thiện Đức trụ trì.

– Ngày 17 tháng 5 (nhằm ngày 19 – 4 – Giáp Ngọ), Lễ khánh thành Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam tại ấp Mỹ Nhơn, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ và bổ nhiệm trụ trì Thiền viện cho Đại đức Thích Bình Tâm. Nhân dịp khánh thành, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã cung tiến 2 tượng Phật lên Thiền viện (vl.m.wikipedia.org).

– Từ ngày 15 tháng 6, Ban Thiến Nhi – Đoàn Thanh niên Phật tử Trần Thái Tông và Thiền viện Sùng Phúc (Long Biên, Hà Nội) tổ chức cho hơn 200 thiếu nhi về chùa Viên Minh đảnh lễ Đức Pháp chủ Thích Phổ Tuệ và về chùa Bằng đảnh lễ Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm.

– Ngày 27 tháng 7, Tăng Ni và Phật tử Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng (TP. Thanh Hóa) tổ chức Lễ cầu siêu các anh hùng liệt sĩ và đồng bào hy sinh trong 2 cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của cả dân tộc.

– Vào lúc 05 giờ 40 phút ngày 30 tháng 6 năm Giáp Ngọ, Ni trưởng Tâm Huệ – Viên Minh (1914-2014) thế danh Nguyễn Thị Khiêm Tốn, húy Tâm Huệ, tự Viên Minh, hiệu Trí Uyên, sinh tại thôn Động Giả, xã Đỗ Động, huyện Thanh Oai, Hà Nội, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Hồng Ân (Thừa Thiên – Huế), viên tịch, thọ 101 tuổi, 70 hạ lạp.

– Ngày 04 tháng 8 (nhằm ngày 09 – 7 – Giáp Ngọ), Đại lễ Vu Lan tại Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng (TP. Thanh Hóa), nhân đại lễ, Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu và Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang đến dâng cúng tượng Phật Ngọc và trồng cây lưu niệm tại Thiền viện, với hơn 3000 Phật tử về tham dự.

– Ngày 12 tháng 8 (nhằm ngày 17 – 7 – Giáp Ngọ) Lễ khánh tuế Hòa thượng Thích Thanh Từ (1924-?) Tông chủ Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam tại Thiền viện Thường Chiếu (Long Thành, Đồng Nai).

– Ngày 12 tháng 8 (nhằm ngày 17 – 7 – Giáp Ngọ) Lễ Đại tường cố Hòa thượng Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012), Phó Pháp chủ HĐCM GHPGVN, Viện chủ Thiền viện Vạn Hạnh (TP. HCM), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, đã tổ chức trang nghiêm trọng thể tại Thiền viện Vạn Hạnh (Phú Nhuận, TP. HCM).

– Ngày 13 tháng 8 (nhằm ngày 18 – 7 – Giáp Ngọ), Hòa thượng Tịnh Đức – Đồng Hạnh (?-2014), tự Tịnh Đức, hiệu Trí Thành, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, trụ trì chùa Tịnh Quang (Phù Mỹ – Bình Định), viên tịch, thọ 78 tuổi, 46 hạ lạp.

– Ngày 18 tháng 8 (nhằm ngày 23 – 7 – Giáp Ngọ), Hòa thượng Nhựt Thanh – Thiện Minh (1941-2014), thế danh Nguyễn Văn Thanh, húy Nhựt Thanh, hiệu Thiện Minh, sinh tại ấp Mỹ Chánh, xã Mỹ Đức, tỉnh Châu Đốc, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì Tổ đình Phú Thạnh (An Giang), viên tịch, thọ 74 tuổi, 54 hạ lạp. Vào lúc 12 giờ trưa ngày 23/7/Giáp Ngọ, Lễ nhập kim quan  cố Hòa thượng tại Tổ đình Phú Thạnh. Đến 10 giờ ngày 29/7/Giáp Ngọ, Lễ truy điệu và cung tiễn kim quan cố Hòa thượng nhập bảo tháp tại Tổ đình Phú Thạnh, phường Vĩnh Mỹ, Tp. Châu Đốc, tỉnh An Giang (giaohoiphatgiaovietnam.vn).

– Từ ngày 30 – 8 đến ngày 02 – 9, Hội trại Thanh Thiếu niên Phật tử Trúc Lâm tại Thiền viện Trúc Lâm Tuệ Đức xã Đồng Quế, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, có hơn 200 Đoàn sinh đến dự.

– Sáng ngày 01 tháng 9 (nhằm ngày 08 – 8 – Giáp Ngọ), Lễ Tiểu tường và Lễ khởi công xây dựng Bảo tháp cố Hòa thượng Quảng Trí – Đạt Đạo (1951-2013) tại chùa Bát Nhã, phường 13, quận Bình Thạnh, Tp. HCM. Buổi lễ dưới sự chứng minh của chư tôn giáo phẩm HĐTS TW. GHPGVN, chư đại đức Tăng Ni, quí quan khách cùng đông đảo Phật tử về dâng hương tưởng niệm.

– Ngày 07 tháng 9 (nhằm ngày 14 – 8 – Giáp Ngọ), Lễ khánh thành và an vị Phật tại Thiền viện Trúc Lâm Thanh Nguyên ở huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

– Ngày 14 tháng 9 (nhằm ngày 21 – 8 – Giáp Ngọ), Chư Tôn đức Thường trực Tông phong Tổ Sư Thiền họp tại chùa Phật Đà, quận 3, Tp. HCM, nhằm tổng kết sinh hoạt An cư kiết hạ năm 2014, PL. 2558, dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Minh Hiền, Trưởng tông phong này.

– Vào lúc 6 giờ 10 phút, ngày 23 tháng 9 (nhằm ngày 30 – 8 – Giáp Ngọ), Hòa thượng Như Minh – Pháp Chiếu (1935-2014) thế danh Trần Minh Ngọc, húy Như Minh, hiệu Pháp Chiếu, sinh tại xã Hoài Thanh, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, Viện chủ Tổ đình Sắc tứ Giác Nguyên (Lâm Đồng), viên tịch, thọ 80 tuổi, 55 hạ lạp. Lễ nhập kim quan cố Hòa thượng được cử hành vào lúc 18 giờ 00 ngày 23/9/2014. Đến 7 giờ 00 ngày  29/9/2014, Lễ truy niệm và cung tống kim quan cố Hòa thượng nhập bảo tháp tại Tổ đình Sắc tứ Giác Nguyên thuộc thị trấn Dran, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng (www.phatgiaodalat.net).

– Ngày 08 tháng 10, Lễ khởi công xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Trà Vinh tại ấp Khoán Tiều, xã Trường Long Hòa, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, với tổng diện tích rộng 6,97 ha.

– Ngày 05 tháng 9 năm Giáp Ngọ, Ni trưởng Như Minh (1945-2014), thế danh Trịnh Thị Lợi, pháp danh Như Minh, hiệu Diệu Minh, sinh tại quận Bình Thạnh, tỉnh Gia Định, thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, trụ trì Thiền viện Tuệ Thông (Vũng Tàu), viên tịch, thọ 70 tuổi (Kỷ yếu Viên tịch Ni trưởng Thích nữ Như Minh (1945-2014), NXB Hồng Đức 2014).

– Ngày 12 tháng 10 (nhằm ngày 19 – 9 – Giáp Ngọ), Lễ khởi công xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Hậu Giang, thuộc tỉnh Hậu Giang, do HĐND tỉnh Hậu Giang, BTS GHPGVN tỉnh Hậu Giang, Công ty Cổ phần Him Lam, Ngân Hàng Bưu Điện Liên Việt tổ chức. Quang lâm chứng minh và tham dự có sự hiện diện của chư tôn giáo phẩm, đại diện chính quyền các cấp, đại diện các chức sắc tôn giáo bạn. Công trình Thiền viện xây dựng trên diện tích rộng 4,2 ha, với kinh phí khoảng 210 tỷ đồng.

– Ngày 12 tháng 10 (nhằm ngày 19 – 9 – Giáp Ngọ), Lễ khánh thành chùa Pháp Vân (Phân viện Thiền học Pháp Vân) tại số 16, đường Lê Thúc Hoạch, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, Tp. HCM. Chùa này do Hòa thượng Phước Trí trụ trì.

– Ngày 29 tháng 11 (nhằm ngày 08 – 10 – Giáp Ngọ) Lễ đặt đá xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Chánh Thiện tại xã Sông Phan, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

– Vào lúc 2 giờ 00 ngày 30 tháng 11 (nhằm ngày 09 – 10 – Giáp Ngọ), Hòa thượng Thông Đức – Đồng Hạnh (1937-2014) thế danh Ngô Thanh Sơn, trụ trì chùa Thiền Tịnh (Phú Yên), viên tịch, thọ 77 tuổi. Lễ nhập kim quan cố Hòa thượng được cử hành trang nghiêm lúc 12 giờ 00 ngày 30/11/2014. Đến 13 giờ 30 phút ngày 04/12/2014, Lễ cung tống kim quan cố Hòa thượng trà tỳ.

– Ngày 06 tháng 12 (nhằm ngày 15 – 10 – Giáp Ngọ) Lễ khánh thành Bảo tháp Xá-lợi tại Thiền viện Trúc Lâm Phụng Hoàng ở khu phố 7, phường 3, TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

– Vào lúc 13 giờ 25 phút ngày 07 tháng 12 (nhằm ngày 16 – 10 – Giáp Ngọ), Hòa thượng Quảng Trai – Chí Đạo (1945-2014) thế danh Phạm Đại, pháp danh Quảng Trai, tự Chí Đạo, hiệu Tịch Phương, sinh tại làng Nam Định, thôn Diêm Phổ, nay là xã Tam Anh Nam, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 45, trụ trì chùa Hòa Quang (Tam Kỳ, Quảng Nam), viên tịch, thọ 70 tuổi, 47 hạ lạp.

– Ngày 19 tháng 12, Hòa thượng Thích Minh Hiền, Trưởng tông phong Tổ Sư Thiền, trụ trì chùa Phật Đà (TP. HCM) sang Thiền đường Từ Ân (Mỹ) khai thất đầu năm từ ngày 03/1/2015 – 09/1/2015 và tổ chức Lễ tưởng niệm Húy kỵ Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực vào ngày 10/1/2015, có 40 hành giả về tham dự (www.tosuthien.com).

– Ngày 22 tháng 12 (nhằm ngày 01 – 11 – Giáp Ngọ) Tổ đình Thiền viện Thường Chiếu tổ chức Lễ giỗ Tổ Trúc Lâm Phật Hoàng Trần Nhân Tông lần thứ 706, với sự chứng minh của Hòa thượng Thích Thanh Từ (1924-?) Tông chủ Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam thế kỷ 21.

– Ngày 27 tháng 12 (nhằm ngày 06 – 11 – Giáp Ngọ), Hòa thượng Không Phi – Trí Hải (1944-2014) thế danh Nguyễn Văn Nhạn, húy Không Phi, tự Trí Hải, hiệu Huệ Đức, sinh tại thôn Phước Mỹ, xã Hòa Bình, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, trụ trì chùa Phước Huệ (Nha Trang), viên tịch, thọ 75 tuổi, 51 hạ lạp.

– Ngày 28 tháng 12 (nhằm ngày 07 – 11 – Giáp Ngọ) Lễ Đại tường Cố Hòa thượng Thích Đắc Pháp (1938-2013) tại Thiền viện Sơn Thắng ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

– Hòa thượng Viên Giác – Chơn Thiện được Tông môn suy cử chức vụ trụ trì Tổ đình Tường Vân hiện tọa lạc ở xã Thủy Xuân, TP. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

2013
01/01/2013

Số Hóa Các Bộ Từ Điển Phật Giáo

Số Hóa Các Bộ Từ Điển Phật Giáo

 

  • Số hóa các bộ Từ Điển Phật Giáo dùng cho máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng, máy đọc sách, smartphone (sử dụng phiên bản số hoá các bộ từ điển có sẵn trên thị trường).
01/01/2013

Năm 2012 (Nhâm Thìn – PL.2556)

Năm 2012 (Nhâm Thìn – PL.2556)

– Ngày 11 tháng 3 (nhằm ngày 19 – 2 – Nhâm Thìn), Lễ an vị Phật Thích Ca và nhị vị Bồ Tát tại Thiền viện Trúc Lâm Tuệ Đức thuộc xã Đồng Quế, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Buổi lễ dưới sự chứng minh của đại diện Ban quản trị Thiền phái Trúc Lâm, BTS GHPGVN tỉnh Vĩnh Phúc cùng chư Tôn đức trụ trì các Thiền viện trong tông môn và hơn 2000 Phật tử về tham dự.

– Ngày 25 tháng 3, Hội thảo khoa học đề tài “Chùa Thầy và chư Thánh Tổ sư” (Thiền sư Từ Đạo Hạnh) tại chùa Thầy (Hà Nội), do Ban văn hóa T.Ư GHPGVN, BTS THPG Hà Nội, Viện khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp tổ chức (VHPG-151).

– Ngày 29 tháng 4 (nhằm ngày 08 – 4 – Nhâm Thìn) Lễ đặt đá xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác tại ấp 1, xã Thạnh Tân, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Thiền viện có diện tích 30 hecta, tổng diện tích xây dựng hơn 47.000 m2, có 26 hạng mục công trình xây dựng.

– Vào lúc 14 giờ ngày 10 tháng 5 (nhằm ngày 20 – 4 – Nhâm Thìn), Hòa thượng Nhuận Đức – Chơn Huệ (1923-2012), thế danh Ngô Văn Nhuần, húy Nhuận Đức, tự Chơn Huệ, sinh tại ấp Mỹ An Thuận, quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 46, trụ trì chùa Bửu Vương (Tiền Giang), viên tịch, trụ thế 90 năm.

– Vào lúc 20 giờ 30 phút, ngày 22 tháng 5 (nhằm ngày 02 – 4 – Nhâm Thìn), Ni trưởng Nhật Liên – Như Hoa (1949-2012), thế danh Nguyễn Thị Hương, húy Nhật Liên, tự Diệu Hoa, hiệu Như Hoa, sinh tại làng Thanh Lương, xã Chí Công, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 41, trụ trì chùa Vĩnh Phước (Tp.HCM), viên tịch, thọ 64 tuổi, 41 hạ lạp. Lúc 15 giờ ngày 23/5/2012, Lễ nhập kim quan cố Ni trưởng chính thức cử hành trang nghiêm. Đến sáng 07 giờ 00 ngày 28/5/2012 (nhằm ngày 08/4/Nhâm Thìn), Lễ tưởng niệm và cung tống kim quan cố Ni trưởng nhập bảo tháp tại khuôn viên chùa Vĩnh Phước ở số 28/10A, đường Trường Chinh, phường Tân Thới Nhứt, quận 12, Tp. HCM (tuvienkhanhan.com).

– Ngày 03 tháng 6 (nhằm 14 – 4 – Nhâm Thìn), chùa Phật Đà số 362/46, đường Nguyễn Đình Chiểu, phường 4, quận 3, TP. HCM, tổ chức Lễ Tổng kết khóa I (2010-2012) và Khai giảng khóa II (2012-2013) lớp học Thiền Căn Bản do Hòa thượng Thích Minh Hiền đảm trách giảng dạy.

– Đầu tháng 6, Đại đức Thích Tuệ Thông Phó trụ trì Thiền viện Trúc Lâm làm Trưởng đoàn, sang Sri Lanka (Tích Lan) cung nghinh nhánh Bồ-đề và được Hòa thượng Viện trưởng Thiền viện Maha Bodhi Viharaya ở Anuradhapura làm Trưởng đoàn cung tiễn nhánh Bồ-đề sang cúng dường cho Thiền viện Trúc Lâm Phụng Hoàng ở Tp. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Đến Ngày 11 tháng 6, tại Thiền viện Thường Chiếu (Long Thành, Đồng Nai) Hòa thượng Thích Thanh Từ chứng minh nhánh Bồđề từ Sri Lanka (Tích Lan) được Hòa thượng Viện trưởng Thiền viện Maha Bodhi Viharaya ở Anuradhapura mang sang cúng dường cho Thiền viện Trúc Lâm Phụng Hoàng (Đà Lạt, Lâm Đồng). Hôm sau, ngày 12 tháng 6, Thiền viện Trúc Lâm cử hành long trọng nghi thức cung rước và trồng cây Bồ-đề tại Thiền viện (TTVN).

– Ngày 17 tháng 6 (nhằm ngày 28 – 1 – Nhâm Thìn), Lễ khai pháp tại Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác (Tân Phước, Tiền Giang), do Thượng tọa Thích Thông Phương trụ trì Thiền viện thuyết giảng, có hơn 1.500 Tăng ni và Phật tử các đạo tràng về tham dự.

– Ngày 17 tháng 6 (nhằm ngày 25 – 4 nhuận – Nhâm Thìn), Ni trưởng Minh Thông (1918-2012), thế danh Trần Thị Triệu, sinh tại xã Trường Bình, Cần Giuộc, Long An, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 42, Tổ sáng lập chùa Phật Hóa (Cần Giuộc, Long An), viên tịch, thọ 94 tuổi, 56 hạ lạp.

– Ngày 05 tháng 7 (nhằm ngày 17 – 5 – Nhâm Thìn), Ni sư Nhật Đạo (1957-2012) thế danh Hồ Thị Hương, pháp danh Nhật Đạo, sinh tại Tân An – Phong Dinh (Tp. Cần Thơ ngày nay), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, trụ trì chùa Phật Quang (Vĩnh Long), viên tịch, trụ thế 56 năm, 30 hạ lạp.

– Ngày 01 tháng 9 (nhằm ngày 16 – 7 – Nhâm Thìn), Hòa thượng Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012) họ Đinh, húy Văn Nam, pháp danh Tâm Trí, tự Minh Châu, hiệu Viên Dung, sinh tại làng Kim Thành (Quảng Nam), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, Viện chủ Thiền viện Vạn Hạnh (TP. HCM), Phó pháp chủ HĐCM GHPGVN, viên tịch, thọ 95 tuổi, 64 hạ lạp. Sinh thời, Hòa thượng được Nhà nước tặng thưởng : Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Hồ Chí Minh. Công trình phiên dịch và trước tác của Hòa thượng có : Phiên dịch kinh tạng Pali : kinh Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ, Tiểu Bộ, Pháp Cú, Kinh Tập, Trưởng Lão Tăng Kệ,…; trước tác nhiều sách viết bằng tiếng Anh, sách viết bằng tiếng Việt : Đường Về Xứ Phật, Đại Thừa và Sự Liên Hệ Với Tiểu Thừa, Hành Thiền, Lịch Sử Đức Phật Thích Ca,…(Giác Ngộ Online-Mobile).

– Vào lúc 8 giờ ngày 02 tháng 9 (nhằm ngày 17 – 7 – Nhâm Thìn), tại Thiền viện Vạn Hạnh diễn ra lễ nhập kim quan cố Trưởng lão Hòa thượng Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012), với sự tham dự của chư Tôn đức giáo phẩm HĐCM, HĐTS TW GHPGVN, BTS GHPGVN

Tp.HCM, chư Tôn đức Tăng Ni cùng hàng ngàn Phật tử (giacngo.vn).

– Vào lúc 8 giờ ngày 09 tháng 9 (nhằm ngày 24 – 7 – Nhâm Thìn), Lễ truy điệu và cung tiễn kim quan cố Trưởng lão Hòa thượng Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012), Phó pháp chủ GHPGVN, nhập bảo tháp tại Thiền viện Vạn Hạnh, quận Phú Nhuận, Tp.HCM. Buổi lễ diễn ra với sự tham dự của chư Tôn đức giáo phẩm HĐCM, HĐTS TW GHPGVN, lãnh đạo các ban, ngành, viện BTS GHPGVN Tp.HCM, chư Tôn đức Tăng Ni các tỉnh thành, cùng hàng ngàn Phật tử (giacngo.vn).

– Ngày 14 tháng 12, Lễ khánh thành Thiền viện Trúc Lâm Hộ Quốc (hay chùa Hộ Quốc Phú Quốc) thuộc ấp Suối Lớn, xã Dương Tơ, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Đây là công trình được quy hoạch trong dự án du lịch tâm linh với tổng diện tích hơn 110 ha. Chùa Hộ Quốc có quy mô xây dựng lớn nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long theo phong cách kiến trúc thời nhà Trần và nhà Lý, thời gian thi công hơn 14 tháng đã hoàn thành các hạng mục cơ bản như : cổng tam quan, chánh điện, nhà tổ, … tổng kinh phí xây dựng 80 tỷ đồng và đường giao thông 20 tỷ (dulichdaophuquoc.vn).

– Hòa thượng Quảng Trí – Đạt Đạo (1951-2013) được Trường Đại học Mahachulalongkorn của Hoàng gia Thái Lan trao văn bằng Tiến sĩ danh dự về Quản Lý Giáo Dục, nhân dịp Đại lễ Vesak thế giới tổ chức tại Thái Lan. Cũng năm này, Hòa thượng được Giáo hội suy cử làm Ủy viên HĐTS GHPGVN nhiệm kỳ VII, đồng thời suy cử chức vụ Ủy viên Thường trực BTS GHPGVN Tp. HCM.

– Đầu năm, Thượng tọa Thích Thông Phương trụ trì Thiền viện Trúc Lâm (Đà Lạt) cùng Tăng ni và Phật tử sang chiêm bái thánh tích Phật giáo trên đảo quốc Sri Lanka (Tích Lan).

– Bộ sách Thanh Từ Toàn Tập do Thiền viện Hương Hải thực hiện, được tái bản, Ban Văn Hóa – Thường Chiếu biên tập và phát hành.

2012
01/01/2012

Đưa Vào Hoạt Động Máy Chủ Riêng Của Pháp Thí Hội trên Internet

  • Đưa vào hoạt động máy chủ riêng của Pháp Thí Hội trên Internet.
  • Thỉnh Kinh/ Sách Phật Học số lượng lớn (lần 3) từ tổ chức Buddha Educational Foundation – Đài Loan(Hòa Thượng Tịnh Không) để cúng dường cho các đạo tràng/chùa có điều kiện khó khăn ở Việt Nam.
2011
01/01/2011

Ấn Tống Bộ Phim Hoạt Hình Phật

  • Liên kết lồng tiếng và ấn tống bộ Phim Hoạt Hình Phật Giáo với BQT website www.phimphatgiao.com.
  • Xây dựng Dữ Liệu Các Bài Thuốc Đông Y đơn giản, hiệu quả để giúp Phật Tử thuận tiện tra cứu và sử dụng.
  • Thỉnh Kinh/ Sách Phật Học số lượng lớn (lần 2) từ tổ chức Buddha Educational Foundation – Đài Loan(Hòa Thượng Tịnh Không) để cúng dường cho các đạo tràng/chùa có điều kiện khó khăn ở Việt Nam.
01/01/2011

Năm 2011 (Tân Mão – PL.2555)

Năm 2011 (Tân Mão – PL.2555)

– Ngày 16 tháng 1 (nhằm ngày 13 – 12 – Canh Dần), Lễ khánh thành Thiền viện Trúc Lâm Trí Đức thuộc xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Buổi lễ dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thanh Từ, Tông chủ Thiền phái Trúc Lâm, chư Hòa thượng HĐCM, HĐTS GHPGVN, đại diện lãnh đạo ban ngành của TW và địa phương, Ban quản trị Thiền phái Trúc Lâm, BTS GHPGVN tỉnh Đồng Nai cùng chư Tôn đức Tăng Ni và khoảng 10.000 Phật tử về tham dự. Thiền viện được xây dựng trên diện tích 10,5 hecta, gồm các hạng mục công trình như : chánh điện, tổ đường, trai đường, pháp đường, tăng đường, khách đường,…đều xây dựng quy mô và trang nghiêm (www.thuongchieu.net).

– Ngày 12 tháng 3 (nhằm ngày 08 – 2 – Tân Mão), Ban quản trị Thiền Phái Trúc Lâm cùng với Quí thầy và Phật tử địa phương tổ chức Lễ đặt đá xây dựng Thiền tự Vạn Thiện tại ấp Tràm 1, xã Long Thạnh, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Ngôi Thiền tự được xây dựng trên khung viên đất khoảng 3.000m2 do gia đình Phật tử Chánh Đức Ngộ và Chơn Tĩnh Liên cúng dường.

– Ngày 13 tháng 3 (nhằm ngày 10 – 2 – Tân Mão), Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm tại thôn 1, xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng

Ninh, long trọng tổ chức Lễ hoàn công giai đoạn 2 và an vị Bồ – tát Di Lặc cùng các thánh tượng, đồng thời làm lễ đúc chuông Đền. Buổi lễ có sự chứng minh của Đại diện Ban quản trị Thiền Phái Trúc Lâm cùng với chư tôn đức Tăng Ni và quan khách, Phật tử địa phương về tham dự.

– Ngày 03 tháng 4 (nhằm ngày 01 – 3 – Tân Mão), Thiền viện Sùng Phúc ở Tổ 10, phường Cự Khối, quận Long Biên, TP. Hà Nội, tổ chức Lễ khánh thành Tổ đường.

– Ngày 12 tháng 4 (nhằm ngày 10 – 3 – Tân Mão), Lễ khởi công trùng tu xây dựng Thiền đường Linh Sơn tại thôn 9, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Đến tham dự có Chư tôn đức Tông môn Tổ Sư Thiền cùng quý Thượng tọa, Đại đức Tăng và Phật tử về tham dự.

– Ngày 30 tháng 5, Đại đức Thích Nhựt Quang (1983-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An quyết định bổ nhiệm trụ trì chùa Thạnh Hòa tại số 103, tỉnh lộ 19, ấp Tây, xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, theo quyết định số 011/QĐ/BTS/VII do Hòa thượng Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ngày 15 tháng 9 năm Tân Mão, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên ở xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ chức Lễ giỗ lần thứ 1731 Tổ sư Khương Tăng Hội – Sơ Tổ Thiền tông Việt Nam.

– Tháng 9, Thiền viện Trúc Lâm An Tâm ở xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ chức Lễ an vị chư Tổ sư : Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả A-nan, Tổ sư Bồ-đề Đat-ma, Tam Tổ Trúc Lâm : Sơ Tổ Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Nhị Tổ Pháp Loa, Tam Tổ Huyền Quang, Tổ Ni giới Kiều-đàm-di (BGN-610).

– Ngày 23 tháng 11 (nhằm ngày 28 – 10 – Tân Mão), Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử (tỉnh Quảng Ninh) tổ chức Lễ tưởng niệm lần thứ 285 năm ngày Thiền sư Chân Nguyên – Tuệ Đăng (1647-1726) viên tịch.

– Vào lúc 07 giờ 00 ngày 21 tháng 10 (nhằm ngày 25 – 9 – Tân Mão), Hòa thượng Thích Minh Thiện (1948-2011), thế danh Đào Văn Cư, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 42, trụ trì chùa Núi Châu Thới (Dĩ An, Bình Dương), Trưởng BTS GHPGVN tỉnh Bình Dương, viên tịch, thọ 64 tuổi, 44 hạ lạp. Lúc 12 giờ 00 ngày 21/10/2011, Lễ nhập kim quan cố Hòa thượng tại chùa Núi Châu Thới, sau đó kim quan đưa về tôn trí tại Văn ph ng Tỉnh hội Bình Dương (chùa Hội Khánh). Đến 18 giờ 00 ngày 22/10/2011, Lễ phụng tống kim quan từ Văn ph ng Tỉnh hội về quàn tại chùa Núi Châu Thới. Đến 10 giờ 00 ngày 25/10/2011 (nhằm ngày 29/9/Tân Mão), Lễ truy niệm và cung tống kim quan cố Hòa thượng nhập Bảo tháp trong khuôn viên chùa Núi Châu Thới hiện tại xã Bình An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương (www.phatgiaobinhduong.com).

– Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 06 tháng 11 (nhằm ngày 11 – 10 – Tân Mão), Hòa thượng Nhật Đăng – Chánh Đạo (1911-2011) thế danh Nguyễn Minh Đăng, húy Nhật Đăng, tự Nguyễn Đến, hiệu Chánh Đạo, sinh tại làng Thọ Xuyên, xã Duy Châu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, Viện chủ chùa An Phước (An Giang), viên tịch, thọ 101 tuổi, 81 hạ lạp.

– Ngày 26 tháng 11 (nhằm ngày 02 – 11 – Tân Mão), Lễ khởi công xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Phượng Hoàng thuộc xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Thiền viện có diện tích khoảng 18 ha, riêng quy mô xây dựng Thiền viện 12,5 ha. Tương lai, đây sẽ là nơi nghiên cứu, bảo tồn các thư tịch, ấn phẩm văn hóa Phật giáo và Thiền phái Trúc Lâm, cũng là khu du lịch sinh thái.

– Ngày 19 tháng 11 năm Tân Mão, Hòa thượng Từ Mẫn – Thiện Niệm (1938-2011), thế danh Nguyễn Văn Mẫn, húy Từ Mẫn, hiệu Thiện Niệm, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 44, trụ trì chùa Châu Phước (Tân Trụ, Long An), viên tịch, thọ 73 tuổi.

– Ngày 13 tháng 12, Lễ khánh thành Tổ đình Bảo Tịnh tại số 174, đường Phan Đình Phùng, phường 3, Tp. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Tổ đình này vốn do Tổ sư Thiệt Diệu – Liễu Quán khai sáng vào cuối thế kỷ 16.

– Lễ đặt đá xây dựng Thiền Đường Linh Sơn tại thôn 9, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, với tổng diện tích 60.000 m2, diện tích xây dựng 18.876 m2.

2010
01/01/2010

Cúng Dường Tủ Sách Phật Học Phổ Thông

  • Thực hiện Chương Trình Cúng Dường Tủ Sách Phật Học Phổ Thông cho các chùa có điều kiện khó khăn ở vùng sâu vùng xa.
  • Lễ tác bạch và cung thỉnh Viện Chủ Nghĩa Hoà Tự chứng minh Phật sự Thỉnh Kinh/Sách Phật Học số lượng lớn (lần 1) từ tổ chức Buddha Educational Foundation – Đài Loan(Hòa Thượng Tịnh Không) để cúng dường cho các đạo tràng/chùa có điều kiện khó khăn ở Việt Nam.
  • Đưa vào hoạt động phiên bản 2.0 trên trang web www.phapthihoi.org
  • Lễ tác bạch và cung thỉnh Viện Chủ Nghĩa Hoà Tự chứng minh. Đặt tên Pháp Thí Hội cho giai đoạn Pháp Thí mới. Chính thức sử dụng tên Pháp Thí Hội thay cho Phật Pháp Online
  • Đăng kí website www.phapthihoi.org. Phát triển phiên bản web 2.0.
  • BQT phát tâm mở rộng phạm vi Pháp Thí.
01/01/2010

Năm 2010 (Canh Dần – PL.2554)

Năm 2010 (Canh Dần – PL.2554)

– Ngày 03 tháng 1 (nhằm ngày 19 – 11 – Kỷ Sửu), Hòa thượng Trí Thắng – Đồng Huy (1919-2010), thế danh Phan Văn Đa, pháp danh Đồng Huy, tự Thanh Tùng, hiệu Trí Thắng, sinh tại làng Lãnh Đông, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, Tổ khai sơn Tu viện Vạn Hạnh (Bà Rịa-Vũng Tàu), viên tịch, thọ 90 tuổi, 55 hạ lạp. Tác phẩm dịch thuật của Hòa thượng có : Tứ Phần Luật Tạng 60 quyển, Luật Học, Tỳ Kheo Ni Sao 3 quyển, Luật Học Cương Yếu, Tỳ Kheo Giới Bổn Sớ Nghĩa, Phạm Võng Lược Sớ 10 quyển, Tỳ Kheo Tăng Sao 3 quyển, Luật Tứ Phần Như Thích, Yết Ma Đại Cương, Phật Học Diễn Giảng, Tỳ Kheo Giới Bổn Lược Giải, Tỳ Kheo Ni Giới Bổn Lược Giải,…(Giác Ngộ Online – Mobile).

– Ngày 08 tháng 1 (nhằm ngày 24 – 11 – Kỷ Sửu), Hòa thượng Trí Ấn – Nhật Liên (1923-2010), thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên, sinh tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì Tây Thiên Di Đà tự (Huế), hoằng hóa ở chùa Long Thọ (Đồng Nai), viên tịch, thọ 87 tuổi, 59 hạ lạp.

– Ngày 13 tháng 1, Đại đức Trí Dũng – Huệ Châu (1948-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An quyết định bổ nhiệm trụ trì chùa Tân Long hiện tọa lạc tại số 163, khu phố 8, thị trấn Cần Đước, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, theo quyết định số 002/QĐ/BTS/VII do Hòa thượng Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ngày 23 tháng 1 (nhằm ngày 09 – 12 – Kỷ Sửu), Lễ an vị Phật và tượng đài Bồ Tát Quán Thế Âm tại Thiền viện Trúc Lâm Viên Ngộ thuộc thị trấn Khánh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

– Vào lúc 19 giờ 15 phút, ngày 23 tháng 3 (nhằm ngày 08 – 2 – Canh Dần), Ni trưởng Trừng Khương – Diệu Trí (1907-2010) thế danh Hồ Thị Trâm, pháp danh Trừng Khương, tự Diệu Trí, hiệu Liễu Nhiên, sinh tại làng Lâm Cao, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì Diệu Nghiêm Ni tự (Huế), viên tịch, thọ 103 tuổi, 66 hạ lạp.

– Ngày 30 tháng 3 (nhằm ngày 15 – 2 – Canh Dần), Đại lễ khánh thành Tổ đình Từ Đàm tại số 1 Sư Liễu Quán, phường Trường An, TP. Huế.

– Ngày 02 tháng 4 (nhằm ngày 18 – 2 – Canh Dần), Thượng tọa Thích Thông Giáo (?-2010) thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, trụ ở Thiền viện Chơn Không (Bà Rịa – Vũng Tàu), viên tịch, thọ 78 tuổi, 27 hạ lạp.

– Ngày 10 tháng 4 (nhằm ngày 26 – 2 – Canh Dần), Lễ đặt đá xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Đạo Nguyên tại núi Nâm Nung, xã Nâm N Jang, huyện Đak Song, tỉnh Đak Nông.

– Ngày 10 tháng 3 năm Canh Dần, Hòa thượng Nhựt Diệu – Huệ Thắng (1928-2010), thế danh Nguyễn Văn Diệu, húy Nhựt Diệu, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 41, trụ trì chùa Giác Nguyên (Cần Giuộc, Long An), viên tịch, thọ 83 tuổi.

– Ngày 09 tháng 5 (nhằm ngày 26 – 3 – Canh Dần), Thiền viện Trúc Lâm Viên Ngộ (Phan Rang, Ninh Thuận) tổ chức khóa tu “Một ngày thiền tập” cho hơn 200 thiền sinh đến từ 8 đạo tràng Trúc Lâm, do Thượng tọa Thích Thông Huệ hướng dẫn.

– Ngày 15 tháng 5 (nhằm ngày 01 – 4 – Canh Dần), Lễ nhập tự Ni Thiền viện Trúc Lâm Trí Đức thuộc tỉnh Đồng Nai. Buổi lễ dưới sự chứng minh của Ban quản trị Thiền phái Trúc Lâm cùng chư Tăng Ni trong tông môn và Phật tử về tham dự. Ban điều hành Thiền viện Trúc Lâm Trí Đức gồm có, Trưởng ban : Sư cô  Hạnh Chiếu, Phó ban : Sư cô Hạnh Bổn, sư cô Hạnh Giám.

– Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 16 tháng 5, Lễ khai giảng Lớp Thiền Căn Bản tại chùa Phật Đà ở số 362/46, đường Nguyễn Đình Chiểu, phường 4, quận 3, Tp. HCM. buổi lễ với sự chứng minh của Hòa thượng Minh Hiền Trưởng Tông môn Tổ Sư Thiền cùng chư tôn đức Tăng và khoảng 200 Phật tử đến tham dự (www.tosuthien.com).

– Ngày 07 tháng 4 năm Canh Dần, Đại đức Đức Tịnh – Thiện Giác (1937-2010), thế danh Nguyễn Văn Thạnh, húy Đức Tịnh, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, Tổ sáng lập chùa Phước Hưng (Tân Thạnh, Long An), viên tịch, thọ 74 tuổi.

– Ngày 23 tháng 5 (nhằm ngày 10 – 4 – Canh Dần), Lễ đặt đá xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Chân Pháp tại xã Phú Vinh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Buổi lễ dưới sự chứng minh của Ban quản trị Thiền phái Trúc Lâm, đại diện BTS Phật giáo địa phương cùng chư tôn đức tăng ni và Phật tử về tham dự. Thiền viện sẽ được xây dựng với kinh phí 16 tỷ đồng trên khuôn viên đất gần 13 hecta, do Phật tử địa phương hiến cúng.

– Ngày 03 tháng 6 (nhằm ngày 21 – 4 – Canh Dần), Hòa thượng Như Hảo – Quảng Tâm (1947-2010) thế danh Lê Tấn Quang, pháp húy Như Hảo, tự Giải Tâm, hiệu An Đức (hiệu khác Quảng Tâm), sinh tại làng Thạch Trụ, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, Tổ khai sơn Tu viện Vĩnh Đức (Thủ Đức – TP. HCM), viên tịch, thọ 64 tuổi, 38 hạ lạp.

– Ngày 05 tháng 5 năm Canh Dần, Đại đức Bảo Hương – Nhựt Vinh (1939-2010), thế danh Nguyễn Văn Vễnh, húy Bảo Hương, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 42, trụ trì chùa Long Nguyên (Đức Hòa, Long An), thị tịch, trụ thế 52 năm.

– Ngày 08 tháng 7, Ni sư Như Vân (1941-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Long Hoa hiện tại ấp Cầu Tràm, xã Long Trạch, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, tại quyết định số 17/QĐ/BTS/VII do Hòa thượng Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ngày 01 tháng 8 năm Canh Dần, Thượng tọa Nhuận Nho – Thiện Tồn (1940-2010), thế danh Huỳnh Văn Nho, húy Nhuận Nho, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 46, trụ trì chùa Bửu Linh (Thủ Thừa – Long An), viên tịch, thọ 71 tuổi.

– Ngày 04 tháng 8, Đại đức Thích Lệ Thông (1971-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Thiền Tông tại ấp Tây Bắc, xã Tân Hòa, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An, theo quyết định số 018/QĐ/BTS/VII do Hòa thượng Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Vào lúc 21 giờ 15 phút ngày 31 tháng 8 (nhằm ngày 22 – 7 – Canh Dần), Thượng tọa Nguyên Đạo – Minh Trí (1958-2010) húy Nguyên Đạo, tự Lãng Thông, hiệu Minh Trí, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 44, trụ trì chùa Phước Lâm (Tiền Giang), thị tịch, trụ thế 52 năm, 32 hạ lạp. Lễ nhập kim quan Cố Thượng tọa chính thức cử hành lúc 12 giờ 00 ngày 01/9/2010. Đến 07 giờ 00 sáng ngày 05/9/2010, Lễ tưởng niệm và cung tiễn kim quan Cố Thượng tọa nhập bảo tháp tại Tổ đình Bửu Hưng, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

– Ngày 26 tháng 10, Lễ khởi công xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng tại Đồi C4, phường Hàm Rồng, TP. Thanh Hóa, với tổng diện tích khoảng 40.000 m2, có 12 hạng mục công trình.

– Ngày 24 tháng 11 năm Canh Dần, Hòa thượng Trừng Phước –  Vĩnh Lưu (?-2010) húy Trừng Phước, hiệu Vĩnh Lưu, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, Viện chủ Tổ đình sắc tứ Kim Cang (Phú Yên), viên tịch, thọ 97 tuổi, 73 hạ lạp.

– Hòa thượng  Như Minh – Pháp Chiếu (1935-2014) khai sơn xây dựng chùa Giác Hưng tại xã P’ro’, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

– Thượng tọa Nhật Cao – Huệ Hiền (1955-2013) được cử giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Lớp Cao đẳng Phật học Chuyên khoa tỉnh Đồng Nai.

– Ni trưởng Tâm Huệ – Viên Minh (1914-2014) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu Ni giới đàn Minh Hoằng ở chùa Từ Đàm, nay tại số 01, đường Sư Liễu Quán, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

2009
01/01/2009

Xây dựng Thư Viện Phật Giáo Trực Tuyến

Xây dựng Thư Viện Phật Giáo Trực Tuyến

 

Xây dựng Thư Viện Phật Giáo Trực Tuyến để đọc trực tiếp bằng đường truyền Internet 3G.

01/01/2009

Năm 2009 (Kỷ Sửu – PL.2553)

Năm 2009 (Kỷ Sửu – PL.2553)

– Ngày 04 tháng 1 (nhằm ngày 09 – 12 – Mậu Tý), Lễ công bố thành lập Thiền tự Trúc Lâm Viên Minh thôn Phú Khánh, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, dưới sự chứng minh của Chư tôn đức BTS Phật giáo tỉnh Bình Thuận và Ban Quản Trị Thiền phái Trúc Lâm.

– Ngày 09 tháng 1 (nhằm ngày 14 – 12 – Mậu Tý), Hòa thượng Thích Minh Sơn (1923-2009), thế danh Bùi Văn Muôn, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 40, Tổ sáng lập chùa Đông Sơn (Cần Đước, Long An), viên tịch, thọ 87 tuổi.

– Ngày 15 tháng 1 (nhằm ngày 20 – 12 – Mậu Tý), Hòa thượng Nhựt Đạo – Quảng Chánh (1950-2009), thế danh Đỗ Văn Rửa, húy Nhựt Đạo, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Linh Bửu (Đức Hòa, Long An), viên tịch, trụ thế 59 năm, 34 hạ lạp.

– Từ ngày 04 – 07 tháng Giêng năm Kỷ Sửu, Khóa tu đầu xuân tại Tu viện Bát Nhã (Bảo Lộc, Lâm Đồng) có trên 600 thiền sinh là Phật tử thuộc các đạo tràng, các tiểu thương, sinh viên, học sinh, cán bộ công nhân viên về tham dự.

– Ngày 10, 11, 12 tháng 2 (nhằm ngày 16, 17, 18 – 1 – Kỷ Sửu), Lễ kỷ niệm 675 năm (1334-2009) ngày viên tịch của Đệ Tam Tổ Trúc Lâm – Huyền Quang (1254-1334) tại Khu di tích quốc gia Côn Sơn Kiếp Bạc (huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương).

– Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 20 tháng 2 (nhằm ngày 26 – 1 – Kỷ Sửu), Hòa thượng Hạnh Nhơn – Đỗng Quán (1925-2009) thế danh Đỗ Châu Đức, pháp danh Thị Quảng, tự Hạnh Nhơn, hiệu Đỗng Quán, sinh tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, Thành viên sáng lập Tu viện Nguyên Thiều (Bình Định), viên tịch, thọ 84 tuổi, 53 hạ lạp. Những tác phẩm của Hòa thượng có : Nhân Minh Luận Giáo Khoa, Kinh Kim Cang Giáo Khoa, Lược Sử Các Tổ Đình, Tiểu Sử Danh Tăng, Những Tự Viện Khai Sáng, Tái thiết, Hoằng dương theo hệ phái Lâm Tế Chúc Thánh đã được truy tầm (www.vncphathoc.com).

– Các ngày 7, 8, 9, 10 tháng 3 (nhằm ngày 11, 12, 13, 14 – 2 – Kỷ Sửu), Lễ khánh thành Tổ đình Chúc Thánh tại đường Hai Bà Trưng, TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam. Buổi lễ dưới sự chứng minh của  Hòa thượng Thích Thiện Duyên, Ủy viên HĐTS TW. GHPGVN cùng chư tôn đức tăng ni và hàng ngàn Phật tử về tham dự.

– Ngày 15 tháng 3 (nhằm ngày 19 – 2 – Kỷ Sửu), Lễ Bổ nhiệm trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Tuệ Quang (quận Thủ Đức, TP. HCM) cho Đại đức Thích Trúc Thông Phổ. Chứng minh buổi lễ có Hòa thượng Thích Đắc Pháp, Hòa thượng Thích Như Tín và đại diện Ban Quản trị Thiền phái Trúc Lâm, cùng với sự tham dự của hơn 1.500 Phật tử.

– Ngày 29 tháng 4 (nhằm ngày 05 – 4 – Kỷ Sửu), Hòa thượng Lệ Hồng – Huệ Hà (1936-2009), thế danh Nguyễn Giang Hà, húy Lệ Hồng, hiệu Huệ Hà, sinh tại xã Thạnh Trị, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 42, trụ trì chùa Long Phước (Bạc Liêu), viên tịch, thọ 74 tuổi, 43 hạ lạp.

– Ngày 02 tháng 5 (nhằm ngày 08 – 4 – Kỷ Sửu), Lễ khởi công xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Trí Đức thuộc xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Thiền viện được xây dựng trên diện tích 10,5 hecta, gồm các hạng mục công trình như chánh điện, tổ đường, trai đường, pháp đường, tăng đường, khách đường,…

– Ngày 25 tháng 5 (nhằm ngày 29 – 2 – Kỷ Sửu), Hòa thượng Hồng Đắc – Thiện Huê (1934-2009), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Hội Phước (Cần Đước, Long An), viên tịch, trụ thế 76 năm.

– Ngày 28 tháng 5 (nhằm ngày 05 – 5 – Kỷ Sửu), Hòa thượng Trí Hải – Quảng Liên (1925-2009), thế danh Nguyễn Văn Chính, húy Quảng Liên, tự Bi Hoa, hiệu Trí Hải, sinh tại Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh tông, đời thứ 45, Tổ khai sơn Tu viện Quảng Đức (Thủ Đức – TP. HCM), viên tịch, trụ thế 84 năm, 60 hạ lạp. Tác phẩm phiên dịch và trước tác của Hòa thượng có : kinh Dược Sư, kinh Viên Giác, kinh Nhật Tụng (nghĩa), kinh Vu Lan – Báo Hiếu, Tu Bát Quan Trai Giới, Đại Thừa Khởi Tín Luận, Phật Giáo Hiện Đại, Tư Tưởng Phật Giáo, Bổn Phận Người Phật Tử, Hai Bài Thuyết Pháp Phật Giáo Anh Việt, Phật Giáo và Triết Học Tây Phương, Sử Cương Triết Học Ấn Độ, Duy Thức Học, Trung Quán Luận (Giác Ngộ Online – Mobile).

– Vào lúc 14 giờ 15 phút, ngày 20 tháng 7 (nhằm ngày 28 – 5 – Kỷ Sửu), Ni sư Như Thiện (1920-2009) thế danh Lê Thị Thiệt, pháp danh Như Thiện, sinh tại Sa Đéc, Đồng Tháp, thuộc thiền phái Lâm Tế, trụ trì Tu viện Thường Quang (Đồng Tháp), viên tịch, thọ 90 tuổi. Lúc 8 giờ ngày 21/7/2009, Lễ nhập quan cố Ni sư; đến 14 giờ ngày 22/7/2009, Lễ truy niệm và cung tống kim quan cố Ni sư trà tỳ.

– Ngày 24, 25, 26 tháng 7 (nhằm ngày 03, 04, 05 – 6 – Kỷ Sửu), Hội trại Ban Thanh thiếu niên Phật tử Thủ Đô lần thứ II tại Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên (huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc) có hơn 1.000 trại sinh về dự (BGN-492).

– Ngày 16, 17 tháng 8 (nhằm ngày 26, 27 – 6 – Kỷ Sửu), Tổ đình Giác Lâm ở quận Tân Bình, TP. HCM khai trường Kỳ, do Đại đức Thích Đạt Đức CĐD Phật giáo quận Tân Bình, làm Trưởng Ban tổ chức, Hòa thượng Huệ Trung làm Chủ hương. Cũng năm này, ngày 10 tháng 10, Tổ đình tổ chức Lễ đúc đại hồng chung nặng 1,5 tấn do Bộ xây dựng và các Tổng công ty thuộc Bộ phát tâm cúng dường (BGN-496, BGN-511).

– Ngày 21 và 22 tháng 8, Chư tôn đức Tăng Tổ đình Giác Lâm (quận Tân Bình, TP. HCM) cùng tập thể CB-CNVC Bộ xây dựng tổ chức Đại lễ trai đàn cầu siêu công nhân ngành xây dựng tử nạn trong lao động cùng thập loại cô hồn.

– Ngày 09 tháng 9, Sư cô Huệ Phước được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An quyết định bổ nhiệm trụ trì chùa Long Phước, hiện tại số 178, ấp L  Gạch, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức, tỉnh Long An, theo công văn số 022/QĐ/BTS/VII do Hòa thượng Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ngày 01 tháng 11 (nhằm ngày 15 – 9 – Kỷ Sửu), Hòa thượng Bổn Đô – Thiện Huê (1933-2009) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 44, trụ trì chùa Phước Trường (Bến Lức – Long An), viên tịch, thọ 77 tuổi, 51 hạ lạp (TVPGLA).

– Ngày 15 tháng 11 (nhằm ngày 18 – 7 – Kỷ Sửu), Thiền viện Sùng Phúc ở Tổ 10, phường Cự Khối, quận Long Biên, TP. Hà Nội, làm Lễ khởi công xây dựng : tổ đường, trai đường và giảng đường.

– Ngày 08 tháng 10 năm Kỷ Sửu, Hòa thượng Thường Đoan – Thiện Tường (1943-2009), thế danh Nguyễn Văn Thoại, húy Thường Đoan, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 42, trụ trì chùa Long Phước (Cần Đước, Long An), viên tịch, thọ 67 tuổi.

– Ngày 15 tháng 12 (nhằm ngày 29 – 10 – Kỷ Sửu), Lễ khánh thành Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm (chùa Cái Bầu) thuộc xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Thiền viện được xây dựng trên tổng diện tích 20 ha, có : chánh điện cao 2 tầng rộng 6.000m2, cổng tam quan, nhà tổ, lầu chuông, nhà khách chư Tăng và chư Ni, bến bãi đỗ xe.

– Ngày 26 tháng 12 (nhằm ngày 11 – 11 – Kỷ Sửu), Ni trưởng Tâm Nghiêm – Thể Chánh (1913-2009) thế danh Vương Thị Thu Thảo, pháp danh Tâm Nghiêm, tự Thể Chánh, người tỉnh Thanh Hóa, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, Giám sự Ni viện Diệu Đức (Huế), viên tịch, thọ 96 tuổi, 60 hạ lạp.

– Sách Như Huyễn Thiền Sư Thi Tập Trực chỉ đề cương của Hòa thượng Từ Thông, NXB Văn Nghệ 2009.

– Ni trưởng Nhựt Định – Huyền Huệ (1924-2015) được suy tôn lên ngôi vị Trưởng phân Ban Ni giới TW, thuộc Ban Tăng sự GHPGVN.

– Hòa thượng Trí Thắng – Đồng Huy (1919-2010) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Đại giới đàn Thiện Hòa VI, do BTS Phật giáo tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tổ chức tại Đại Tòng Lâm.

– Thiền viện Phổ Chiếu tại ấp Tân Phú, thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đại trùng tu.

– Tổ đình Giác Lâm tại số 118, đường Lạc Long Quân, phường 9, quận Tân Bình, Tp. HCM mở Trường Hạ (Trường Hương), cuối mùa An cư khai giới đàn phương trượng Huệ Sanh.

2008
01/01/2008

Chương Trình Tặng DVD/CD Phật Học

01/01/2008

Năm 2008 (Mậu Tý – PL.2552)

Năm 2008 (Mậu Tý – PL.2552)

– Ngày 17 tháng 2 (nhằm ngày 11 – 1 – Mậu Tý), Lễ khánh thành Tổ đình Kim Cang tại số 90/1, Quốc lộ 1A, xã Bình Cang, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

– Ngày 19 tháng 1 năm Mậu Tý, Đại đức Thiên Cường – Minh Thường (1952-2008), thế danh Nguyễn Văn Cưởng, húy Thiên Cường, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 44, trụ trì chùa Phước Đức (Tân Trụ, Long An), viên tịch, thọ 60 tuổi.

– Ngày 08 tháng 2 năm Mậu Tý, Hòa thượng Nhựt Tấn – Thiện Quang (1930-2008), thế danh Huỳnh Văn Nhựt, húy Nhựt Tấn, hiệu Từ Quang, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, trụ trì chùa Thiền Đức (Tân Thạnh – Long An), viên tịch, trụ thế 79 năm.

– Ngày 26 tháng 3 (nhằm ngày 19 – 2 – Mậu Tý) Lễ khai móng xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên Ni tại Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, do Ni sư Thuần Giác lãnh đạo xây dựng.

– Ngày 10 tháng 4, môn nhân pháp phái Tổ đình Tây Thiên Di Đà tự tổ chức Lễ khánh thành công trình trùng tu Bảo tháp Tổ sư Thích Tâm Tịnh, Thích Giác Nhiên, Thích Giác Nguyên; mỗi tháp cao 7 tầng.

– Ngày 13 tháng 4, Hòa thượng Thích Từ Tâm (1918-2008), thế danh Trương Văn Lòng, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Phước Long (Cần Đước – Long An), viên tịch, trụ thế 90 năm.

– Ngày 20 tháng 4, Lễ khánh thành Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã ở ngọn núi Trì Giang, thuộc xã Lộc Hòa, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế, do Đại đức Thích Tâm Hạnh trụ trì.

– Vào lúc 8 giờ 00 ngày 29 tháng 4 (nhằm ngày 24 – 3 – Mậu Tý), Thượng tọa Thích Viên Quang (1959-2008) họ Trần, húy Văn Vinh, pháp danh Tâm Huệ, tự Viên Quang, chánh quán xã Thủy An, Tp. Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Trúc Lâm (Tp. Đà Lạt), thị tịch, hưởng dương 50 tuổi, 23 hạ lạp.

– Ngày 28 tháng 5, Lễ khai pháp tại Trường hạ Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên (tỉnh Vĩnh Phúc), dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Thanh Chỉnh. Trường hạ có 114 vị tăng ni.

– Ngày 19 tháng 6, Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng đoàn Làng Mai viếng thăm chư tôn giáo phẩm BTS THPG TP. HCM và giao lưu với văn nghệ sĩ Việt Nam tại văn phòng chùa Ấn Quang (quận 10, TP. HCM) (BGN-438).

– Vào lúc 13 giờ 15 phút ngày 05 tháng 7 (nhằm ngày 03 – 6 – Mậu Tý), Hòa thượng Như An – Huyền Quang (1920-2008) thế danh Lê Đình Nhàn, pháp danh Như An, tự Giải Hòa, hiệu Huyền Quang, sinh tại thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, Đệ tứ Tăng thống GHPGVNTN (Hải Ngoại), thành viên sáng lập Tu viện Nguyên Thiều (Bình Định), viên tịch, thọ 89 tuổi, 69 hạ lạp. Những tác phẩm của Hòa thượng : Thiền Môn Chánh Độ, Sư Tăng và Thế Nhân, Nghi Cúng Chư Tổ và Chư Vị Cao Tăng, Đạo Tràng Công Văn tân soạn, Thiếu Thất Lục Môn, Phật Pháp Hàm Thụ, Pháp Sự Khoa Nghi, Nghi Thức Cúng Giao Thừa,…(LSTTTPLTCT, www.phattuvietnam.net).

– Vào lúc 08 giờ 00 ngày 06 tháng 7 (nhằm ngày 04 – 6 – Mậu Tý), Lễ nhập kim quan cố Hòa thượng Như An – Huyền Quang (1920-2008) diễn ra trang nghiêm tại Tu viện Nguyên Thiều xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Đến 07 giờ 00 ngày 11/7/2008, Lễ cung nghinh kim quan cố Hòa thượng nhập bảo tháp trong khuôn viên Tu viện Nguyên Thiền (www.phattuvietnam.net).

– Vào lúc 12 giờ ngày 11 tháng 8 (nhằm ngày 11 – 7 – Mậu Tý), Ni trưởng Nhựt Hương – Như Chơn (1917-2008), thế danh Nguyễn Thị Mười, húy Nhựt Hương, tự Diệu Chơn – Như Chơn, hiệu Trí Hiển, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, Viện chủ Tổ đình Sắc tứ Linh Thứu (Tiền Giang), viên tịch, thọ 92 tuổi.

– Ngày 14 tháng 8, Lễ khánh thành Giảng đường Thiền viện Linh Chiếu (Long Thành, Đồng Nai), dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Thanh Từ và ngài khai pháp đầu tiên tại giảng đường này.

– Ngày 23 tháng 8 (nhằm ngày 23 – 7 – Mậu Tý), Hòa thượng Phát Huệ (1917-2008), người quê ở Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 41, trụ trì chùa Long Hòa (Vĩnh Long), viên tịch, thọ 82 tuổi.

– Ngày 10 tháng 8 năm Mậu Tý, Hòa thượng Nhựt Thiện – Quảng Nghĩa (1924-2008), thế danh Nguyễn Văn Dần, húy Nhựt Thiện, thuộc dòng Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ  41, Tổ khai sáng chùa Linh Sơn (Đức Hòa, Long An),viên tịch, thọ 85 tuổi.

– Vào lúc 5 giờ 20 phút ngày 15 tháng 9 (nhằm ngày 16 – 8 – Mậu Tý), Hòa thượng Hồng Trung – Huệ Hải (1919-2008) thế danh Nguyễn Trung Tín, pháp danh Hồng Trung, tự Huệ Hải, hiệu Thiện Tín, sinh tại làng Bình Đức, tỉnh Mỹ Tho, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Tổ khai sáng chùa Từ Quang (Thủ Đức, Tp. HCM), viên tịch, thọ 90 tuổi, 70 hạ lạp.

– Ngày 07 tháng 10 (nhằm ngày 09 – 9 – Mậu Tý), Ni trưởng Quảng Định – Như Lý (1932-2008), thế danh Nguyễn Thị Quy, húy Quảng Định, tự Châu Tánh, hiệu Như Lý, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 45, trụ trì chùa Long Hoa (Cần Đước, Long An), viên tịch, thọ 77 tuổi, 50 hạ lạp.

– Vào lúc 01 giờ 15 phút ngày 19 tháng 10 (nhằm ngày 21 – 9 – Mậu Tý), Hòa thượng Lệ Minh – Hoằng Từ (1941-2008) thế danh Huỳnh Văn Minh, húy Lệ Minh, pháp danh Hoằng Từ, hiệu Hân Mẫn, sinh tại Gia Định – Sài Gòn, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Phật Ân (Tiền Giang), viên tịch, thọ 62 tuổi, 42 hạ lạp.

– Ngày 19 tháng 10, Đại đức Thích Đạt Ma Ngộ Trân sáng lập Thiền tự Từ Quang tại ấp 3, xã Sông Xoài, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Ngày 01, 02 tháng 11, chùa Từ Tân (quận Tân Bình, TP. HCM) Thượng tọa Trụ trì Thích Viên Giác tổ chức khóa tu thiền và khí công, có 150 thiền sinh là doanh nhân và nhân viên văn ph ng về tham dự (BGN-458).

– Ngày 03 tháng 11, Tăng chúng chùa Tra Am tổ chức Lễ húy nhật và khánh tạ bảo tháp Tổ sư Viên Thành (tỉnh Thừa Thiên – Huế), dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Đức Phương.

– Ngày 16 tháng 11 (nhằm ngày 19 – 10 – Mậu Tý), Lễ húy nhật Tổ sư Nguyên Thiều – Siêu Bạch và đặt đá trùng tu Tổ đình Quốc Ân Kim Cang ở ấp Bình Lục, xã Tân Bình , huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

– Ngày 25 tháng 11, Hội thảo khoa học “Đức vua – Phật Hoàng Trần Nhân Tông Cuộc đời và sự nghiệp” tại Hội trường khách sạn Thương Mại, thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, do GHPGVN và Viện Khoa học xã hội VN phối hợp tổ chức (BGN-461).

– Ngày 06 tháng 12 (nhằm ngày 10 – 11 – Mậu Tý) Lễ đặt đá xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Viên Ngộ tại núi Đá Chồng, thị trấn Khánh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Buổi lễ dưới sự chứng minh của chư tôn giáo phẩm GHPGVN, BTS GHPGVN tỉnh Ninh Thuận, đại diện Ban quản trị Thiền phái Trúc Lâm, cùng với quan khách đại diện chính quyền, mặt trận và các ban ngành đoàn thể các cấp…đến tham dự. Thiền viện do Đại đức Thích Thông Huệ trụ trì. Toàn khu Thiền viện gồm 23 hạng mục công trình như : cổng tam quan, chánh điện, nhà tổ, thiền đường,…

– Ngày 07 tháng 12 (nhằm ngày 11 – 11 – Mậu Tý), Hòa thượng Chơn An – Chánh Liêm (1937-2008) thế danh Nguyễn Văn Trú, pháp danh Chơn An, tự Chánh Liêm, quê ở làng Đạo Đầu, xã Triệu Trung, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 40, trụ trì chùa Châu Quang (Đông Hà), viên tịch, thọ 71 tuổi, 43 hạ lạp.

– Ngày 17 tháng 12 (nhằm ngày 21 – 11 – Mậu Tý), tại Tổ đình Thiên Thai Thiền Tôn (Huế), chư tôn đức tăng ni và Phật tử cử hành Lễ húy nhật lần thứ 266 (1742-2008) của Tổ sư Thiệt Diệu – Liễu Quán.

– Ngày 08 tháng 12 năm Mậu Tý, Hòa thượng Nhuận Đức – Hóa Duyên (?-2008), thế danh Phạm Hữu Đức, húy Nhuận Đức, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh tông, đời thứ 46, trụ trì chùa Long An (tỉnh Long An), viên tịch, thọ 91 tuổi.

– Hòa thượng Thích Thông Quang (1931-2008), thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Tổ sáng lập Thiền viện Chơn Tánh (TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), viên tịch, thọ 78 tuổi.

– Hòa thượng Quảng Động – Phước Thành (1918-2014) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Đại giới đàn Giác Tánh tại Tổ đình Long Khánh, Tp. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Sách Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải của tác giả Hòa thượng Thích Thanh Từ, Nhà xuất bản Tổng Hợp TP. HCM năm 2008

– Cư sĩ Tăng Quang (1930-2008) sinh tại ấp Song Thanh, xã Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, Phó Trưởng ban Kinh tế – Tài chánh T.Ư GHPGVN, lâm chung. Sinh tiền, cư sĩ đã quy y thọ giáo với Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ, được ban pháp danh Minh Chiếu, nối dòng thiền Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43 (BGN-435).

– Hòa thượng  Như Minh – Pháp Chiếu (1935-2014) được suy cử làm Trưởng BTS Phật giáo Lâm Đồng kiêm Hiệu Trưởng trường Trung cấp Phật học Lâm Đồng.

– Hòa thượng Quảng Trí – Đạt Đạo (1951-2013) được Giáo hội suy cử chức vụ Phó Viện trưởng đặc trách tổ chức – Hành chánh Học viện PGVN tại Tp. HCM.

2007
15/07/2007

BQT Pháp Thí Hội Phát Nguyện

  • Lễ tác bạch và Cung thỉnh Viện Chủ Nghĩa Hòa Tự chứng minh phật sự Pháp Thí trên mạng Internet.
  • 15/7/2007: BQT phát nguyện Pháp Thí. Sưu tầm, phân loại dữ liệu pháp âm, kinh sách…
01/01/2007

Năm 2007 (Đinh Hợi – PL.2551)

Năm 2007 (Đinh Hợi – PL.2551)

– Ngày 22 tháng 2 (nhằm ngày 06 – 1 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Phái đoàn Phật giáo Quốc Tế Làng Mai thăm viếng T.Ư GHPGVN tại Thiền viện Quảng Đức (TP. HCM). Cùng ngày này, Thiền sư và phái đoàn thăm viếng BTS THPG TP. HCM tại chùa Ấn Quang (BGN-366).

– Ngày 23 tháng 2 (nhằm ngày 07 – 1 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh thuyết pháp tại chùa Vĩnh Nghiêm (TP. HCM).

Ngày 24 tháng 2 (nhằm ngày 08 – 1 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai đi Tu viện Bát Nhã (Bảo Lộc, Lâm Đồng).

– Ngày 26 tháng 2 (nhằm ngày 10 – 1 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai thăm viếng BTS THPG tỉnh Lâm Đồng, chia sẻ pháp thoại với tăng ni sinh Trường Cao Trung Phật học Lâm Đồng tại chùa Linh Sơn. Sau đó, thăm viếng chùa Linh Quang (Lâm Đồng).

– Ngày 27 tháng 2 (nhằm ngày 11 – 1 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh thuyết pháp tại chùa Vạn Hạnh (Lâm Đồng). Sau đó, Thiền sư và Tăng thân Làng Mai thăm viếng Thiền viện Trúc Lâm tại tỉnh Lâm Đồng.

– Tháng 2, chùa Pháp Thành 1 ở số 192/14, đường Phạm Văn Chí, phường 4, quận 6, TP. HCM, khai khóa thiền thất (hàng tháng, từ ngày 03 – 09 âl), chùa do Sư cô An Hương trụ trì.

– Ngày 28 – 2 đến ngày 04 – 3, Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai mở Khóa tu cư sĩ tại Tu viện Bát Nhã (Bảo Lộc – Lâm Đồng).

– Ngày 02 tháng 3 (nhằm ngày 14 – 1 – Đinh Hợi), Hòa thượng Viên Khánh – Thông Bửu (1936-2007) thế danh Trần Thượng Hiền, pháp danh Đồng Phước, tự Thông Bửu, hiệu Viên Khánh, sinh tại xã Xuân Quang 2, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, trụ trì Tổ đình Quán Thế Âm (TP. HCM), viên tịch, thọ 72 tuổi, 47 giới lạp. Những tác phẩm của Hòa thượng : Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Giảng luận (2 tập), Phổ Môn giảng luận, Phật Pháp Căn Bản, 25 bài giảng Phật pháp, Quản Trị học Phật giáo, 36 pháp điều thân, Giảng Sư bảy đức tính ưu việt, Truyện Ngắn Triết Lý Phật Giáo bằng tranh, Thi Phẩm Từng Giọt Ma-ni (LSTTTPLTCT).

– Ngày 02 tháng 3 (nhằm ngày 14 – 1 – Đinh Hợi), Ni sư Nhật Hóa – Diệu Giáo (1924-2007), thế danh Trần Thị Hóa, húy Nhật Hóa, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, Tổ khai sơn chùa Đức Quang (Đức Hòa, Long An), viên tịch, thọ 84 tuổi.

– Ngày 05 – 3 đến ngày 09 – 3, Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai mở Khóa tu tu sĩ tại Tu viện Bát Nhã (Bảo Lộc – Lâm  Đồng). Sau đó, ngày 10, 12, 13 – 3, Khai mở Giới đàn Phương Bối cũng tại Tu viện Bát Nhã.

– Ngày 26 tháng 1 năm Đinh Hợi, Hòa thượng Nhựt Chẩn – Thiện Năng (1935-2007), thế danh Nguyễn Văn Chẩn, húy Nhựt Chẩn, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Hưng Long (Cần Đước, Long An), viên tịch, thọ 73 tuổi.

– Ngày 15 tháng 3 (nhằm ngày 27 – 1 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh chia sẻ pháp  thoại với doanh nhân TP. HCM.

– Ngày 16 tháng 3, Thiền sư Thích Nhất Hạnh thuyết pháp  tại Tổ đình Vĩnh Nghiêm. Sau đó, Thiền sư cùng Tăng thân Làng Mai dự Lễ Đại Trai Đàn Chẩn Tế tại Tổ đình Vĩnh Nghiêm.

– Ngày 17 tháng 3, Tổ đình Kim Cang tại số 90/1, Quốc lộ 1A, xã Bình Cang, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, đại trùng tu.

– Ngày 20 tháng 3 (nhằm ngày 02 – 2 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh chia sẻ pháp  thoại với Tăng ni và Phật tử tại Đại Tòng Lâm (Bà Rịa – Vũng Tàu).

– Ngày 21 tháng 3 (nhằm ngày 03 – 2 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh chia sẻ pháp  thoại với nhân sĩ trí thức tại TP. HCM.

– Ngày 22 tháng 3 (nhằm ngày 04 – 2 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh chia sẻ pháp  thoại với Tăng ni sinh và Phật tử tại chùa Phổ Quang (TP. HCM).

– Ngày 23 tháng 3 (nhằm ngày 05 – 2 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai thăm viếng Tổ đình Từ Đàm và BTS THPG tỉnh Thừa Thiên – Huế.

– Ngày 25 tháng 3 (nhằm ngày 07 – 2 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh chia sẻ pháp thoại với Tăng ni và Phật tử tại Tổ đình Từ Hiếu tỉnh Thừa Thiên – Huế. Hôm sau, ngày 26 – 3, Thiền sư và Tăng thân Làng Mai dự Lễ kỵ Tổ tại Tổ đình Từ Hiếu, Thiền sư có pháp thoại đặc biệt.

– Ngày 26 tháng 3, Lễ khánh thành Đền thờ Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Sơ Tổ thiền phái Trúc Lâm, và Công chúa Huyền Trân ở núi Ngũ Phong, xã Thủy An, TP. Huế.

– Ngày 10 tháng 2 năm Đinh Hợi, Thượng tọa Nhựt Tám – Huệ Thành (1924-2007), thế danh Nguyễn Văn Tám, húy Nhựt Tám, Tổ sáng lập chùa Phước Linh (Cần Đước, Long An), viên tịch, thọ 83 tuổi.

– Từ ngày 27 – 30 tháng 3, Tổ đình Từ Hiếu (Huế) tổ chức khóa tu cho Tăng Ni do Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai hướng dẫn.

– Ngày 31 tháng 3, Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai cùng Tăng Ni (ở Huế) hành nghi thức Cổ Phật khất thực từ Tổ đình Từ Hiếu đến Đàn Nam Giao.

– Ngày 04 tháng 4, Thiền sư Thích Nhất Hạnh thuyết pháp tại Đại Trai Đàn Chẩn Tế ở chùa Diệu Đế (Huế).

– Ngày 05 tháng 4 (nhằm ngày 18 – 2 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai thăm viếng chùa Pháp Lâm và BTS THPG TP. Đà Nẳng. Hôm sau (ngày 06), Thiền sư ban đạo từ tại Lễ hội Quán Thế Âm.

– Ngày 09 tháng 4 (nhằm ngày 22 – 2 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh chia sẻ pháp thoại với Tăng Ni và Phật tử tại chùa Pháp Lâm (TP. Đà Nẳng). Hôm sau (ngày 10), Thiền sư có pháp thoại với nhân sĩ trí thức TP. Đà Nẳng.

– Ngày 11 tháng 4 (nhằm ngày 24 – 2 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai thăm viếng Tổ đình Chúc Thánh, chùa Vạn Đức, chùa Pháp Lâm và phố cổ Hội An, Thiền sư có pháp thoại với Tăng Ni và Phật tử tại chùa Pháp Bảo.

– Ngày 13 tháng 4 (nhằm ngày 26 – 2 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai thăm viếng chùa Thanh Sơn và chùa Từ Đức (Cam Ranh – Nha Trang).

– Ngày 14 tháng 4 (nhằm ngày 27 – 2 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai thăm viếng chùa Long Sơn và BTS THPG tỉnh Khánh Hòa, Thiền sư chia sẻ pháp thoại với Tăng Ni và Phật tử tại chùa này. Ngày 15, Thiền sư chia sẻ pháp thoại với sinh viên học sinh và người trẻ tại chùa Long Sơn.

– Vào lúc 18 giờ ngày 16 tháng 4 (nhằm ngày 29 – 2 – Đinh Hợi), Ni trưởng Tâm Ý – Hồng Chí (1913-2007) thế danh Đặng Thị Mười, húy Hồng Chí, tự Tâm Ý, hiệu Chí Kiên, sinh tại Định Tường (Tiền Giang), thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 40, viện chủ chùa Thiền Quang (Tân Bình, Tp. HCM), viên tịch, thọ 95 tuổi, 75 hạ lạp. Những tác phẩm của Ni trưởng : Thành Duy Thức Luận Thuật Ký, Tâm Chúng Sanh, Về Thăm Xứ Phật, Từ Quang Thi (2 tập).

– Ngày 17 tháng 4 (nhằm ngày 01 – 3 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai thăm viếng T.Ư GHPGVN và BTS THPG TP Hà Nội, thăm viếng Ban Tôn giáo Chính Phủ và Vụ Phật giáo.

– Ngày 18 tháng 4 (nhằm ngày 02 – 3 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai thăm viếng Phật học viện PGVN tại Sóc Sơn, Hà Nội và chia sẻ pháp thoại với tăng ni sinh tại đây.

– Ngày 22 tháng 4, Lễ tưởng niệm cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám (1897-1969) tại Thiền viện Vạn Hạnh (quận Phú Nhuận, Tp.HCM) do Ban HDPT T.Ư và Ban HDPT TP. HCM phối hợp tổ chức.

– Từ ngày 23 – 4 đến ngày 5 – 5, Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Phái đoàn Tăng thân Làng Mai thăm viếng Văn Miếu (Hà Nội), chùa Bằng (Linh Tiên tự), chùa Phúc Chỉnh (Ninh Bình), chùa Đồng Đắc, cố đô

Hoa Lư, chùa Một Cột, hồ Hoàn Kiếm, chùa Trung Hậu (Vĩnh Phúc)…

– Chiều ngày 05 tháng 5 (nhằm ngày 19 – 3 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh và đại diện đoàn Tăng thân Làng Mai tới chào xã giao với Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tại Phủ chủ tịch (BGN-366).

– Tối ngày 07 tháng 5 (nhằm ngày 21 – 3 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh có pháp thoại cho người nước ngoài tại Hà Nội.

– Ngày 09 tháng 5 (nhằm ngày 23 – 3 – Đinh Hợi), Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Phái đoàn Tăng thân Làng Mai rời Hà Nội đi Hồng Kông, kết thúc chuyến viếng thăm, hoằng pháp tại Việt Nam.

– Ngày 13 tháng 4 năm Đinh Hợi, Hòa thượng Tâm Hộ – Minh Đức (1919-2007), thế danh Lê Huấn, húy Tâm Hộ, tự Thiện Thành, hiệu Minh Đức, sinh tại tổng Bình Thạnh, phủ Bình Thuận, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, Tổ khai sơn Cổ Lai viện (Bình Thuận), viên tịch, thọ 89 tuổi. Khi sinh tiền, Hòa thượng được Nhà nước CHXHCNVN tặng thưởng nhiều huân chương cao quý: Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Độc lập hạng ba, Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân tộc,…

– Ngày 28 tháng 5 (nhằm ngày 12 – 4 – Đinh Hợi), Hòa thượng Tâm Lượng – Từ Mẫn (1932-2007) thế danh Nguyễn Hữu Độ, pháp danh Tâm Lượng, tự Từ Mẫn, sinh tại thôn Thuận Hòa, xã Hương Phong, huyện Thuận Hóa, tỉnh Thừa Thiên Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Phổ Đà (Đà Nẵng), viên tịch, trụ thế 76 năm, 52 tuổi đạo.

– Ngày 05 tháng 5 năm Đinh Hợi, Hòa thượng Từ Thông đến tỉnh Lâm Đồng khai sơn xây dựng Liễu Liễu đường trên đồi Tà Dương, thôn Lạc Sơn, xã Phú Sơn, huyện Lâm Hà.

– Ngày 25 tháng 6 (nhằm ngày 11 – 5 – Đinh Hợi), Tổ đình Giác Lâm (quận Tân Bình, Tp. HCM) tổ chức Lễ húy nhật lần thứ 10 Hòa thượng Lệ Sành – Huệ Sanh và Bổ nhiệm Ban trụ trì Tổ đình Giác Lâm cho Hòa thượng Thích Thiện Trung làm Viện chủ, ĐĐ. Thích Từ Tánh làm trụ trì.

– Ngày 28 tháng 7 (nhằm ngày 15 – 5 – Đinh Hợi), Thiền viện Sùng Phúc ở Tổ 10, phường Cự Khối, quận Long Biên, TP. Hà Nội, tổ chức Lễ thành lập Đoàn Thanh Thiếu Niên Phật tử Trần Nhân Tông, có khoảng 30 cháu.

– Ngày 30 tháng 8, Chùa Bửu Hưng (chùa Cả Cát) hiện tại xã Long Thắng, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, được công nhận là “Di tích quốc gia”.

– Ngày 24 tháng 9 (nhằm ngày 14 – 8 – Đinh Hợi), Ni sư Như Tiến – Hạnh Đạo (1943-2007) thế danh Phạm Thị Oanh, pháp danh Như Tiến, hiệu Chủng Hoa, sinh tại làng Phú Nham Đông, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Hòa Quang (Quảng Nam), viên tịch, thọ 65 tuổi, 32 hạ lạp.

– Ngày 30 tháng 11 (nhằm ngày 21 – 10 – Đinh Hợi), Hòa thượng Trừng Chiếu – Từ Mãn (1918-2007) họ Hoàng, húy Ngọc Chân, pháp danh Trừng Chiếu, tự Hưng Phước, đạo hiệu Từ Mãn, sinh tại làng Đại Lộc, xã Điển Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì chùa Linh Sơn (TP Đà Lạt), viên tịch, thọ 90 tuổi, 63 hạ lạp.

– Ngày 07 tháng 11 năm Đinh Hợi, Hòa thượng Thích Hồng Hải (1915-2007), thế danh Nguyễn Văn Quán, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Kim Long (Đức Hòa, Long An), viên tịch, trụ thế 93 năm.

– Tượng Bồ-đề Đạt-Ma bằng tóc lớn nhất Việt Nam (ở chùa Tây Tạng) được xác lập kỷ lục. Tượng cao 2,32m, ngang 1,74m, do ông Nguyễn Khắc Bửu, ông Nguyễn Chi Cơ và Tôn Ngọc An tôn tạo trong 2 năm 1982, 1983 (BGN-409).

– Sách Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông (ở chùa Vĩnh Nghiêm, TP. HCM) viết trên giấy lớn nhất Việt Nam, được xác lập kỷ lục. Sách có kích thước rộng 1,78m, dài 2,7m, do cư sĩ Đặng Như Lan viết năm 1966 (BGN-409).

– Sư cô Hạnh Nhã xây dựng Thiền viện Giác Tâm (chùa Cái Bầu) tỉnh Quảng Ninh.

– Hòa thượng Đồng Tín – Thông Niệm – Thiện Quý (1943-2007) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, trụ trì chùa Đông Hưng (quận 2, Tp.HCM), viên tịch, thọ 65 tuổi.

– Đại đức Chúc Đạo – Tâm Thông kế thế trụ trì Tổ đình Đông Hưng nay tại số 201, đường Lương Định Của, quận 2, Tp. HCM.

– Hòa thượng Như Mẫn – Hoàn Phú (1920-2007) thế danh Quảng Văn Minh, pháp danh Như Mẫn, tự Giải Phật, hiệu Hoàn Phú, sinh tại làng Thiện Mỹ, tổng Bình Lễ, quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Phước Hậu (Tam Bình, Vĩnh Long), viên tịch, thọ 88 tuổi, 68 hạ lạp.

– Hòa thượng Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012) được suy tôn vào ngôi vị Phó pháp chủ HĐCM GHPGVN.

– Thượng tọa Như Hảo – Quảng Tâm (1947-2010) được cung cử làm trụ trì Tổ đình Sắc tứ Từ Lâm (Quảng Ngãi), đồng thời đảm nhiệm cương vị trưởng Ban quản trị Môn phong Tổ đình.

– Chùa Tân Phước tại Ô 5, khu B, thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, được Sư cô Lệ Từ (1968-?) trụ trì, đại trùng tu : chánh điện, tổ đường, trai đường.

– Hòa thượng Thích Minh Phước (1938-2007), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ,  Tổ sáng lập chùa Liên Trì (Tp.Vũng Tàu), viên tịch, thọ 70 tuổi.

– Thượng tọa Nhật Cao – Huệ Hiền (1955-2013) được Môn phong pháp phái đề cử đảm nhiệm trụ trì Tổ đình Long Thiền tọa lạc tại số K2/3B, ấp Tân Bình, phường Bửu Hòa, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

– Hòa thượng Quảng Trai – Chí Đạo (1945-2014) được suy cử làm Ủy viên HĐTS GHPGVN (2007-2012).

– Thượng tọa Lệ Minh – Hoằng Từ (1941-2008) được cung thỉnh kiêm trụ trì chùa Kim Liên nay tại phường 8, Tp. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

2006
01/01/2006

Năm 2006 (Bính Tuất – PL.2550)

Năm 2006 (Bính Tuất – PL.2550)

– Ngày 16 tháng 3, Đại đức Thích Huệ Phát (1975-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Giác Nguyên nay tại số 146, đường Nguyễn An Ninh, khu phố 3, thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, theo quyết định số 160/QĐ/BTS/VI do Thượng tọa Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ngày 28 tháng 3 (nhằm ngày 27 – 2 – Bính Tuất), Lễ khánh thành chùa Hòa Quang tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, chùa do Ni sư Hạnh Đạo (1943-2007) trụ trì.

– Ngày 30 tháng 3 (nhằm ngày 02 – 3 – Bính Tuất), Lễ đặt đá xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã tại khu vực hồ Truồi thuộc xã Lộc H a, huyện Phú Lộc, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, do Đại đức Thích Tâm Hạnh trụ trì.

– Ngày 07 tháng 4 (nhằm ngày 10 – 3 – Bính Tuất), Hòa thượng Thiên Thái – Tâm Hòa (1923-2006) thế danh Hoàng Hữu Dung, pháp danh Tâm Hòa, tự Thiên Thái, sinh tại làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Thiên Minh (Huế), viên tịch, thọ 84 tuổi, 60 hạ lạp.

– Ngày 23 tháng 4, Đại đức Thích Thiện Tài được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An quyết định bổ nhiệm trụ trì chùa Mỹ Phước, tại số 58, ấp 2, xã Phước Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An, theo công văn số 203/QĐ/BTS/VI do Thượng tọa Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ngày 15 tháng 4 năm Bính Tuất, Phật tử tại Thiền viện Chơn Không (Núi Lớn – Vũng Tàu) phụng lập bia, viết tiểu sử Sơ Tổ  Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử – Trần Nhân Tông (1258-1308).

Ngày 18 tháng 5, Đại đức Thích Thiện Hữu (1934-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Tam Bửu, tọa lạc tại số 78, ấp 3, xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, theo quyết định số 257/QĐ/BTS/VI do Thượng tọa Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ngày 18 tháng 5, Đại đức Thích Thiện Hữu (1966-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Thiên Phước, tọa lạc tại số 22F, ấp Bình Thiện, xã Long Trạch, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, tại quyết định số 255/QĐ/BTS/VI do Hòa thượng Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ngày 18 tháng 5, Thượng tọa Thích Bửu Tâm (1953-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Định Phước, tại số 243, ấp 1A, xã Tân Trạch, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, theo công văn số 256/QĐ/BTS/VI do Thượng tọa Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ngày 18 tháng 5, Thượng tọa Thích Đức Hảo được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Phổ An, tọa lạc tại số 15, ấp Long Thanh, xã Long Trạch, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, theo quyết định số 254/QĐ/BTS/VI do Thượng tọa Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ngày 27 tháng 5, Thủ tướng Phan Văn Khải và phu nhân viếng thăm Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử (chùa Lân, thuộc thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh), Thủ tướng và phu nhân đã dâng hương lễ Phật, tham quan quả cầu đá ru-bi lớn nhất nước (BGN-334).

– Ngày 16 tháng 7 năm Bính Tuất, Hòa thượng Như Trực – Trí Giác (1930-2006) thế danh Lương Năng, pháp danh Như Trực, hiệu Trí Giác, sinh tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Linh Thứu (Lâm Đồng), viên tịch, thọ 77 tuổi.

– Ngày 17 tháng 7, Ni sư Thường Thanh – Diệu Nhàn (1947-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Long Thành tại số 235, tổ 4, ấp Bình Tả 1, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, theo quyết định số 313/QĐ/BTS/VI do Thượng tọa Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

Ngày 20 tháng 7 (nhằm ngày 26 – 6 – Bính Tuất), Ni trưởng Diệu Liên – Như Hoa (1925-2006) thế danh Hứa Thị Hai, pháp danh Diệu Liên, tự Chơn Diệu, hiệu Như Hoa, sinh tại làng Tân Nhứt, Chợ Lớn, Sài Gòn, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, Tổ khai sơn Vạn Thạnh Ni tự (Nha Trang), viên tịch, thọ 82 tuổi, 60 hạ lạp.

– Ngày 24 tháng 7, Đại đức Thích Huệ Thanh (1947-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Giác Tánh nay tại ấp Long Phú, xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, theo quyết định số 231/QĐ/BTS/VI do Thượng tọa Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ngày 05 tháng 8, Đại đức Thích Chơn Tánh (1981-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Quan Âm tại số 377, ấp Rừng Dầu, xã Mỹ Hạnh Bắc, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, theo quyết định số 357/QĐ/BTS/VI do Thượng tọa Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ngày 16 tháng 8 (nhằm ngày 23 – 7 – Bính Tuất), Ni trưởng Nhựt Thiện – Như Bổn (1926-2006) thế danh Đặng Thị Thiện,  húy Nhựt Thiện, tự Như Bổn, hiệu Viên Như, nguyên quán tại tỉnh Sông Bé, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41,  Viện chủ Tổ đình Kim Sơn (TP. HCM), viên tịch, trụ thế 81 năm, 60 tuổi đạo.

– Ngày 18 tháng 8, Đại đức Thích Thiện Mẫn (1940-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Phước Linh tại ấp An Hiệp, xã An Ninh Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, theo quyết định số 341/QĐ/BTS/VI do Thượng tọa Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ngày 22 tháng 8, Đại đức Thích Bửu Thiện (1951-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Phước Hậu tại số 674, ấp Chánh, xã Đức Lập Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, theo quyết định số 360/QĐ/BTS/VI do Thượng tọa Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ngày 22 tháng 8, Đại đức Thích Nhựt Quả (1957-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Linh Phước tại số 1, ấp Thôi Môi, xã Hòa Khánh Đông, thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, theo quyết định số 355/QĐ/BTS/VI do Thượng tọa Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

Ngày 29 tháng 8, Đại đức Thích Trí Chánh (1950-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Giác Nguyên nay tại số 089, ấp Tân Khánh, xã Tân Hiệp, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, theo quyết định số 382/QĐ/BTS/VI do Thượng tọa Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ngày 29 tháng 8, Đại đức Thích Huệ Niệm (1950-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Giác Tịnh nay tại số 345, tổ 10, ấp Thuận Nam, xã Thuận Thành, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, theo quyết định số 371/QĐ/BTS/VI do Thượng tọa Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ngày 29 tháng 8, Thượng tọa Lệ Thắng – Huệ Bạch (1945-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Linh Sơn nay tại ấp Tây, xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, theo quyết định số 381/QĐ/BTS/VI do Thượng tọa Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ngày 18 tháng 9 (nhằm ngày 26 – 7 – Bính Tuất) Lễ đặt đá trùng tu Thiền viện Chơn Chiếu thuộc thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (TTVN).

– Ngày 23 tháng 10 (nhằm ngày 02 – 9 – Bính Tuất), Ni trưởng Tâm Niệm – Như Trí (1918-2006) thế danh Lê Thị Thiền Minh, húy Tâm Niệm, hiệu Như Trí, sinh tại Thủ Dầu Một, Bình Dương, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh tông, đời thứ 43, Viện chủ chùa Thiên Long (TP. HCM), viên tịch, thọ 88 tuổi, 66 hạ lạp.

– Ngày 24 tháng 11 (nhằm ngày 04 – 10 – Bính Tuất), Ni trưởng Tâm Hồng – Từ Hương (1917-2006) thế danh Hoàng Thị Phù Dung, pháp danh Tâm Hồng, tự Từ Hương, hiệu Diệu Hòa, sinh tại làng Tây Giang, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Linh Phong (Đà Lạt), viên tịch, thọ 90 tuổi.

– Ngày 22 tháng 11 năm Bính Tuất, Tổ đình Bảo Tịnh tại phường 3, TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, tổ chức Lể tưởng niệm lần thứ 269 (17422011) ngày Tổ sư Thiệt Diệu – Liễu Quán viên tịch.

– Ngày 27 tháng 11 năm Bính Tuất, Lễ đặt đá trùng tu Thiền viện Hiện Quang tại Tổ 5, ấp Miễu, xã Phước Tân, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Ngày 26 tháng 12, Đại đức Thích Lệ Thông (1976-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Thiền Đức tại ấp Kinh Giữa, xã Nhơn Ninh, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An, theo quyết định số 049/QĐ/BTS/VI do Thượng tọa Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ni sư Huệ Phước (1933-?) kế thế trụ trì Linh Phong Ni tự (chùa Sư Nữ) tại số 72C, đường Hoàng Hoa Thám, phường 10, TP. Đà Lạt.

– Thiền viện Linh Chiếu tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, thành lập đạo tràng Phật tử tu tập thiền, sinh hoạt mỗi tháng 1 ngày.

– Thiền thất Phúc Trường ở số 20/22, đường Phan Đăng Lưu, ấp 3, xã Tân An, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, đổi hiệu thành Thiền viện Phúc Trường, do Sư cô Hạnh Nguyên trụ trì (từ năm 1998 đến nay).

– Hòa thượng Nhật Tín – Thiện Từ (1910-2006) thế danh Dương Văn Trượng, húy Nhật Tín, hiệu Thiện Từ, sinh tại làng Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh Châu Đốc, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Phước Tường (Vĩnh Long), viên tịch, thọ 96 tuổi.

– Hòa thượng Trí Thắng – Đồng Huy (1919-2010) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Đại giới đàn Thiện Hòa V, do BTS Phật giáo tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tổ chức tại Đại Tòng Lâm.

– Thượng tọa Chơn Pháp – Tâm Nguyên (1945-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Linh Phước, nay tại số 64, ấp Vạn Phước, xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, theo quyết định số 261/QĐ/BTS/VI do Thượng tọa Thích Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

2005
01/01/2005

Năm 2005 (Ất Dậu – PL.2549)

Năm 2005 (Ất Dậu – PL.2549)

– Ngày 12 tháng 1, Thiền sư Thích Nhất Hạnh cùng phái đoàn Tăng thân Làng Mai được hàng ngàn tăng ni, Phật tử thủ đô cung rước về chùa Bồ Đề (Gia Lâm – Hà Nội). Buổi chiều, Thiền sư có buổi tiếp xúc với các báo chí Việt Nam (BGN-260).

– Ngày 25 tháng 1, Thiền sư Thích Nhất Hạnh cùng phái đoàn Tăng thân Làng Mai thăm viếng chùa Vĩnh Nghiêm ở phường 7, quận 3, Tp. HCM. Tại đây, Thiền sư đã thuyết giảng và chia sẻ với tăng ni sinh Trường Cao Trung Phật học TP. HCM.

– Ngày 26 tháng 1, Thiền sư Thích Nhất Hạnh và phái đoàn Tăng thân Làng Mai thăm viếng thiền viện Vạn Hạnh. Thiền sư đã thuyết giảng và chia sẻ với tăng ni VNCPHVN và tăng ni sinh HVPGVN TP. HCM.

– Ngày 27 tháng 1, Thiền sư Thích Nhất Hạnh cùng phái đoàn Tăng thân Làng Mai thăm viếng tịnh xá Trung Tâm (TP. HCM).  Tại đây, Thiền sư  thuyết pháp cho tăng ni Hệ phái Khất sĩ.

– Ngày 30 tháng 1, Thiền sư Thích Nhất Hạnh và hơn 1.000 tăng ni tại khóa tu chùa Hoằng Pháp (Hóc Môn, TP. HCM) thực hành nghi thức Cổ Phật Khất Thực.

– Ngày 02 tháng 2, tại chùa Hoằng Pháp (Hóc Môn) Thiền sư Thích Nhất Hạnh thuyết pháp với đề tài “Người thân tôi chết, bây giờ ở đâu ?”.

– Ngày 04 tháng 2, tại hội trường Học viện Hành chánh Quốc gia TP. HCM, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã có buổi nói chuyện về đề tài “Tương lai của đạo Bụt ở Âu, Úc và Mỹ Châu” cho hơn 1.000 cử tọa là các nhà nghiên cứu, các chính khách và giới tăng ni, Phật tử.

– Ngày 20 tháng 2, tại chùa Từ Đàm (Huế), Thiền sư Thích Nhất Hạnh thuyết pháp cho tăng ni và Phật tử với đề tài “Tương lai và sự phát triển của Phật giáo tại Tây Phương”.

– Ngày 21 và 24 tháng 2, Thiền sư Thích Nhất Hạnh cùng Phái đoàn Tăng thân Làng Mai thăm viếng chùa Báo Quốc tại Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, Thiền sư thuyết pháp và chia sẻ với tăng ni sinh Trường TCPH – Huế.

– Ngày 25 tháng 2, Thiền sư Thích Nhất Hạnh cùng Phái đoàn Tăng thân Làng Mai thăm viếng chùa Hồng Đức, Thiền sư thuyết pháp và chia sẻ với tăng ni sinh HVPGVN tại Huế.

– Ngày 26 tháng 2 (nhằm ngày 18 – 1 – Ất Dậu), Hòa thượng Thích Thanh Từ (1924-?) chứng minh Lễ khai pháp và ban thời pháp đầu tiên tại Thiền viện Sùng Phúc ở Tổ 10, phường Cự Khối, quận Long Biên, TP. Hà Nội, có hơn 1.500 người về dự.

– Ngày 27 tháng 2, Thiền sư Thích Nhất Hạnh cùng Phái đoàn Tăng thân Làng Mai thăm viếng chùa Linh Mụ (Huế), Thiền sư thuyết pháp với đề tài “Tuệ giác Phật giáo trong truyện Kiều và sự áp dụng vào đời sống hàng ngày”.

– Ngày 28 tháng 2, Lễ đại tường Cố Hòa thượng Như Bình – Giải An (1914-2003) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, Trưởng BTS PG tỉnh Quảng Ngãi.

– Ngày 05 tháng 3, Thiền sư Thích Nhất Hạnh thuyết pháp tại Huế với đề tài “Bản chất của tình yêu”.

– Ngày 05 tháng 3 (nhằm ngày 25 – 1 – Ất Dậu), Hòa thượng Thích Thanh Từ (1924-?) chứng minh Lễ quy y và truyền giới cho hơn 500 Phật tử tại Thiền viện Sùng Phúc (quận Long Biên, TP. Hà Nội).

– Ngày 06 tháng 3, Thiền sư Thích Nhất Hạnh cùng Phái đoàn Tăng thân Làng Mai thăm viếng Tổ đình Thuyền Tôn (Huế), Thiền sư thuyết pháp với đề tài “Văn hóa Việt Nam có thể đóng góp những gì cho sự an vui và hòa bình của thế giới hiện tại”.

– Ngày 08 tháng 3, Hòa thượng Thích Thanh Từ cùng đoàn Tăng ni và Phật tử lên viếng Tây Thiên Thiền Tự trên núi Yên Tử.

– Ngày 13 tháng 3, Thiền sư Thích Nhất Hạnh cùng Phái đoàn Tăng thân Làng Mai thăm viếng chùa Từ Hiếu (Huế), Thiền sư thuyết pháp với đề tài “Vai tr  của các tôn giáo trong việc giúp lành mạnh hóa xã hội”.

– Ngày 25 tháng 3, tại Văn ph ng Chính phủ, Thủ tướng Phan Văn Khải đã tiếp Thiền sư Thích Nhất Hạnh nhân dịp Thiền sư về thăm đất nước.

– Từ ngày 30 – 3 đến 11 – 4, Thiền sư Thích Nhất Hạnh và phái đoàn Tăng thân Làng Mai đến thăm viếng tỉnh Bình Định. Tại chùa Long Khánh, Thiền sư có nhiều buổi pháp thoại cho tăng ni và Phật tử với các đề tài “Truyền thống thiền tập của PGVN, Phương pháp điều phục cơn giận, Truyện Kiều dưới cái nhìn thiền quán, Tương lai văn hóa Việt Nam,…”.

– Ngày 31 tháng 3, Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai đến Tu viện Nguyên Thiều đảnh lễ chư Tổ, thăm viếng chư Tôn đức tăng ni. Thiền sư có buổi nói chuyện với BGH Trường TCPH Bình Định.

– Ngày 19 tháng 5 (nhằm ngày 12 – 4 – Ất Dậu), Hòa thượng  Thành Văn – Nguyên Ngôn (1938-2005) thế danh Phan Thanh Bình (Phan Chín), pháp danh Thị Lộc, tự Thành Văn, hiệu Nguyên Ngôn, sinh tại làng Vĩnh Lộc, xã Bình Hòa, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì chùa Khánh Vân (TP. HCM), viên tịch, thọ 68 tuổi, 46 hạ lạp.

– Ngày 11 tháng 5 năm Ất Dậu, Hòa thượng Như Hạnh – Huyền Thâm (1927-2005) thế danh Nguyễn Khắc Kim, pháp danh Như Hạnh, tự Giải Uyên, hiệu Huyền Thâm, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Thiên Hưng (Ninh Thuận), viên tịch, thọ 79 tuổi.

– Ngày 15 tháng 5 năm Ất Dậu, Lễ đặt đá xây dựng Thiền viện Sùng Phúc ở Tổ 10, phường Cự Khối, quận Long Biên, TP. Hà Nội.

Ngày 17 tháng 6 (nhằm ngày 11 – 5 – Ất Dậu), Hòa thượng  Hạnh Huệ – Đỗng Minh (1927-2005) thế danh Đỗ Châu Lân, pháp danh Thị Khai, tự Hạnh Huệ, hiệu Đỗng Minh, sinh tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì chùa Long Sơn (Nha Trang, Khánh Hòa), viên tịch, thọ 79 tuổi, 59 hạ lạp.

– Ngày 05 tháng 7 (nhằm ngày 29 – 5 – Ất Dậu), Lễ đặt đá đại trùng tu Tổ đình Chúc Thánh tại đường Hai Bà Trưng, TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam, dưới sự chứng minh của  Hòa thượng Thích Thiện Duyên, Ủy viên HĐTS TW. GHPGVN và Hòa thượng Như Nhàn – Trí Giác (1915-2005), Trưởng môn phái Lâm Tế – Chúc Thánh cùng chư tôn đức tăng ni và hàng ngàn Phật tử về tham dự.

– Vào lúc 8 giờ 00, ngày 08 tháng 7 (nhằm ngày 03 – 6 – Ất Dậu), Hòa thượng Nguyên Phước – Quang Thể (1922-2005) thế danh Đặng Hữu Tường, pháp danh Nguyên Phước, tự Quang Thể, hiệu Đạt Minh, chánh quán tại làng Quảng Lăng, xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, Tổ khai sơn chùa Thọ Quang (TP. Đà Nẵng), viên tịch, thọ 84 tuổi, 57 hạ lạp.

– Ngày 22 tháng 7 (nhằm ngày 17 – 6 – Ất Dậu), Hòa thượng Như Thiện – Hoàn Quan (1928-2005) thế danh Phạm Ngọc Thơ, pháp danh Như Thiện, tự Giải Năng, hiệu Hoàn Quan, sinh tại làng Phước Long, xã Nghĩa H a, huyện Nghĩa H a, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, Tổ khai sơn chùa Khánh Vân (TP. HCM), viên tịch, thọ 78 tuổi, 50 hạ lạp. Những tác phẩm của Hòa thượng : Phật Tổ Ngũ Kinh, Tỳ-ni – Sa-di – Oai Nghi – Cảnh Sách, Tu Tập Chỉ Quán Tọa Thiền Pháp Yếu, Hiển Mật Viên Thông Tâm Yếu Thành Phật, Tam Thập Tụng Luận, Giáo Trình Hán Văn Văn Phạm Cương Yếu, Tân Học Quốc Văn… (LSTTTPLTCT).

– Ngày 29 tháng 9 (nhằm ngày 26 – 8 – Ất Dậu), Hòa thượng Như  Nhàn – Trí Giác (1915-2005), thế danh Dương Đức Thanh, pháp danh Như Nhàn, tự Giải Lạc, hiệu Trí Giác, sinh tại làng Cẩm Văn, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, Trưởng môn phái Lâm Tế – Chúc Thánh, trụ trì Tổ đình Tam Thai (Quảng Nam), viên tịch, thọ 91 tuổi, 57 hạ lạp.

– Ngày 06 tháng 11 (nhằm ngày 05 – 10 – Ất Dậu), Ni trưởng Tâm Đăng – Chơn Như (1915-2005) thế danh Bùi Thị Hải, pháp danh Tâm Đăng, tự Hạnh Viên, hiệu Chơn Như, sinh tại thành nội Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Linh Sơn (Nha Trang), viên tịch, thọ 91 tuổi, 66 hạ lạp.

– Ngày 10 tháng 11, Đại đức Thích Minh Tánh (1970-?) được Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng cử về trụ trì chùa Khánh Bảo tại Tổ 2, xã Quản Trị, huyện Đạ Tẻd, tỉnh Lâm Đồng.

– Ngày 13 tháng 11 (nhằm ngày 12 – 10 – Ất Dậu), Hòa thượng  Đồng Giác – Tịnh Giác (1942-2005) thế danh Nguyễn Tấn Sinh, pháp danh Đồng Giác, sinh tại thôn An Ninh Thượng, xã Kim Long, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, Tổ khai sơn chùa Tịnh Quang (Đồng Nai), viên tịch, thọ 63 tuổi, 41 hạ lạp.

– Ngày 25 tháng 11, Lễ khánh thành Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên ở xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, do Thượng tọa Thích Kiến Nguyệt trụ trì.

– Ngày 04 tháng 12 (nhằm ngày 04 – 11 – Ất Dậu), Lễ khánh thành Thiền viện Sùng Phúc ở Tổ 10, phường Cự Khối, quận Long Biên, TP. Hà Nội, được Hòa thượng Thích Thanh Từ (1924-?) chứng minh và cắt băng khánh thành.

– Ngày 12 tháng 11 năm Ất Dậu, Đại đức Hồng Lương – Quảng Thiện (1967-2005), thế danh Trịnh Ngọc Oai, húy Hồng Lương, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 40, trụ trì chùa Thiên Lộc (Đức Hòa, Long An), thị tịch, trụ thế 39 năm.

– Ni trưởng Trừng Khương – Diệu Trí (1907-2010) được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng Ni trong Đại giới đàn Thiện Siêu, tổ chức tại Tổ đình Thuyền Tôn (Huế).

– Thượng tọa Trung Hiếu – Minh Thiện (1956-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An cử về trụ trì chùa Thiên Châu, tọa lạc tại số 101, đường Huỳnh Văn Nhứt, phường 3, TP. Tân An, tỉnh Long An.

– Thiền viện Bảo Hải được di dời về khu phố 5, phường Long Tâm, thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đồng thời Thiền viện được đại trùng tu các công trình như : chánh điện, tường rào, trai đường và nhà bếp, đến năm 2010 thì hoàn thành.

Thượng tọa Như Thể – Giải Trọng (1946-2016) được cung cử giữ chức vụ Trưởng Ban Nghi lễ GHPGVN tỉnh Quảng Nam, đồng thời là Trưởng Ban Nghi lễ của BĐD Phật giáo thị xã Hội An và Ủy viên Ban Nghi lễ TƯ. GHPGVN.

– Thiền viện Thường Chiếu thuộc xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xây dựng La Hán đường.

2004
01/01/2004

Năm 2004 (Giáp Thân – PL.2548)

Năm 2004 (Giáp Thân – PL.2548)

– Ngày 07 tháng 2 (nhằm ngày 16 – 1 – Giáp Thân), Lễ kỷ niệm 300 năm khai sơn Tổ đình Thiên Ấn và 250 năm ngày Tổ sư Minh Hải – Pháp Bảo (1670-1754) viên tịch, được tổ chức tại Tổ đình Thiên Ấn ở xã Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, có 750 trại sinh của GĐPT tỉnh Quảng Ngãi về tham dự sinh hoạt (BGN-212).

– Ngày 09 tháng 2, Lễ khởi công tái thiết đại trùng tu chùa Phước Huệ tại phường Vĩnh Hải, Tp. Nha Trang, do Hòa thượng Không Phi – Trí Hải (1944-2014) trụ trì tổ chức. Chùa trùng tu các hạng mục : chánh điện, nhà Tổ, nhà Linh, đài Quan Âm, miếu Địa Tạng,…Đến năm 2009, chùa tiếp tục xây dựng xây cổng tam quan, nhà khách.

– Ngày 16 tháng 3, Tiến sĩ Nguyễn Lân Cường làm Chủ nhiệm công trình tu bổ pho tượng có tro cốt của Thiền sư Như Trí vừa phát hiện tại chùa Tiêu xã Tương Giang (Từ Sơn, Bắc Ninh). Pho tượng gần 300 tuổi này, được  đưa về chùa Duệ Khánh (huyện Tiên Du) để tu bổ (BGN217).

– Ngày 02 tháng 4 (nhằm ngày 13 – 2 – Giáp Thân), Hòa thượng Chơn Nghiêm – Tâm Thanh (1931-2004) thế danh Lê Thanh Hải, pháp danh Tâm Thanh, tự Giải Tịnh, hiệu Chơn Nghiêm, sinh tại làng Mã Châu, Duy Xuyên, Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, Tổ khai sơn Vĩnh Minh tự viện (Đức Trọng, Lâm Đồng), viên tịch, thọ 74 tuổi, 40 hạ lạp. Sinh tiền, Hòa thượng từng đảm nhận những chức vụ trong Giáo hội như : Phó BTS kiêm Trưởng Ban Hoằng pháp Giáo hội tỉnh Lâm Đồng, Hiệu phó kiêm Giám luật Trường Cơ Bản Phật học Lâm Đồng khóa I và II.

– Ngày 04 tháng 4 (nhằm ngày 15 – 2 nhuận – Giáp Thân), Hòa thượng Như Truyện – Trí Nhãn (1909-2004) thế danh Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Trí Nhãn, sinh tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, xã Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì Tổ đình Chúc Thánh (Hội An, Quảng Nam) viên tịch, thọ 96 tuổi, 71 hạ lạp.

– Ngày 04 tháng 4 (nhằm ngày 15 – 2 – Giáp Thân), Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên ở xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, được khởi công xây dựng.

– Vào lúc 16 giờ 15 phút, ngày 18 tháng 4 (nhằm ngày 29 – 2 – Giáp Thân), Ni trưởng Nhật Thiền – Như Chơn (1919-2004) thế danh Huỳnh Thị Chơn, húy Nhật Thiền, hiệu Như Chơn, sinh tại huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, Tọa chủ chùa Vạn Phước (Tiền Giang), viên tịch, thọ 86 tuổi, 51 hạ lạp.

– Ngày 02 tháng 5 (nhằm ngày 16 – 2 – Giáp Thân), Lễ khánh thành Thiền đường tại Thiền viện Sùng Phúc ở Tổ 10, phường Cự Khối, quận Long Biên, TP. Hà Nội.

– Ngày 20 tháng 5, Đại đức Trung Chơn – Thiện Đạo (1957-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An quyết định bổ nhiệm trụ trì chùa Long Châu, tọa lạc tại số 157, khu phố An Thuận I, phường 7, TP. Tân An, tỉnh Long An; quyết định số 015/QĐ/BTS/NKVI do Thượng tọa Thiện Thanh (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Ngày 04 tháng 6, Lễ tiểu tường Cố Hòa thượng Thiện Hòa – Minh Luân (1903-2003) thuộc thiền phái Lâm Tế, Trưởng sơn môn Tổ đình Gia Xuyên (Hải Dương), viện chủ Tổ đình Đống Cao, Thành viên HĐCM GHPGVN, Trưởng BTS Tỉnh hội PG tỉnh Hải Dương, tại Tổ đình Đống Cao (Gia Lộc, Hải Dương).

– Ngày 25 tháng 7 (nhằm ngày 09 – 6 – Giáp Thân), Lễ lạc thành chùa Bửu Sơn tại xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Chùa này do Thượng tọa Tôn Quảng trùng  tu xây dựng lại quy mô từ đầu năm. Đây là ngôi chùa người Hoa, thuộc Thiền phái Tào Động Chánh Tông.

– Ngày 14 tháng 11 (nhằm ngày 01 – 9 – Giáp Thân), Hòa thượng Tâm Bửu – Quang Tạng (1934-2004), húy Nghiêm, pháp danh Tâm Bửu, tự Quang Tạng, sinh tại làng Xuân H a, xã Thủy Vân, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thuộc thiền phái Lâm Tế, trụ trì chùa Tâm Bửu (Huế), viên tịch, thọ 70 tuổi, 39 tuổi đạo.

– Ngày 14 tháng 10 năm Giáp Thân, Thượng tọa Bổn Bông – Thiện Hưng (1920-2004), thế danh Trần Văn Bông, húy Bổn Bông, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, trụ trì chùa Thiên Phước (Cần Đước, Long An), viên tịch, thọ 85 tuổi.

– Ngày 10 tháng 11 năm Giáp Thân, Hòa thượng Nhựt Long – Thiện Căn (1902-2004), thế danh Lê Văn Lung, húy Nhựt Long, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, Tổ khai sơn chùa Hòa Bình (Cần Giuộc, Long An), viên tịch, thọ 103 tuổi, 56 hạ lạp.

– Ngày 12 tháng 12, Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử (chùa Lân) ở thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tổ chức Lễ tưởng niệm 696 năm ngày Phật Hoàng Trần Nhân Tông – Sơ Tổ Trúc Lâm thị tịch (ngày 01-11-1308, Mậu Thân).

– Ngày 13 tháng 12, Lễ bổ nhiệm trụ trì Thiền viện Sùng Phúc ở Tổ 10, phường Cự Khối, quận Long Biên, TP. Hà Nội, cho Đại đức Thích Tâm Thuần. Chứng minh buổi lễ có : Hòa thượng Thích Thanh Chỉnh, Hòa thượng Thích Thanh Tứ,…

– Hòa thượng Quảng Động – Phước Thành (1918-2014) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Đại giới đàn Huệ Chiếu tại Tổ đình Long Khánh, Tp. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Sách Trần Nhân Tông với Thiền phái Trúc Lâm của tác giả Thích Thông Phương, Nhà xuất bản Tôn Giáo, được ấn hành.

– Tổ đình Chúc Thánh nay tại đường Hai Bà Trưng, Tp. Hội An, tỉnh Quảng Nam trùng tu.

– Hòa thượng Như Trực – Thiện Chánh (1940-2004), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì Tổ đình Thiên Tôn (Thuận An, Bình Dương), viên tịch, thọ 65 tuổi.

– Đại đức Chúc Minh kế thế trụ trì Tổ đình Thiên Tôn nay thuộc huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.

– Hòa thượng Thích Nhật Quang khởi công xây dựng Thiền đường tại Thiền viện Thường Chiếu ở số 001, tổ 23, ấp 1C, xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

2003
01/01/2003

Năm 2003 (Quý Mùi – PL.2547)

Năm 2003 (Quý Mùi – PL.2547)

– Ngày 04 tháng 1 (nhằm ngày 02 – 12 – Nhâm Ngọ), Lễ húy kỵ lần thứ 3 Cố Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) tại Thiền đường Liễu Quán 1 ở ấp Phước Thành, xã Tân Hòa, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Ngày 10 tháng 1 (nhằm ngày 17 – 12 – Nhâm Ngọ), Hòa thượng Nhựt Thành – Quảng Đạo (1925-2003), thế danh Đỗ Văn Nữa, húy Nhựt Thành, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Linh Bửu (Đức Hòa, Long An), viên tịch, thọ 79 tuổi.

– Ngày 13 tháng 1 (nhằm ngày 11 – 12 – Nhâm Ngọ), Hòa thượng Tâm Bổn – Trí Nghiêm (1911-2003) thế danh Phan Điệp, húy Tâm Bổn, tự Truyền Lai, hiệu Trí Nghiêm, sinh tại thôn Chánh Lộc, xã Xuân Lộc, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 43, trụ trì am Hoàng Phúc (TP. Nha Trang), viên tịch, thọ 93 tuổi, 70 hạ lạp. Những  tác phẩm phiên dịch của Hòa thượng : kinh Lời Vàng, kinh Phổ Môn Giảng lục, kinh Pháp Hoa Giảng lục, 7 quyển, Thành Thật Luận, 20 quyển, kinh Đại Bát Nhã Ba-la-mật-đa, 24 tập, 600 quyển (Giác Ngộ – Online – Mobile, CTTĐPGTH).

– Ngày 20 tháng 1 năm Quý Mùi, Hòa thượng Như Bình – Giải An (1914-2003) thế danh Nguyễn H a, pháp danh Như Bình, tự Giải An, hiệu Huyền Tịnh, sinh tại xã Nghĩa Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, Tổ khai sơn chùa Từ Quang (Quảng Ngãi), viên tịch, thọ 90 tuổi, 70 hạ lạp.

– Ngày 07 tháng 2 năm Quí Mùi, Ni trưởng Hồng Tịnh – Giác Nhẫn (1919-2003) thế danh Lê Thị Kiểu, pháp danh Hồng Tịnh, hiệu Giác Nhẫn, sinh tại xã Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Viện chủ chùa Sắc tứ Huệ Lâm (Tp. HCM), viên tịch, thọ 84 tuổi, 59 hạ lạp.

– Ngày 16 tháng 2 năm Quý Mùi, Thượng tọa Trung Chánh – Thiện Pháp (1937-2003), thế danh Đinh Văn Ngàn, húy Trung Chánh, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 43, trụ trì chùa Long Phước (Cần Đước, Long An), viên tịch, thọ 67 tuổi.

– Ngày 15 tháng 4 (nhằm ngày 14 – 3 – Quý Mùi), Hòa thượng Lệ Hòa – Thiện Nhu (1917-2003) thế danh Bùi Văn Cứng, húy Lệ H a, hiệu Thiện Nhu, tự Tịnh Trì, sinh tại xã Nhơn Thạnh Trung, tỉnh Long An, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh tông, đời thứ 42, trụ trì chùa Hưng Phú (Long An), viên tịch, thọ 86 tuổi, 47 hạ lạp.

– Ngày 20 tháng 4 năm Quý Mùi, Hòa thượng Tâm Thanh – Chơn Nghiêm (1931-2004) nhập thất chuyên tu tại tịnh thất Chơn Nghiêm, thuộc Vĩnh Minh Tự Viện (Đức Trọng, Lâm Đồng), với sự chứng minh của Hòa thượng Thích Pháp Chiếu, Thành viên HĐTS TƯ và Phó BTS GHPGVN tỉnh Lâm Đồng.

– Ngày 18 tháng 5 năm Quí Mùi, Đại đức Thích Thiện Như (1932-2003), thế danh Lê Văn Ngưu, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 42, khai sơn trụ trì chùa Long Vĩnh (Thủ Thừa,  Long An), viên tịch, thọ 72 tuổi.

– Ngày 23 tháng 8 năm Quý Mùi, Đại đức Nhựt Tựu – Thiện Tùng (1918-2003), thế danh Trịnh Văn Tựu, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Tường Quang (Cần Đước – Long An), viên tịch, thọ 86 tuổi.

– Ngày 15 tháng 11, Lễ bổ nhiệm trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử (chùa Lân) tại xã Thượng Yên Công, thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, cho Thượng tọa Thích Thông Phương.

– Tháng 12, Ni trưởng Tâm Hỷ – Trí Hải (1938-2003) được suy cử làm Phó viện trưởng Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam. Những tác phẩm phiên dịch của Ni trưởng có :  Câu Chuyện Dòng Sông, Gandhi Tự Truyện, Câu Chuyện Triết Học, Thanh Tịnh Đạo Luận, Thắng Man, Tạng Thư Sống Chết, Giải Thoát Trong Lòng Bàn Tay, toát yếu Kinh Trung Bộ, 3 tập (HTCNVN, Tưởng niệm Ni trưởng Thích nữ Trí Hải (1938-2003),Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Nxb Tổng Hợp Tp. HCM 2004).

– Vào lúc 17 giờ 30 ngày 07 tháng 12 (nhằm ngày 14 – 11 – Quí Mùi), Ni trưởng Tâm Hỷ – Trí Hải (1938-2003) thế danh Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh, pháp danh Tâm Hỷ, hiệu Trí Hải, sinh tại thôn Vỹ Dạ, tỉnh Thừa Thiên – Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì Tịnh thất Tuệ Uyển, viên tịch, thọ 66 tuổi, 33 hạ lạp. Ngày 08/12/2003, Lễ nhập kim quan cố Ni trưởng diễn ra trang nghiêm tại Thiền viện Vạn Hạnh (quận Phú Nhuận, Tp. HCM). Vào lúc 6 giờ 00 ngày 12/12/2003 (nhằm ngày 19/11/Quý Mùi), Lễ tưởng niệm và cung tống kim quan cố Ni trưởng trà tỳ tại Đài hỏa táng Bình Hưng H a, Tp. HCM (HTCNVN, Tưởng niệm Ni trưởng Thích nữ Trí Hải (1938-2003), Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Nxb Tổng Hợp Tp. HCM 2004).

– Vào lúc 19 giờ 10 phút ngày 19 tháng 12 (nhằm ngày 26 – 11 – Quý Mùi), Thượng tọa Đức Thành – Đồng Hạnh (1942-2003) họ Đoàn, húy Ngọc Tám, pháp danh Đồng Hạnh, tự Đức Thành, hiệu Minh Trí, sinh tại làng Đại Hào, xã Cát Nhơn, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 43, trụ trì Tổ đình Hưng Long (An Nhơn, Bình Định), viên tịch, trụ thế 61 năm.

– Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 17 tháng 5 (nhằm ngày 17 – 4 – Quý Mùi), Hòa thượng Thiện Hòa – Minh Luân (1903-2003) thế danh Nguyễn Quang Cơ, pháp danh Minh Luân, tự Tâm Thường, hiệu Thiện H a, sinh tại thôn La Khê, xã Ninh Thành, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, thuộc thiền phái Lâm Tế, Trưởng sơn môn Tổ đình Gia Xuyên (Hải Dương), viện chủ Tổ đình Đống Cao, viên tịch, thọ 101 tuổi.

– Hòa thượng Trừng Chiếu – Từ Mãn (1918-2007) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Đại giới đàn Diệu Hoằng tổ chức tại chùa Linh Sơn – Đà Lạt.

– Sách Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử của Thượng tọa Thích Thông Phương, Nhà xuất bản Tôn Giáo năm 2003, PL : 2546.

– Thượng tọa Đồng Chơn – Thiện Thức kế thế trụ trì Tổ đình Phổ Bảo ở Bình Định.

– Hòa thượng Hạnh Huệ – Đỗng Minh (1927-2005) được mời giữ chức Phó viện trưởng Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam và Cố vấn chỉ đạo Ban phiên dịch Hán Tạng. Những dịch phẩm của Hòa thượng có các bộ : Tứ Phần Luật, Di-sa-tắc bộ H a-hê Ngũ Phần Luật, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ-nại-da, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Bí-sô-ni Tỳ-nại-da, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Bách Nhất Yết-ma, Trùng Trị Tỳ-ni sự Nghĩa Tập Yếu, Luật Tỳ-kheo Giới Bổn Sớ Nghĩa, Tỳ-ni, Sa-di, Oai Nghi, Cảnh Sách, Nghi Truyền Giới,…   (LSTTTPLTCT).

– Hòa thượng Thích Thanh Từ cắt cử ban lãnh đạo Tu viện Chơn Không (Núi Lớn – Vũng Tàu) gồm : Hòa thượng Phước Hảo  làm Cố vấn, Đại đức Thông Nhẫn làm Trụ trì, Đại đức Thông Như Phó trụ trì.

– Hòa thượng Tâm Nhẫn – Chí Tín (1922-2013) khởi công kiến tạo tôn tượng Thích-ca Nhập Niết-bàn, dài 17m, trên đồi sau chánh điện chùa Long Sơn nay tại Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

– Ni trưởng Nhật Phiến – Trí Thanh (1925-2003) thế danh Nguyễn Thị Phiến, húy Nhật Phiến, sinh tại xã Thới Thạnh, huyện Cờ Đỏ, tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Bảo An (Cần Thơ), viên tịch, thọ 79 tuổi, 43 hạ lạp.

– Tự viện Vĩnh Minh tại thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, do Thượng tọa Chơn Nghiêm – Tâm Thanh (1931-2004) trụ trì, tổ chức khánh thành bảo tháp Minh Tích Ấn. Tháp cao 8 tầng, bên trong 3 tầng : tầng trên thờ Xá-lợi Phật được thỉnh từ Tích Lan; tầng 2 thờ Đất thiêng từ Tứ động tâm ở Ấn Độ mang về; tầng dưới thờ tượng Phật Niết-bàn bằng đồng nguyên khối có nguồn gốc từ Tích Lan.

– Sách Phụng Hoàng Cảnh Sách 3 tập của Hòa thượng Thích Thanh Từ, Nhà xuất bản Tôn Giáo Hà Nội xuất bản, tập 1 và tập 2 năm 2003 (PL.2547), tập 3 năm 2009 (PL.2553)

– Thượng tọa Thiện Bình (1950-2015) được suy cử kiêm trụ trì chùa Bồ Đề.

2002
01/01/2002

Năm 2002 (Nhâm Ngọ – PL.2546)

Năm 2002 (Nhâm Ngọ – PL.2546)

– Ngày 07 tháng 1 (nhằm ngày 24 – 11 – Tân Tỵ), Hòa thượng Chơn Giác – Long Hải (1919-2002) thế danh Ôn Nguyện, pháp danh Chơn Giác, tự Đạo Hoa, hiệu Long Hải, sinh tại làng Thi Nhơn, xã Điện Phong, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì chùa Nghĩa Trũng (Điện Bàn – Quảng Nam) viên tịch, thọ 83 tuổi, 47 hạ lạp.

– Ngày 30 tháng 1 (nhằm ngày 18 – 12 – Tân Tỵ), Chùa Huỳnh Võ tại số 13, đường Linh Trung, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, TP. HCM đổi danh hiệu là Thiền viện Tuệ Quang, được THPG TP. HCM chấp thuận, ban hành QĐ số 702/QĐ/THPG ngày 19/11/2001 (thienvientuequang.org).

– Ngày 10 tháng 1 năm Nhâm Ngọ, Lễ đặt đá xây dựng chánh điện

Thiền viện Liễu Đức tại ấp 1A, xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Công trình xây dựng chánh điện hoàn thành sau 7 tháng thi công, Lễ khánh thành được tổ chức vào ngày 25 tháng 7 âl.

– Ngày 02 tháng 3 (nhằm ngày 19 – 1 – Nhâm Ngọ), Lễ đặt đá xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử (chùa Lân) tại xã Thượng Yên Công, thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Thanh Tứ (1927-2011).

– Ngày 21 tháng 3 (nhằm ngày 01 – 2 – Nhâm Ngọ), Hòa thượng Nhựt Thành – Bửu Tiên (1919-2002), thế danh Nguyễn Bửu Tiên, húy Nhựt Thành, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, Tổ khai sơn chùa Thiên Lộc (Đức Hòa, Long An), viên tịch, thọ 84 tuổi, 54 hạ lạp.

– Ngày 29 tháng 5 năm Nhâm Ngọ, Hòa thượng Bổn Nam – Huệ Minh (1925-2002), thế danh Nguyễn Văn Nam, húy Bổn Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, trụ trì chùa Khánh An (Cần Đước, Long An), viên tịch, thọ 78 tuổi.

– Ngày 10 tháng 6 năm Nhâm Ngọ, Thượng tọa Tâm Ý – Trường Định (1950-2002), họ Võ, húy Thế Tâm, pháp danh Tâm Ý, tự Trường Định, sinh tại xã Duy Trung, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Phú Hậu (Huế), thị tịch, trụ thế 53 năm, 25 hạ lạp.

– Ngày 01 tháng 9 (nhằm ngày 24 – 7 – Nhâm Ngọ), Hòa thượng Quảng Lăng – Thiện Huê (1923-2002), thế danh Nguyễn Văn Lăng, húy Quảng Lăng – Tín Huê, hiệu Thiện Huê, sinh tại xã Phú Cường, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương, thuộc dòng Tế Thượng – Chánh Tông, đời thứ 45, trụ trì chùa Đại Giác (TP. HCM), viên tịch, thọ 80 tuổi, 55 hạ lạp.

– Ngày 28 tháng 10 (nhằm ngày 23 – 9 – Nhâm Ngọ), Hòa thượng Hành Giải – Phước Trí (1920-2002) thế danh Huỳnh Hữu Ân, pháp danh Thị Tín, tự Hành Giải, hiệu Phước Trí, sinh tại làng Phương Lưu, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, Phú Yên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì chùa Triều Tôn (Phú Yên), viên tịch, 83 tuổi, 55 hạ lạp.

– Ngày 04 tháng 10 năm Nhâm Ngọ, Ni trưởng Chơn Minh – Như Châu (1915-2002) thế danh Đinh Thị Châu, pháp danh Chơn Minh, tự

Như Châu, sinh tại làng Mỹ Trà, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Viện chủ chùa Pháp Thắng (Vũng Tàu), viên tịch, thọ 88 tuổi, 68 hạ lạp.

– Ngày 15 tháng 11 (nhằm ngày 11 – 10 – Nhâm Ngọ), Ni trưởng Nhựt Kỉnh – Trí Thuần (1911-2002) thế danh Cao Thị Kỉnh, tự Nhựt Kỉnh, hiệu Trí Thuần, quê ở xã Thới Long, huyện Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Dược Sư (TP. HCM), viên tịch, thọ 92 tuổi, 65 hạ lạp.

– Tháng 11, Hòa thượng Thích Thanh Từ sang Mỹ hoằng pháp. Tại California vào ngày 13/11, Ngài được Phật tử hiến cúng ngôi nhà để Hòa thượng lập Thiền viện, ngài đặt danh hiệu là Thiền viện Vô Ưu. Ngày 16/11, Hòa thượng chứng minh Lễ đặt đá xây dựng Thiền viện Diệu Nhân cũng tại California (TTVN).

– Ngày 14 tháng 12 (nhằm ngày 11 – 11 – Nhâm Ngọ), Lễ khánh thành Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử (chùa Lân) tại xã Thượng Yên Công, Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, do Thượng tọa Thích Thông Phương làm trụ trì.

– Ngày 21 tháng Chạp năm Nhâm Ngọ, Ni trưởng Tịnh Hoa (1915-2002) thế danh Tăng Ngọc Thanh, pháp danh Tịnh Hoa, sinh tại xã Long Đức, tỉnh Trà Vinh, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 42, Viện chủ chùa Liên Quang (Trà Vinh), viên tịch, thọ 87 tuổi, 60 hạ lạp.

– Gia đình Phật tử Từ Vân cúng dường khu đất tại ấp 7, xã Tam Lập, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, lên Hòa thượng Thích Thanh Từ để Hòa thượng thành lập Thiền viện (sau này là Thiền viện Trúc Lâm Thanh Nguyên).

– Đại đức Đồng Hóa – Viên Tuệ (1947-?) kế thế trụ trì Tổ đình Phước Sơn tại xã Xuân Sơn Bắc, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.

– Hòa thượng Huệ Phát – Như Tín trùng tu Tổ đình Hưng Long  nay thuộc quận 10, TP. HCM.

– Sách Hai Quãng Đời của Sơ Tổ Trúc Lâm, tác giả Hòa thượng Thích Thanh Từ, Nhà xuất bản Tôn Giáo năm 2002, Pl : 2546

– Đại đức Đồng Tiến – Viên Hạnh kế thế trụ trì chùa Từ Quang trên núi Bạch Thạch, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Cũng năm này, ngài kế thế trụ trì chùa Triều Tôn tại xã Xuân Thọ 2, huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

– Hòa thượng Hành Giải – Phước Trí (1920-2002) được cung thỉnh làm Chứng minh Đạo sư cho BTS Phật giáo tỉnh Phú Yên.

– Hòa thượng Hạnh Huệ – Đỗng Minh (1927-2005) vận động thành lập Ban phiên dịch Pháp tạng PGVN, do Hòa thượng làm Trưởng ban hướng dẫn Tăng Ni, Cư sĩ phiên dịch.

– Hòa thượng Lệ Hồng – Huệ Hà (1936-2009) được suy cử làm Ủy viên HĐTS GHPGVN.

– Sư cô Minh Thiện (1954-?) được Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng cử  về trụ trì chùa Long Hoa (chùa Đất Làng) nay tại thôn Đất Làng, xã Xuân Trường, TP. Đà Lạt.

– Bộ sách Thanh Từ Toàn Tập xuất bản, do Ban Văn hóa Thường Chiếu biên tập, Thiền viện Hương Hải thực hiện (từ năm 2002-2004), gồm có 29 tập.

– Ni trưởng Quảng Định – Như Lý (1932-2008) được suy cử làm Phó BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An, nhiệm kỳ VI và VII.

– Ni sư Như Minh (1945-2014) tổ chức đại trùng tu Thiền viện Tuệ Thông, hiện tại ấp 1C, xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Thiền viện xây dựng mới nhiều công trình : giảng đường, thiền đường, trai đường, nhà chúng, nhà trù,…

– Hòa thượng Nhuận Đức – Chơn Huệ (1923-2012) và Hòa thượng Lệ Hòa – Thiện Nhu (1917-2003) được suy tôn làm thành viên HĐCM TW. GHPGVN.

– Toàn Tập Tâm Như – Trí Thủ, 5 tập do Quảng Hương Già Lam sưu tập, NXB Tp. HCM 2002 (tập 1 – 3); tập 4 và 5 đến năm 2011 được NXB Phương Đông xuất bản.

– Hòa thượng Nguyên Phước – Quang Thể (1922-2005) được suy cử vào HĐCM và HĐTS TW. GHPGVN (2002-2007).

– Thượng tọa Đức Thành – Đồng Hạnh (1942-2003) được cung cử giữ chức Phó BTS kiêm Trưởng Ban Kiểm soát tỉnh hội Phật giáo Bình Định.

– Hòa thượng Quảng Phước – Thiện Nhơn (1931-2013) được suy cử vào HĐCM GHPGVN kiêm Trưởng BTS GHPGVN tỉnh Bình Định (2002-2013).

– Ni trưởng Quả Đức – Diệu Tín (1918-2016) được suy cử làm Phó trưởng BTS Phật giáo tỉnh Cà Mau nhiệm kỳ IV và V (2002 – 2012).

Vào năm 2012, Ni trưởng được cung thỉnh làm Chứng minh BTS và Chứng minh Phân ban Ni giới thuộc Ban Tăng sự Phật giáo tỉnh Cà Mau.

– Hòa thượng Minh Đạo – Thiện Thanh (1941-2016) được suy cử làm Trưởng BTS GHPGVN tỉnh Long An nhiệm kỳ VI và VII (2002-2012).

2001
01/01/2001

Năm 2001 (Tân Tỵ – PL.2545)

Năm 2001 (Tân Tỵ – PL.2545)

– Ngày 04 tháng 2 năm Tân Tỵ, Hòa thượng Nhựt Nghiêm – Thiện Trang (1931-2001), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, trụ trì chùa Châu Long (Long An), viên tịch, thọ 70 tuổi.

– Ngày 09 tháng 3 (nhằm ngày 15 – 2 – Tân Tỵ), Lễ khánh thành Tổ đình Thiền Tôn tại núi Thiên Thai, Huế và tháp Tổ sư Thiệt Diệu – Liễu Quán, sau 2 năm trùng kiến hoàn tất.

– Ngày 06 tháng 4 năm Tân Tỵ, chùa Thới Bình tại ấp Phước Thới, xã Phước Lại, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, đại trùng tu lần thứ 4, đến ngày 12 – 2 – Quý Mùi (2003) khánh thành. Chùa được trùng tu bằng chất liệu kiên cố, vách tường, tu bổ sườn gỗ, mái lợp ngói nhưng vẫn giữ kiến trúc cổ kính.

– Ngày 12 tháng 4 (nhuận) năm Tân Tỵ, Thượng tọa Nhựt Hằng – Thiện Tâm (1955-2001), thế danh Lê Văn Hằng, húy Nhựt Hằng, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Giác Tịnh (Cần Giuộc, Long An), thị tịch, trụ thế 47 năm.

– Ngày 16 tháng 4 năm Tân Tỵ, Thượng tọa Nhựt Hiển – Quảng Phát (1944-2001), thế danh Nguyễn Văn Hiển, húy Nhựt Hiển,  khai sơn trụ trì chùa Quan Âm (Đức Hòa, Long An), viên tịch, trụ thế 58 năm.

– Vào lúc 19 giờ ngày 24 tháng 4 (nhuận) năm Tân Tỵ, Hòa thượng Hồng Tín – Huệ Thành (1912-2001), thế danh Nguyễn Toàn Trung, húy Hồng Tín, tự Bửu Thành, hiệu Huệ Thành, sinh tại xã Phú Hữu, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Phó pháp chủ GHPGVN, Viện chủ Tổ đình Long Thiền (Đồng Nai), viên tịch, thọ 90 tuổi, 70 hạ lạp. Khi còn tại thế, Hòa thượng được Nhà nước trao tặng : Huân chương Độc lập hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất, ngoài ra còn nhiều Huân chương, Huy chương, Huy hiệu và bằng khen khác (phatgiaodongnai.vn).

– Tháng 5, Ni sư Diệu Khanh (1907-2001), thế danh Đặng Thị Tuyết, sinh tại Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 42, Tổ khai sơn chùa An Lạc (Đơn Dương, Lâm Đồng), viên tịch, thọ 95 tuổi.

– Ngày 19 tháng 9 (nhằm ngày 03 – 8 – Tân Tỵ), Hòa thượng Trí An – Đồng Thiện (1922-2001) thế danh Trần Đình Hiếu, pháp danh Thị Công, tự Đồng Thiện, hiệu Trí An, sinh tại thôn Vạn H a, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42,  Đệ nhất trụ trì Tu viện Nguyên Thiều (Bình Định), viên tịch, thọ 80 tuổi, 58 tăng lạp.

– Ngày 19 tháng 8 năm Tân Tỵ, Hòa thượng Thị Thọ – Giác Đạo (1913-2001), thế danh Lưu Hương, pháp danh Thị Thọ, tự Giác Đạo, hiệu Từ Nhãn, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì chùa Hưng Phước (Quy Nhơn, Bình Định), viên tịch, thọ 89 tuổi.

– Ngày 03 tháng 10 (nhằm ngày 17 – 8 – Tân Tỵ), Hòa thượng Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) họ Võ, húy Trọng Tường, pháp danh Tâm Phật, tự Trí Đức, hiệu Thiện Siêu, quê ở làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Từ Đàm và Thuyền Tôn (Huế), viên tịch, thọ 81 tuổi, 53 tuổi đạo. Hòa thượng được Chính phủ Việt Nam trao tặng Huân chương Độc lập hạng nhì (CTTĐPGTH).

– Vào lúc 21 giờ 00 ngày 17 tháng 9 năm Tân Tỵ, Hòa thượng Tâm Trì – Viên Mãn (1922-2001) thế danh Nguyễn Thanh Tịnh, pháp danh Tâm Trì, tự Chánh Không, hiệu Viên Mãn, quê ở thôn Dạ Lê, Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, Tổ khai sơn chùa Kỳ Viên (Tam Kỳ – Quảng Nam), viên tịch, thọ 80 tuổi, 50 hạ lạp.

– Ngày 24 tháng 11 (nhằm ngày 10 – 10 – Tân Tỵ), Hòa thượng Thích Thanh Từ  (1924-?) quang lâm chứng minh Lễ lạc thành chùa Phật Học Lưỡng Xuyên nay tại thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. Cũng năm này, Hòa thượng về thuyết pháp tại Trường hạ chùa Phổ Đà quận Bình Thạnh, TP. HCM.

– Ngày 24 tháng 11 (nhằm ngày 10 – 10 – Tân Tỵ), Hòa thượng Thanh Đàm – Trí Dũng (1906-2001), thế danh Nguyễn Tất Chính, tên thật Trần Đức Huy, húy Thanh Đàm, tự Trí Đức, hiệu Trí Dũng, sinh tại thôn Ứng Luật, xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, thuộc tông Tào Động, Tổ khai sơn chùa Nam Thiên Nhất Trụ (Thủ Đức, TP. HCM), viên tịch, thọ 96 tuổi, 76 hạ lạp. Vào lúc 17 giờ 30, ngày 25/11/2001, lễ nhập kim quan cố Hòa thượng tại Tổ đường chùa Vĩnh Nghiêm (Tp.HCM). Đến 6 giờ sáng ngày 29/11/2001, Đại lễ cung nghinh kim quan về an vị tại chùa Nam Thiên Nhất Trụ (quận Thủ Đức) và Đại lễ nhập tháp cố Hòa thượng diễn ra lúc 8 giờ ngày 30/11/2001 (nhằm ngày 16/10/Tân Tỵ) (TSHTTTD).

– Thiền sư Đồng Mẫn – Huệ Từ kế thế trụ trì Tổ đình Chúc Thánh ở Hội An, Quảng Nam.

– Thiền sư Thị Vinh – Huệ Liên kế thế trụ trì Tổ đình Phước Lâm ở Hội An, Quảng Nam.

– Thượng tọa Thích Đồng Đức đại trùng tu Tổ đình Sơn Long nay tại phường Nhơn Bình, Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, và hoàn thành vào năm 2003.

– Hòa thượng Hạnh Huệ – Đỗng Minh (1927-2005) được cung thỉnh làm Chứng minh và Cố vấn cho Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa, nhiệm kỳ III.

– Hòa thượng Thích Thanh Từ sang Mỹ hoằng pháp. Ngài được Phật tử Việt Nam tại California cúng dường ngôi Thiền viện, được Hòa thượng đặt danh hiệu là thiền viện Đại Đăng và lập hội Thiền Học Việt Nam tại Thiền viện này (TTVN).

– Hòa thượng Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) chủ trì Lễ tốt nghiệp và Cấp phát văn bằng Cử nhân Phật học cho Tăng ni sinh Học viện PGVN tại Huế, khóa I.

– Hòa thượng Tâm Bổn – Trí Nghiêm (1911-2003) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu tại Đại giới đàn Trí Thủ tỉnh Khánh Hòa.

– Ni sư Hạnh Thanh (1941-2001), thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Trụ trì đầu tiên của Thiền viện Tịch Chiếu (Long Điền, Bà Rịa – Vũng Tàu), viên tịch, thọ 61 tuổi. Cũng năm này, Ni sư Hạnh Trừng kế thế trụ trì Thiền viện này.

– Hòa thượng Lệ Hồng – Huệ Hà (1936-2009) được suy cử chức vụ Trưởng BTS Phật giáo tỉnh Bạc Liêu.

– Ni sư Hạnh Đạo (1943-2007) trùng tu chùa Hòa Quang tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

– Sư cô Diệu Phước (1966-?) kế thế trụ trì chùa An Lạc, nay tại thôn Lạc Thiện, thị trấn Dran, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

– Hòa thượng  Như Minh – Pháp Chiếu (1935-2014) khai sơn xây dựng chùa Giác Châu tại xã Ka Đơn, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

– Thượng tọa Thiện Bình (1950-2015) được suy cử làm Trưởng BTS GHPGVN quận Bình Thạnh, Tp. HCM (từ năm 2001-2015).

– Hòa thượng Nhật Minh – Diệu Tánh chủ trì trùng tu Bảo tháp Tổ sư Nguyên Thiều (1648-1728) tọa lạc ở cạnh đường Võ Văn Kiệt, phường Thủy Xuân, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

– Hòa thượng Chơn Như – Nhật Thiện (1929-2001) thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 40, trụ trì chùa Định Thành (Tp. HCM), viên tịch, thọ 73 tuổi.

2000
01/01/2000

Năm 2000 (Canh Thìn – PL.2544)

Năm 2000 (Canh Thìn – PL.2544)

– Ngày 07 tháng 1 (nhằm ngày 01 – 12 – Kỷ Mão), Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) thế danh La Dũ, pháp danh Duy Lực, tự Giác Khai, sinh tại làng Long Tuyền, huyện Bình Thủy, tỉnh Cần Thơ, thuộc dòng thiền Lâm Tế, trụ trì Từ Ân Thiền Tự (Mỹ Quốc), Ủy viên Ban Hoằng Pháp TƯ. GHPGVN, viên tịch tại California, Mỹ Quốc, thọ 77 tuổi, 25 hạ lạp. Môn đồ pháp quyến trà tỳ nhục thân ngài, phân chia xá-lợi, xây bảo tháp tôn thờ ở Từ Ân Thiền Đường – Mỹ Quốc và ở chùa Từ Ân, Tp. HCM, Việt Nam. Những tác phẩm của Hòa thượng : Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Lăng Già, Kinh Pháp Bảo Đàn, Kinh Viên Giác, Kinh Duy Ma Cật, Phật Pháp với Thiền Tông, Đại Huệ Ngữ Lục, Tham Thiền Cảnh Ngữ, Thiền Thầt Khai Thị Lục, Góp Nhặt Lời Phật Tổ Thánh Hiền, Công Án của Phật Thích Ca và Tổ Đạt Ma, Bá Trượng Quảng Lục và Ngữ Lục, Truyền Tâm Pháp Yếu, Cội Nguồn Truyền Thừa, Danh Từ Thiền Học, Chư Kinh Tập Yếu, Tín Tâm Minh tịch nghĩa giải, Vũ Trụ Quan thế kỷ 21, Yếu Chỉ Trung Quán Luận, Yếu Chỉ Phật Pháp, Đường Lối Thực Hành Tổ Sư Thiền, Đại Thừa Tuyệt Đối Luận, Triệu Luận… (TSDTVN).

– Ngày 15 tháng 1 (nhằm ngày 09 – 12 – Kỷ Mão), Hòa thượng Nhựt Sanh – Minh Thành (1937-2000) thế danh Hà Văn Xin, pháp danh Nhựt Sanh, tự Thiện Xuân, hiệu Minh Thành, sinh tại làng Khánh Hòa, huyện Châu Phú, tỉnh Châu Đốc, thuộc Tông Lâm Tế Gia Phổ, đời thứ 41, Trưởng ban Quản trị Tổ đình Ấn Quang (Tp.HCM), viên tịch, thọ 63 tuổi, 38 hạ lạp. Những tác phẩm của Hòa thượng : Phật Học Đức Dục, Luật học Cơ Bản, Tỳ-ni Sa-di Yếu giải, Oai nghi – Cảnh sách Yếu giải, Bồ-tát Giới Yếu giải, Tỳ-kheo giới Yếu giải, Bồ-tát Ưu-bà-tắc giới kinh (TSDTVN).

– Ngày 14 tháng 1 (nhằm ngày 08 – 12 – Kỷ Mão), Ni trưởng Như Ái – Hoằng Thâm (1924-2000) thế danh Võ Thị Kim Đính, pháp danh Như Ái, tự Tịnh Viên, hiệu Hoằng Thâm, sinh tại làng Hưng Trị, xã Cát Thắng, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Hương Quang (Bình Định), viên tịch, thọ 76 tuổi, 55 hạ lạp.

– Ngày 13 tháng 2 (nhằm ngày 09 – 1 – Canh Thìn), Hòa thượng Tâm Thái – Thiện Trí (1907-2000) thế danh Nguyễn Diêu, pháp danh Tâm Thái, hiệu Thiện Trí, sinh tại làng Đạo Mầu, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, Tổ khai sáng chùa Hiếu Quang (Huế), viên tịch, thọ 94 tuổi, 68 hạ lạp.

– Ngày 23 tháng 2 (nhằm ngày 19 – 1 – Canh Thìn), Hòa thượng Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) tổ chức lễ đặt đá, mở cuộc đại trùng kiến Tổ đình Thuyền Tôn tại núi Thiên Thai, Huế và tôn tạo tháp Tổ sư Thiệt Diệu – Liễu Quán.

– Ngày 26, 27 tháng 2, Tổ đình Tường Vân, TP. Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế mở giới đàn Tịnh Khiết, Hòa thượng Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu.

– Ngày 23 tháng 2 năm Canh Thìn, Ni trưởng Thọ Minh – Như Hường (1920-2000) thế danh Lê Thị Trang, pháp danh Như Hường, tự Giải Liên, hiệu Thọ Minh, sinh tại thôn Xuân An, xã Nghĩa Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Bảo Thắng (Quảng Nam), viên tịch, thọ 81 tuổi, 50 tuổi đạo.

– Ngày 09 tháng 4 năm Canh Thìn, Thượng tọa Lệ Tư – Trí Hải (1943-2000), thế danh Bùi Văn Tư, húy Lệ Tư, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 42, Tổ sáng lập chùa Liên Trì (Cần Đước, Long An), viên tịch, trụ thế 58 năm.

– Ngày 07 tháng 5, Đại đức Thích Minh Quảng (1972-?) được Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng cử về trụ trì chùa Bửu Phước tại Quốc lộ 27, thôn An Phước, xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

Ngày 15 tháng 5, Thượng tọa Thích Thiện Phúc (1945-?) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Long An bổ nhiệm trụ trì chùa Linh Nguyên tại số 236, tổ 4, ấp Bình Tả 1, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, theo công văn số 002/QĐ/BTS/2000 do Hòa thượng Thích Đạt Pháp (Trưởng BTS) ký (TVPGLA).

– Vào lúc 09 giờ 40 phút ngày 04 tháng 8 (nhằm ngày 05 – 7 – Canh Thìn), Ni trưởng Nhật Tường – Như Hòa (1923-2000) thế danh Lê Trí Hòa, húy Nhật Tường, tự Trí H a, hiệu Như H a, sinh tại xã An Nhơn, quận Châu Thành, tỉnh Sa – Đéc, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, Viện chủ chùa Dược Sư (Tp. HCM), viên tịch, thọ 77 tuổi, 57 hạ lạp.

– Ngày 18 tháng 8 (nhằm ngày 20 – 7 – Canh Thìn), Đại đức Thích Thông Phổ về trụ trì chùa Huỳnh Võ (sau này là Thiền viện Tuệ Quang) tại số 13, đường Linh Trung, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Tp. HCM.

– Ngày 25 tháng 9 (nhằm ngày 28 – 8 – Canh Thìn), Hòa thượng Tăng Đức Bổn (1917-2000) thế danh Tăng Đức Bổn, đạo hiệu Tôn Nguyên, sinh tại làng Lâm Hồ, huyện Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, thuộc Tông Tào Động, đời thứ 53, trụ trì chùa Phụng Sơn (Tp. HCM), Tăng trưởng Phật giáo Hoa Tông, viên tịch, thọ 85 tuổi, 66 hạ lạp.

– Ngày 10 tháng 10 (nhằm ngày 13 – 9 – Canh Thìn), Ni trưởng Nhật Phước – Như Huy (1922-2000) thế danh Nguyễn Thị Huy, pháp danh Nhật Phước, hiệu Như Huy, sinh tại làng Bình Hòa, tổng Bảo Lộc, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Từ Vân, viên tịch, thọ 79 tuổi, 53 hạ lạp.

– Ngày 18 tháng 10, Hòa thượng Thích Thanh Từ khởi hành sang Mỹ. Ngài được Phật tử dâng cúng ngôi Thiền viện mới xây dựng ở Dallas, Hòa thượng hoan hỷ đặt danh hiệu là Thiền viện Quang Chiếu, đồng thời chứng minh lễ khánh thành tổ chức trọng thể ngày 20/10/2000 (TTVN).

– Ngày 05 tháng 12 năm Canh Thìn, Thượng tọa Thích Trúc Thông Giác (?-2000) thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, trụ trì Thiền viện Sùng Phúc (quận Long Biên, Tp. Hà Nội), viên tịch.

– Vào lúc 01 giờ 30 phút ngày 30 tháng 12 (nhằm ngày 05 – 12 – Canh Thìn), Hòa thượng Chân Từ – Thanh Kiểm (1920-2000) thế danh Vũ Văn Khang, húy Thanh Kiểm, hiệu Chân Từ, sinh tại làng Tiêu Bảng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, thuộc Thiền phái Trúc Lâm, Viện chủ Tổ đình Vĩnh Nghiêm (quận 3, Tp. HCM), viên tịch, thọ 80 tuổi, 58 hạ lạp. Những tác phẩm của Hòa thượng có : Diễn Thuyết Tập, Phật Pháp Sơ Học, Nghiên Cứu Về Tư Tưởng Bản Giác của Phật Giáo, Lược Sử Phật Giáo Trung Quốc, Lược Sử Phật Giáo Ấn Độ, Thiền Lâm Bảo Huấn, Sách Dạy Cắm Hoa, Đại Cương Luật Học, Lược Giảng Kinh Pháp Hoa, Kinh Viên Giác, Pháp Hoa Yếu Lược, Luận A-tỳ-đàm Câu-xá, Khóa Hư Lục (TSDTVN).

– Chùa Bửu Sơn đổi tên thành Thiền viện Tuệ Thông ở ấp 1 c, xã Phước Thái, huyện Long Thành, tình Đồng Nai (năm 2002 thiền viện được trùng tu).

– Ni sư Thuần Giác trùng tu Thiền thất và được Hòa thượng Thích Thanh Từ đổi hiệu là Thiền viện Hương Hải tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

– Sách Kiến Tánh Thành Phật giảng giải của Hòa thượng Thích Thanh Từ, Nhà xuất bản TP. HCM, năm 2000.

– Sau khi Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) viên tịch, Hòa thượng Thích Minh Hiền được suy tôn làm Trưởng tông môn Tổ Sư Thiền. Hiện nay, chùa Phật Đà (quận 3, TP. HCM) do Hòa thượng làm Viện chủ, hàng tháng đều có tổ chức khóa tu thiền cho hành giả và lớp học Thiền Căn Bản do   ngài giảng dạy (www.tosuthien.com).

– Đại đức Hạnh Mãn – Tuệ Trung kế thế trụ trì Tổ đình Phước Lâm ở Tp. Hội An, tỉnh Quảng Nam.

– Hòa thượng Thông Bửu – Viên Khánh (1936-2007) trùng tu chùa Thiên Phước huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (ngôi chùa thứ 30 của Bồtát Quảng Đức khai sơn).

– Hòa thượng Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012) được Nhà nước CHXHCNVN trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì.

– Ni trưởng Nhật Phiến – Trí Thanh (1925-2003) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới tử Ni tại Đại giới đàn Pháp Thân, do BTS Tỉnh hội Phật giáo Cần Thơ tổ chức.

Đại đức Thích Nhuận Thanh (1975-?) được Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng bổ nhiệm về trụ trì chùa Khánh  Vân tại khu phố 3, thị trấn Đạ Tẻd, huyện Đạ Tẻd, tỉnh Lâm Đồng.

– Đại đức Thiện Minh chính thức về trụ trì chùa Phổ Minh tại xã Vĩnh H a, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

– Thiền thất Chánh Pháp hiện ở ấp Hiền H a, xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, xây dựng mới và được Hòa thượng Thanh Từ đặt tên là Thiền viện Đạo Huệ. Ngôi Tam bảo này do Thượng tọa Thông Hiếu – Thiện Trung sáng lập năm 1975, hiện do ngài làm trụ trì.

– Ni trưởng Nhựt Hương – Như Chơn (1917-2008) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu Ni giới cho Đại giới đàn Từ Lâm, tổ chức tại Tổ đình Bửu Lâm tại phường 3, Tp. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

– Hòa thượng Quảng Động – Phước Thành (1918-2014) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Đại giới đàn Chánh Nhơn tại Tổ đình Long Khánh, Tp. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Hòa thượng Hạnh Nhơn – Đỗng Quán (1925-2009) được mời làm Trưởng Ban điều hành lâm thời môn phái Lâm Tế Chúc Thánh ở miền Trung.

1999
01/01/1999

Năm 1999 (Kỷ Mão – PL.2543)

Năm 1999 (Kỷ Mão – PL.2543)

– Ngày 13 tháng 3 (nhằm ngày 26 – 1 – Kỷ Mão), Ni trưởng Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) thế danh Nguyễn Thị Thao, húy Hồng Ẩn, tự Diệu Tánh, pháp danh Như Thanh, sinh tại làng Tăng Nhơn Phú, huyện Thủ Đức, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Viện chủ Tổ đình Huê Lâm và Từ Nghiêm (TP. HCM), nguyên Vụ trưởng Ni bộ Bắc tông, viên tịch, thọ 89 tuổi, 67 pháp lạp. Những  tác phẩm của Ni trưởng : Lược sử Đức Phật Thích Ca, Lược sử Kiều Đàm Di Mẫu, Nghi Thức Tụng Niệm, Nghi Thức Niệm Hương, Oai Nghi Người xuất gia,…các dịch phẩm có : 24 bài kệ Bát Nhã, Thiền tông và Tịnh Độ tông, Thiền tông cương yếu, Gương Tăng sĩ hiện đại,…các thi phẩm : Hoa Thiền, Hoa Đạo, Hoa Đạo Hạnh, Hoa Bát Nhã,…Ngoài ra, Ni trưởng còn chủ biên các tập san : Nhân Cách và Hoa Đàm (HTCNVN).

– Từ ngày 19/3 – 25/3, Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) khai thị cho Tăng Ni và Phật tử khóa Thiền thất tại chùa Hưng Phước, về các vấn đề : Vũ trụ quan thế kỷ 21, Phân chia con sâu dép cỏ, Đạo do tâm ngộ bất tại tọa, Đường lối thực hành tham Tổ sư thiền, Vẫn biết cái không biết,…Cũng năm này, từ ngày 16/4 – 22/4, Hòa thượng khai thị cho hành giả khóa Thiền thất cũng tại chùa Hưng Phước. Ngài trình bày các vấn đề đại loại như : Vì sao kiến tánh rồi tu Tịnh độ, Tông chỉ Tịnh độ, Tứ liệu giản, Tông chỉ Tổ sư thiền,…Sau đó, từ ngày 15/5 – 21/5, Thiền sư tiếp tục khai thị cho hành giả tại chùa này. Ngài giảng giải các vấn đề : Tham thiền đến giai đoạn quên, Nhìn và hỏi cùng một lúc, Sơ tổ Luật tông Đạo Tuyên,…(www.tuvien.com).

– Từ ngày 10/5 – 19/5, Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) thuyết giảng giáo lý Thiền tông cho Tăng Ni khóa Bồi dưỡng giảng sư tại Văn ph ng 2, Thiền viện Quảng Đức (quận 3, Tp. HCM). Đồng thời, ngài khai thị các vấn đề như : Phật pháp không chia giáo pháp ra thành Tiểu thừa – Trung thừa – Đại thừa, Chơn tâm và vọng tâm, Từ gốc vô trụ sanh ra tất cả pháp,…(www.tuvien.com).

– Ngày 26 tháng 3 (nhằm ngày 09 – 2 – Kỷ Mão), Lễ đặt đá trùng tu Tổ đình Thiên Đức tại thôn Háo Lễ, xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Đến ngày 06/9/2007, Hòa thượng Quảng Phước – Thiện Nhơn làm trụ trì, tổ chức Lễ khánh thành Tổ đình rất long trọng.

– Ngày 15 tháng 2 năm Kỷ Mão, Thượng tọa Thích Thiện Huệ (1937-1999), thế danh Hồ Văn Năm, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 44, trụ trì chùa Cửu Long (Tân Trụ, Long An), viên tịch, thọ 63 tuổi.

– Ngày 11 tháng 3 năm Kỷ Mão, Ni trưởng Nhật Từ (1912-1999) thế danh Huỳnh Thị Mai, húy Nhật Từ, hiệu Như Từ, sinh tại xã Long Sơn, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Phổ Minh (Trà Vinh) viên tịch, thọ 87 tuổi, 57 hạ lạp.

– Ngày 30 tháng 4 năm Kỷ Mão, Ni trưởng Nguyên Chánh – Minh Bổn (1935-1999) thế danh Trương Thị Mai Hương, pháp danh Nguyên Chánh, hiệu Minh Bổn, sinh tại làng Ái Nghĩa, Đại Lộc, Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, trụ trì chùa Hương Sơn (Huế), viên tịch, thọ 65 tuổi, 34 hạ lạp.

– Ngày 15, 16, 17 tháng 5, Lễ húy kỵ Cố Hòa thượng Tâm Lai –  Phước Hậu, thuộc dòng thiền Tế thượng – Chánh tông, đời thứ 43, Tổ khai sơn chùa Thiên Linh (phường 8, quận 6, TP. HCM) và lễ lạc thành chùa này.

– Ngày 09 tháng 6, (nhằm ngày 26 – 5 – Kỷ Mão) Hòa thượng Hồng Phương – Trí Đức (1915-1999) thế danh Nguyễn Thuần Nam, pháp danh Hồng Phương, hiệu Huệ Phước, húy Chơn Bảo, sinh tại Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, thuộc Tông Lâm Tế, đời thứ 40, trụ trì chùa Vĩnh Hòa (Bạc Liêu), viên tịch, thọ 84 tuổi, 64 hạ lạp.

– Ngày 14 tháng 6 (nhằm ngày 01 – 5 – Kỷ Mão), Hòa thượng Nguyên Chơn – Khế Hội (1921-1999) họ Nguyễn, húy Khế Hội, pháp danh Nguyên Chơn, tự Thiện Minh, hiệu Trí Thành, sinh tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, trụ trì Tổ đình Long Sơn Bát Nhã (Phú Yên), viên tịch, thọ 78 tuổi, 52 hạ lạp.

– Ngày 17 tháng 7 (nhằm ngày 05 – 6 – Kỷ Mão), Hòa thượng Thiện Lạc – Hồng Liên (1915-1999), thế danh Nguyễn Văn Ánh, pháp danh Hồng Liên, hiệu Thiện Lạc, sinh tại xã Long Khánh, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 40, Viện chủ chùa An Phước (Bến Tre), viên tịch, thọ 84 tuổi, 64 hạ lạp.

– Ngày 01 tháng 7 năm Kỷ Mão, Hòa thượng Trừng Tác – Pháp Chí (1904-1999) pháp danh Trừng Tác, sinh tại làng Bình Đăng, huyện Tân Phong Hạ, hạt Chợ Lớn, tỉnh Gia Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì chùa Thiên Trì (Bình Chánh, Tp.HCM), viên tịch, thọ 96 tuổi, 66 hạ lạp.

– Ngày 14 tháng 8 (nhằm ngày 04 – 7 – Kỷ Mão), Ni trưởng Như Ý (1916-1999) thế danh Bùi Thị Nương, pháp danh Như Ý, hiệu Nhựt Ý, sinh tại Giồng Trôm, Bến Tre, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, Phó viện chủ chùa Vạn Phước (Tiền Giang), viên tịch, thọ 83 tuổi, 59 hạ lạp.

– Ngày 15 tháng 8, chùa Linh Sơn hiện tại ấp Tây, xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, được Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin trao Bằng Công Nhận Di Tích Lịch Sử – Văn hóa Rạch Núi (quyết định số 38.QĐ/BT, ngày 11 – 6 – 1999, số mục 2363) do ông Nguyễn Khoa Điềm ký. Chùa này do Thượng tọa Lệ Thắng – Huệ Bạch (1945-?) trụ trì (TVPGLA).

– Tháng 8, Đại đức Thích Thanh Quang (1969-?) được Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng cử về trụ trì chùa Phổ Minh tại thôn Quảng Hiệp, xã Hiệp Thạnh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

– Ngày 09 tháng 9 (nhằm ngày 30 – 7 – Kỷ Mão), Hòa thượng Tông Tế – Hoằng Tu (1913-1999) thế danh Từ Khải Niên, pháp tự Tông Tế, hiệu Kim Tế, sinh tại thôn Tú Thủy, làng Thang Khanh, huyện Phong Thuận, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông – Trung Quốc, thuộc Tông Tào Động, đời thứ 50, trụ trì Từ Ân Thiền Tự (quận 11, Tp. HCM), viên tịch, thọ 87 tuổi, 64 giới lạp.

– Ngày 15 tháng 10 (nhằm ngày 07 – 9 – Kỷ Mão), Hòa thượng Nhựt Kiến – Định Quang (1924-1999) thế danh Trần Văn Chỉnh, pháp danh Nhựt Kiến, hiệu Không Tâm, sinh tại ấp Bình Phú, xã Tân Bình Đông, huyện Lấp V , tỉnh Long Xuyên, thuộc Tông Lâm Tế Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Huỳnh Kim (quận Gò Vấp, Tp. HCM), viên tịch, thọ 76 tuổi, 51 hạ lạp. Theo  TSDTVN  ghi : Do công đức và sự nghiệp phục vụ cho đạo pháp – dân tộc, Hòa thượng được nhà nước trao tặng : Huân chương Kháng chiến hạng nhì, Huy chương Vì sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân, Huy hiệu thành phố Hồ Chí Minh và nhiều bằng khen của Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố và địa phương…

– Ngày 01 tháng 11 (nhằm ngày 24 – 9 – Kỷ Mão), Hòa thượng Trừng Châu – Huyền Quý (1897-1999), thế danh Dương Văn Châu, pháp danh Trừng Châu, hiệu Hoằng Huệ, sinh tại xã Tân Đông, huyện Gò Công Đông, tỉnh Gò Công, thuộc dòng Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ  42, trụ trì chùa Liên Hoa (Tiền Giang), viên tịch, thọ 102 tuổi, 45 hạ lạp. Theo TSDTVN ghi : …Hòa thượng làm cho Tổ ấn trùng quang, Tông phong vĩnh chấn, ngài còn góp nhiều công lao trong việc trùng tu trang nghiêm các ngôi già-lam ở tỉnh nhà như : chùa Thái Bình, Tân Long, Liên Hoa, Linh Sơn, Huệ Quang, Bồ-đề,…

– Ngày 04 tháng 10 năm Kỷ Mão, Hòa thượng Thích Thiện Tấn (1916-1999), thế danh Đinh Văn Chính, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, Tổ khai sơn chùa An Phước (Rạch Giá,  Kiên Giang), viên tịch, thọ 84 tuổi.

– Ngày 12 tháng 10 năm Kỷ Mão, Thượng tọa Như Bách – Trí Độ (1940-1999), pháp húy Như Bách, tự Giải Tâm, hiệu Trí Độ, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Thiên Long (Quy Nhơn, Bình Định), viên tịch, thọ 61 tuổi.

– Ngày 15, 16 tháng 12, chùa Giác Thiên tại thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long mở giới đàn, Thượng tọa Đắc Pháp (1938-2013) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Thượng tọa Nhật Quang làm Yết Ma, Thượng tọa Minh Thông làm Giáo thọ.

– Hòa thượng Nhựt Trí – Thiện Tín (1921-1999) thế danh Lê Văn Điệp, pháp húy Nhựt Trí, tự Thiện Tín, hiệu Phổ Thông, sinh tại xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, thuộc dòng Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, trụ trì chùa Phật Quang, viên tịch, thọ 79 tuổi, 57 hạ lạp.

– Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) thành lập ph ng khám bệnh và phát thuốc miễn phí cho nhân dân tại xã Phước Tân, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

– Hòa thượng Thích Thanh Từ trùng tu và xây dựng thêm : nhà khách tăng, lầu trống, thư viện và nhà trưng bày tại Thiền viện Trúc Lâm trên núi Phụng Hoàng, ở khu phố 7, phường 3, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng.

– Thiền viện Huệ Chiếu tại thị xã Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, trùng tu chánh điện.

– Hòa thượng Thị Duật – Hạnh Pháp – Liễu Không (1931-1999) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì Tổ đình Thiên Bình (An Nhơn, Bình Định), viên tịch, thọ 69 tuổi.

– Đại đức Đồng Tâm – Phước Minh kế thế trụ trì Tổ đình Thiên Bình ở làng Trung Lý, xã Nhơn Phong, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Hòa thượng Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đường đầu cho giới đàn Tịnh Khiết tại chùa Tường Vân – Huế. Cũng năm này, ngài làm Trưởng phái đoàn PGVN sang thăm hữu nghị Phật giáo Trung Quốc (CTTĐPGTH).

– Chùa Huỳnh Võ (sau này là Thiền viện Tuệ Quang) tại số 15, ấp 3, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Tp. HCM, được trùng tu, do gia đình sư cô Huệ Định trùng kiến cúng dường cho Hòa thượng Thích Thanh Từ.

– Các sách : Thánh Đăng Lục giảng giải,  Hương Hải Thiền Sư Ngữ Lục giảng giải và Thiền Căn Bản (NXB Tôn Giáo) của Hòa thượng Thích Thích Thanh Từ, Nhà xuất bản Tp. HCM, năm 1999.

– Đại đức Thích Thông Hiền (1960-?) được Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng và Phật tử đề cử trụ trì chùa Huệ Lâm tại ấp Phước Thành, phường 7, TP. Đà Lạt.

– Hòa thượng Thích Toàn Đức (1940-?) và Phật tử địa phương sáng lập chùa Linh Phúc tại thôn 8, xã Hòa Bắc, thị trấn Di Linh, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

– Ni trưởng Đức Huy – Đàm Ánh (1925-2015) khởi công xây dựng bảo tháp, đúc tượng Bồ-tát Quan Âm, đúc đại hồng chung Tổ đình Phụng Thánh, ngõ Cống Trắng, phường Trung Phụng, quận Đống Đa, Tp. Hà Nội. Đến năm 2011, Ni trưởng trùng tu Tổ đường, giảng đường, xây tam quan, vườn tháp và các công trình sinh hoạt khác của Tổ đình này.

– Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) khai thị cho hành giả khóa Thiền thất tại chùa Hưng Phước. Ngài giảng giải về các vấn đề : Giới thiệu vũ trụ quan, Thân thể của tánh Bát Nhã, Chẳng thể thấy bản thể, Người chủ trương thì bị nhân quả, Tu bát quan trai, Phật pháp là hiện bản tâm (thamtosuthien.net).

1998
01/01/1998

Năm 1998 (Mậu Dần – PL.2542)

Năm 1998 (Mậu Dần – PL.2542)

– Ngày 28 tháng Giêng năm Mậu Dần, Hòa thượng Như Thượng – Thường Chiếu (1914-1998) thế danh Lê Thượng, pháp danh Như Thượng, hiệu Thường Chiếu, quê ở làng Ưu Điềm, tỉnh Thừa Thiên – Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Lâm Huê (Bình Dương), viên tịch, thọ 85 tuổi, 55 hạ lạp.

– Ngày 04 tháng 4, Ni trưởng Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Ni giới, giới đàn Thiện Hào tại chùa Từ Nghiêm (quận 10, TP. HCM).

– Vào lúc 10 giờ ngày 11 tháng 5 năm Mậu Dần, Hòa thượng Lệ Sành – Huệ Sanh (1935-1998) thế danh Nguyễn Văn Sành, húy Lệ Sành, tự Huệ Sanh, hiệu Thiện Như, nguyên quán ở xã Tân Sơn Nhì, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định, thuộc tông Lâm Tế, đời thứ 42, trụ trì Tổ đình Giác Lâm (Tp. HCM), viên tịch, thọ 64 tuổi, 44 hạ lạp.

– Ngày 20 tháng 6 (nhằm ngày 21 – 5 – Mậu Dần), Hòa thượng Đồng Quả – Thiện Phước (1930-1998) thế danh Nguyễn Bản, pháp danh Đồng Quả, tự Thiện Phước, hiệu Nghiêm Tịnh, sinh tại làng Thuận Phú, xã Phú Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, trụ tại chùa Linh Sơn (Lâm Đồng), viên tịch, thọ 69 tuổi.

– Ngày 11 tháng 6 năm Mậu Dần, Đại đức Thích Trúc Thông Giác về nhập tự giáo hóa tại Thiền viện Sùng Phúc ở Tổ 10, phường Cự Khối, quận Long Biên, TP. Hà Nội.

– Ngày 28 tháng 9 (nhằm ngày 08 – 8 – Mậu Dần), Hòa thượng Thích Thanh Từ được tín nữ Nga và con cháu cúng dường chùa Huỳnh Võ tại phường Linh Trung, quận Thủ Đức, TP. HCM cho ngài. Buổi lễ được tổ chức trang nghiêm và trọng thể tại chùa Huỳnh Võ.

– Ngày 01 tháng 11 (nhằm ngày 13 – 9 – Mậu Dần), Hòa thượng Chơn Ngọc – Long Trí (1928-1998) thế danh Lý Trường Châu, pháp danh Chơn Ngọc, tự Đạo Bảo, hiệu Long Trí, sinh tại làng Minh Hương, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì chùa Viên Giác (Quảng Nam), viên tịch, thọ 71 tuổi.

– Ngày 02 tháng 11 (nhằm ngày 14 – 9 – Mậu Dần), Hòa thượng Tâm Hoa – Minh Đạo (1913-1998), thế danh Dương Văn Tam, pháp danh Tâm Hoa, tự Thiện Khai, hiệu Minh Đạo, nguyên quán ở huyện đảo Phú Quý, Bình Thuận, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 43, trụ trì Tổ đình Long Quang (Bình Thuận), viên tịch, thọ 86 tuổi, 66 hạ lạp.

– Ngày 07 tháng 11 năm Mậu Dần, Hòa thượng Trừng Hóa – Hưng Dụng (1915-1998) thế danh Đào Ngọc Thố, pháp danh Trừng Hóa, tự Lương Bật, hiệu Hưng Dụng, sinh tại làng Trung Kiên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc Tông Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì Tổ đình Kim Tiên (Huế), viên tịch, thọ 84 tuổi, 65 hạ lạp.

– Ngày 26 tháng Chạp năm Mậu Dần, Hòa thượng Thị Châu – Từ Hàng (1912-1998), họ Dương, pháp danh Thị Châu, tự Giác Viên, hiệu Từ Hàng, sinh tại thôn Nho Lâm, xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì chùa Bình An (Quy Nhơn, Bình Định), viên tịch, thọ 87 tuổi.

– Thượng tọa Viên Khánh – Thông Bửu (1936-2007) xây dựng nhà từ đường Bồ Tát Quảng Đức tại xã Tu Bông, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

– Thiền viện Thường Chiếu (Long Thành – Đồng Nai) thành lập Ban Văn Hóa Thường Chiếu, dưới sự chủ trì của Hòa thượng Thích Thanh Từ.

– Chùa Phước Hậu hiện tại số 674, ấp Chánh, xã Đức Lập Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, đại trùng tu. Chùa xây dựng lại bằng bê-tông cốt thép, gồm trệt và một lầu làm chánh điện. Chùa do Đại đức Thích Bửu Thiện (1951-?) trụ trì.

– Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) được Giáo hội mời làm Ủy viên Ban Hoằng Pháp TƯ. GHPGVN, được phân công thuyết giảng tại các khóa bồi dưỡng Hoằng pháp do Giáo hội tổ chức tại các tỉnh thành.

– Hòa thượng Trừng Chiếu – Từ Mãn (1918-2007) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Đại giới đàn Trí Thủ tổ chức tại chùa Linh Sơn ở Tp. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

– Sách Thiền Tông Bản Hạnh giảng giải của Hòa thượng Thích Thanh Từ, Nhà xuất bản TP. HCM, năm 1998.

– Đại đức Đồng Chơn – Minh Chiếu (1948-?) kế thừa trụ trì chùa Bình An tại thôn Bình Thạnh, xã Nhơn Bình, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Hòa thượng Thanh Từ cử 3 vị Ni là Sư cô Hạnh Nguyên, Phước Lạc, Linh Thường về trông coi ngôi Tam Bảo tại thị xã Thủ Dầu Một, do cụ bà Nguyễn Thị Viễn cúng dường. Đến năm 2000, Hòa thượng cho trùng tu đạo tràng này và để bảng là Thiền thất Phúc Trường, đến năm 2006, đổi thành Thiền viện Phúc Trường tại số 20/22, đường Phan Đăng Lưu, ấp 3, xã Tân An, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

– Thượng tọa Thiện Bình (1950-2015) được bổ nhiệm trụ trì chùa Bửu Liên tại số 570, đường Xô Viết Nghệ Tỉnh, phường 25, quận Bình Thạnh, Tp. HCM.

– Hòa thượng Trí Hải – Quảng Liên (1925-2009) hành hương, chiêm bái và hoằng pháp tại các nước châu Á, châu Âu (1998-2003) (phatgiaophuyen.com).

– Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) khai thị cho tứ chúng khóa Thiền thất tại chùa Từ Ân thuộc phường 16, quận 11, Tp. HCM. Ngài giảng giải về các vấn đề : Thực hành tham, Cái gì đi đầu thai ? Không biết làm sao, Thấy và biết khác, Kiến tánh nương bộ, Tu sĩ để hoằng pháp.

– Tổ đường thiền viện Thường Chiếu thuộc xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai trùng tu, và khánh thành trong năm này.

1997
01/01/1997

Năm 1997 (Đinh Sửu – PL.2541)

Năm 1997 (Đinh Sửu – PL.2541)

– Ngày 19 tháng Giêng năm Đinh Sửu, Hòa thượng Huyền Luận – Tâm Hướng (1923-1997) thế danh Dương Xuân Đệ, pháp danh Nguyên Nguyện, tự Tâm Hướng, hiệu Huyền Luận, sinh tại làng Hương Cần, xã Hương Toàn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, trụ trì chùa Vạn Phước (Huế), viên tịch, trụ thế 75 năm, 48 hạ lạp.

– Ngày 22 tháng 2 năm Đinh Sửu,  Ni sư Đạt Đắc (1903-1997), thế danh Nguyễn Thị Đa, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, trụ trì am Tỉnh Ngộ (Long An), viên tịch, thọ 87 tuổi.

– Ngày 29 tháng 2 năm Đinh Sửu, Ni trưởng Giác Chơn – Như Thiệt (1927-1997) thế danh Võ Thị Hữu, pháp danh Như Thiệt, hiệu Giác Chơn, sinh tại Xoài Hột, xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, trụ trì Thiên Phước Cổ tự (Tiền Giang), viên tịch, thọ 70 tuổi, 36 năm hóa độ.

– Từ ngày 06/4 – 12/4/Đinh Sửu, Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) khai thị cho hành giả khóa Thiền thất tại chùa Tam Bảo ở Nha Mân, thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Thiền sư giảng giải các vấn đề như : Ban phước – tụng kinh Pháp Hoa, Thành tâm cầu được quả không, Thị pháp trụ pháp vị, Tổ không tham thoại đầu vẫn kiến tánh,…Cũng năm Đinh Sửu này, từ ngày 14/5 – 20/5, Hòa thượng tiếp tục khai thị cho hành giả khóa Thiền thất tại chùa Tam Bảo, về các vấn đề : Cái này là cái gì ? Có nhân quả sao gọi là tánh không ? Thế nào là biết không qua bộ óc,…Sau đó, từ ngày 14/6 – 20/6/Đinh Sửu, Thiền sư tiếp tục khai thị cho hành giả tại chùa này. Ngài giảng giải về các vấn đề đại loại như : Pháp thế gian và xuất thế gian, Thấy vật nặng đè trên đầu, Bổn lai vô nhất vật, Biết trước là hư không, sao không ngộ,…(www.tuvien.com).

– Ngày 03 tháng 5 năm Đinh Sửu, Ni trưởng Không Tánh – Như Đăng (1916-1997) thế danh Trương Ngọc Hương, pháp danh Như Đăng, hiệu Không Tánh, sinh tại xã Tân Lộc, huyện Quảng Long, tỉnh Ba Xuyên (Sóc Trăng), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 42, Viện chủ chùa Phước Hòa (Sóc Trăng), viên tịch, thọ 81 tuổi, 54 pháp lạp.

– Từ ngày 14/7 – 20/7/Đinh Sửu, Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) khai thị cho Tăng Ni và Phật tử khóa Thiền thất tại chùa Tam Bảo ở Nha Mân, thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, về các vấn đề : Không sanh tử sao lại có nhân quả, Không sanh khởi – Ý thức với tự tánh, Tâm niệm xuất phát từ đâu ? Cội nguồn – không biết luật,…Cũng năm Đinh Sửu này, từ ngày 14/8 – 20/8, Thiền sư tiếp tục khai thị cho hành giả khóa Thiền thất tại chùa này, về các vấn đề đại loại như : Đạo khả đạo phi thường đạo, Thế nào là Giáo môn và Thiền tông, Biết để tu chậm kiến tánh không biết,…(www.tuvien.com).

– Vào lúc 02 giờ khuya ngày 23 tháng 9 (nhằm ngày 22 – 8 – Đinh Sửu), Ni trưởng Trừng Hảo – Diệu Không (1905-1997) thế danh Hồ Thị Hạnh, pháp danh Trừng Hảo, tự Diệu Không, sinh tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì chùa Hồng Ân (Huế), viên tịch, thọ 93 tuổi, 53 hạ lạp. Những  tác phẩm dịch thuật của Ni trưởng : Thành Duy Thức Luận Thuật Lý, Du Già Sư Địa Luận, Hiện Thực Luận, Trung Quán Luận lược giải, Kinh Lăng Già Tâm Ấn, Kinh Duy Ma Cật (HTCNVN).

– Tháng 11, Hòa thượng Nhựt Kiến – Định Quang (1924-1999) được suy tôn làm Thành viên HĐCM kiêm Chứng minh Ban Hoằng pháp GHPGVN. Cũng năm này, ngài được suy cử làm Phó BTS THPG, kiêm Chứng minh BĐD Phật giáo quận Gò Vấp, Tp. HCM.

– Tháng 12, Ni sư Nhật Đạo (1957-2012) về trụ trì chùa Phật Quang thuộc huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

– Tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc kỳ V, ở thủ đô Hà Nội, chư vị tôn đức : Hòa thượng Thích Hoằng Tu (1913-1999),  Hòa thượng Hồng Phương – Trí Đức (1915-1999), Hòa thượng Trừng Chiếu – Từ Mãn (1918-2007), Hòa thượng Nguyên Phước – Quang Thể (1922-2005), Hòa thượng Hạnh Huệ – Đỗng Minh (1927-2005), Hòa thượng Tâm Nhẫn – Chí Tín (1922-2013) được suy tôn làm Thành viên HĐCM TW GHPGVN (TSDTVN).

– Hòa thượng Như Nhàn – Trí Giác (1915-2005) được cung thỉnh làm Chứng minh BTS Phật giáo tỉnh Quảng Nam.

– Hòa thượng Nhựt Sáu – Từ Nhơn (1926-2013) được suy tôn làm Thành viên HĐCM kiêm Phó chủ tịch TƯ. GHPGVN.

– Hòa thượng Thiện Phước – Nghiêm Tịnh (1930-1998) được cung cử vào chức vụ Phó BTS Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Lâm Đồng.

– Thiền viện Viên Chiếu thành lập gia đình Phật tử cho các cháu thiếu nhi sinh hoạt vào mỗi cuối tuần tại vườn thiền Viên Chiếu (Long Thành, Đồng Nai).

– Hòa thượng Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được suy cử làm Viện trưởng Học viện PGVN tại Huế. Cũng năm này, ngày 07 tháng 5, ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho đại giới đàn chùa Từ Đàm, TP. Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

– Hòa thượng Tâm Bổn – Trí Nghiêm (1911-2003) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Đại giới đàn Trí Thủ tại chùa Long Sơn, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

– Ni trưởng Nhật Tường – Như Hòa (1923-2000) được suy cử làm Ủy viên HĐTS GHPGVN nhiệm kỳ IV (1997-2002) và mời làm Ủy viên Tăng sự phụ trách Ni giới Bắc tông.

– Ni sư Nhật Phước – Như Huy (1922-2000) được suy cử làm Ủy viên BTS THPG TP. HCM.

– Ni trưởng Nhật Phiến – Trí Thanh (1925-2003) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới tử Ni tại Đại giới đàn Thiện Phước, do BTS Tỉnh hội Phật giáo Cần Thơ tổ chức.

– Hòa thượng Như Truyện – Trí Nhãn (1909-2004) được cung thỉnh vào HĐCM TƯ. GHPGVN. Đồng thời, ngài được cung thỉnh làm Chứng minh Đạo sư BTS Phật giáo tỉnh Quảng Nam.

– Hòa thượng Nguyên Phước – Quang Thể (1922-2005) được suy cử làm Trưởng BTS Phật giáo TP. Đà Nẵng nhiệm kỳ I và II (1997-2007).

– Thượng tọa Như Hảo – Quảng Tâm (1947-2010) được cung thỉnh làm CĐD Phật giáo quận 9, TP. HCM.

– Ni sư Hạnh Đạo (1943-2007) đảm nhiệm chức vụ Phó BĐD Phật giáo huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam nhiệm kỳ I (1997-2001).

– Hòa thượng Nguyên Chơn – Khế Hội (1921-1999) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Đại giới đàn Liễu Quán, do GHPG tỉnh Phú Yên tổ chức.

– Hòa thượng Trí Thắng – Đồng Huy (1919-2010) được suy tôn làm thành viên HĐCM TW GHPGVN. Cũng năm này, ngài được bầu làm Trưởng Ban quản trị Đại Tòng Lâm (Bà Rịa – Vũng Tàu).

– Ni sư Trí Hạnh (1936-1997), thế danh Võ Thị Ngọc Hồ, quê ở huyên Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ  43, Tổ khái sáng chùa Quán Thế Âm (TP. Đà Lạt), viên tịch, thọ 62 tuổi.

– Thượng tọa Thích Không Trú (1953-2016) kế thế trụ trì chùa Viên Giác (chùa Làng) hiện tại Cầu Đất, xã Xuân Trường, TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

– Sư cô Chúc Tâm (1967-?) về trụ trì chùa Giác Thông nay tại thôn Suối Thông B, xã Đà Ròn, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

– Đại đức Thích Thanh Thế (1946-?) khai sơn xây cất Tịnh thất Thánh Đức (sau đổi là chùa Thánh Đức) tại thôn Đại Ninh, xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

– Thượng tọa Thích Đức Nghi (1947-?) khai sơn xây dựng Tu viện Bát Nhã nay tại thôn 10, xã Dambri, thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

– Đại đức Tâm Tánh – Bửu Thông kế thế trụ trì chùa Kim Tiên, nay tại khu 7, thị trấn Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (1997- đến nay).

– Hòa thượng Thanh Đàm – Trí Dũng (1906-2001) được suy tôn làm Thành viên HĐCM TW. GHPGVN. Cũng năm này vào ngày 21 tháng 6, Hòa thượng được Nhà nước tặng huân chương Kháng Chiến Chống Mỹ hạng nhì.

– Ni sư Nhật Liên – Như Hoa (1949-2012) được suy cử làm Phó BĐD Phật giáo Quận 12, Tp. HCM (1997-2007).

– Hòa thượng Lệ Minh – Hoằng Từ (1941-2008) được suy cử vào Ủy viên HĐTS TW. GHPGVN và Phó Trưởng ban thường trực BTS Phật giáo tỉnh Tiền Giang suốt nhiều nhiệm kỳ 4, 5, 6, 7. Đồng thời, Hòa thượng được suy cử làm Hiệu trưởng Trường Trung Cấp Phật học Tiền Giang.

– Hòa thượng Quảng Động – Phước Thành (1918-2014) được suy cử làm thành viên HĐCM TW. GHPGVN. Cũng năm này, ngài được suy cử làm Trưởng BTS GHPGVN tỉnh Bình Định, nhiệm kỳ II (1997-2002).

– Hòa thượng Nhật Đăng – Chánh Đạo (1911-2011) và Hòa thượng Hồng Trung – Huệ Hải (1919-2008) được suy tôn làm thành viên HĐCM TW. GHPGVN.

– Thượng tọa Quảng Trai – Chí Đạo (1945-2014) được suy cử làm Phó trưởng BTS Phật giáo tỉnh Quảng Nam.

– Hòa thượng Tâm Cần – Chơn Ngộ (1913-2013) được suy cử làm Trưởng Ban Tăng sự GHPG tỉnh Quảng Nam (1997-2002). Cũng năm này, Hòa thượng được cung thỉnh làm thành viên HĐCM TW. GHPGVN.

– Thượng tọa Đức Thành – Đồng Hạnh (1942-2003) được mời giữ chức Trưởng Ban Hoằng pháp tỉnh hội Phật giáo Bình Định (1997-2002).

– Hòa thượng Quảng Phước – Thiện Nhơn (1931-2013) được suy cử vào Ủy viên HĐTS GHPGVN, Phó BTS kiêm Trưởng ban Tăng sự GHPGVN tỉnh Bình Định kiêm CĐD Phật giáo huyện Tuy Phước (1997-2002).

– Hòa thượng Chân Từ – Thanh Kiểm (1920-2000) được suy cử làm Phó Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội. Cũng năm này, Hòa thượng được cử làm Phó BTS THPG Tp. HCM kiêm Ủy viên Phật giáo Quốc tế, sau này ngài được cử làm Trưởng ban Phật giáo Quốc tế THPG Tp. HCM.

– Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) khai thị cho hành giả khóa Thiền thất tại chùa Từ Ân thuộc phường 16, quận 11, Tp. HCM. Ngài giảng giải về các vấn đề : Sát-na lìa ý thức, Tọa mới đạt đến, Gió thổi bay núi mà thường tịnh, Tam quy ngũ giới. Cũng năm này, Hòa thượng khai thị cho hành giả khóa Thiền thất tại chùa Tam Bảo thuộc Nha Mân, thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Ngài trình bày về các chủ đề : Ưng vô sở trụ, Biết lọt vào vọng tưởng, Có đi sẽ đến, Hạnh và giới Bồ-tát, Cư sĩ tập hạnh xuất gia (thamtosuthien.net).

– Đại đức Không Trú (1953-2016) được bổ nhiệm trụ trì chùa Viên Giác ở làng Cầu Đất, xã Xuân Trường, Tp. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

– Thượng tọa Phước Trí được bổ nhiệm trụ trì chùa Pháp Vân tại số 16, đường Lê Thúc Hoạch, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, Tp. HCM.

– Ni trưởng Nhật Tường – Như Hòa (1923-2000) được suy cử làm Ủy viên HĐTS GHPGVN nhiệm kỳ IV (1997-2002), đồng thời làm Ủy viên Tăng sự phụ trách Ni giới Bắc tông (Kỷ Yếu Ni trưởng Như H a, NXB Tp. HCM 2001).

– Thượng tọa Minh Đạo – Thiện Thanh (1941-2016) được suy cử vào chức vụ Phó BTS kiêm Trưởng Ban Hướng dẫn Phật tử tỉnh Long An nhiệm kỳ V (1997-2002).

1996
01/01/1996

Năm 1996 (Bính Tý – PL.2540)

Năm 1996 (Bính Tý – PL.2540)

– Ngày 13 tháng 1, Đại đức Thích Kiến Cơ (?-1997), thuộc thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, trụ trì chùa Long Thắng (Tân Uyên, Bình Dương), viên tịch.

– Ngày 19 tháng 1 (nhằm ngày 29 – 11 – Ất Hợi), Hòa thượng Hồng Đạo – Bửu Ý (1917-1996), thế danh Nguyễn Văn Đạt, pháp húy Hồng Đạo, tự Thiện Đắc, hiệu Bửu Ý, sinh tại xã Mỹ Hạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Chợ Lớn, thuộc Tông Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì Tổ đình Long Thạnh (Bình Chánh – TP. HCM), viên tịch, thọ 80 tuổi, 56 hạ lạp.

– Ngày 24 tháng 1 (nhằm ngày 05 – 12 – Ất Hợi), Hòa thượng Không Tín – Kế Châu (1922-1996) họ Nguyễn, pháp danh Không Tín, tự Giải Thâm, hiệu Kế Châu, sinh tại thôn Nhạn Tháp, xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, thuộc dòng thiền Lâm Tế, đời thứ 41, trụ trì Tổ đình Thập Tháp (Bình Định), viên tịch, thọ 75 tuổi, 55 hạ lạp. Những tác phẩm dịch thuật của Hòa thượng : Bách Thành Yên Thủy của Phật Quốc Thiền sư, Thập Mục Ngưu Đồ Tụng, Long Bích Thi Tập (2 tập), Kim Cang Nghĩa Mạch, Kim Cang Trực Sớ, Di Đà Giảng Thoại (CTTĐPGTH).

– Vào lúc 0 giờ 20 phút ngày 25 tháng 1 (nhằm ngày 06 – 12 – Ất Hợi), Hòa thượng Tuấn Đức – Quảng Thạc (1925-1995) thế danh Dương Đức Thắng, pháp danh Quảng Thạc, hiệu Tuấn Đức, sinh tại làng Quần Phương Hạ, xã Hải Tây, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, thuộc Thiền phái Tào Động, trụ trì chùa An Lạc (Tp. HCM), viên tịch, thọ 70 tuổi, 40 tuổi đạo.

– Ngày 25 tháng 2 năm Bính Tý, Hòa thượng Nhựt Tân – Quảng Ngọc (1921-1996), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Thới Bình (Cần Giuộc, Long An), viên tịch, trụ thế 76 năm.

– Ngày 08 tháng 5 (nhằm ngày 21 – 3 – Bính Tý), Thượng tọa Nguyên Đức – Minh Phát (1956-1996), thế danh Lê Nhựt Nguyên, pháp danh Nguyên Đức, hiệu Minh Phát, sinh tại tỉnh Chợ Lớn, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh tông, đời thứ 44, Phó Ban quản trị Tổ đình Ấn Quang (TP. HCM), thị tịch, trụ thế 41 năm, 21 hạ lạp. Những tác phẩm biên soạn của Thượng tọa : Đời Sống Đức Điều Ngự, Xuân Vô Năng Thắng, Giai Thoại Nhà Thiền, Các Nghi Thức Tụng Niệm và Chúc Tán, Khoa Cúng Tổ Kiều Đàm Di Mẫu, Tu Chỉnh Giới Đàn Ni, Các Tập Thi Phú…(TSDTVN, www.viengiac.vn).

– Tháng 5, Hòa thượng Thích Thanh Từ được mời sang thăm Phật giáo Indonesia và dự Đại lễ Vesak lần thứ 2540 tại nước này. Đến tháng 11 năm này, Hòa thượng được cộng đồng Phật tử ở Úc mời sang thăm viếng (TTVN).

– Ngày 02 tháng 4 năm Bính Tý, Đại đức Nhựt Tăng – Thiện Phước (1926-1996), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Thiền Tông (Tân Thạnh, Long An), viên tịch, thọ 71 tuổi.

– Ngày 07 tháng 4 năm Bính Tý, Ni sư Chúc Nghiêm – Từ Thuần (1944-1996), thế danh Trần Thị Sáu, pháp danh Chúc Nghiêm, tự Giác Tịnh, hiệu Từ Thuần, sinh tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 44, Tổ khai sơn chùa Từ Thuyền (Đà Lạt) và chùa Giác Tâm (Đơn Dương), thị tịch, hưởng dương 53 tuổi.

– Ngày 10 tháng 7, Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) thuyết giảng giáo lý Thiền tông tại Long Hoa Cổ tự, đồng thời ngài khai thị các vấn đề : Phiền não là sở biết, Liễu liễu thường tri, Như Lai thiền từ, Tánh nghe cùng khắp, Đường lối Tổ sư thiền, Biết rõ tham sân si, Luyện khí công. Cũng năm này, ngày 31 tháng 7, Hòa thượng khai thị cho hành giả tại Long Hoa Cổ tự, về các vấn đề : Phiền não là sở biết, Liễu liễu thường tri, Như Lai thiền từ, Tánh nghe cùng khắp, Đường lối Tổ sư thiền, Biết rõ tham sân si, Luyện khí công (thamtosuthien.net).

– Ngày 26 – 28 tháng 9, Hòa thượng Nguyên Phước – Quang Thể (1922-2005) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho đại giới đàn Phước Huệ tổ chức tại chùa Phổ Đà, TP. Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.

– Ngày 28 tháng 10 (nhằm ngày 18 – 8 – Bính Tý), Hòa thượng Tâm Chuẩn – Diệu Quang (1917-1996), thế danh Huỳnh Phê, pháp danh Tâm Chuẩn, tự Thiện Pháp, hiệu Diệu Quang, sinh tại thôn Vạn Lộc, xã Hòa Mỹ, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, thuộc Tông Lâm Tế -Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì Tổ đình Hương Tích (Phú Yên), viên tịch, thọ 80 tuổi, 55 hạ lạp. Theo TSDTVN  ghi : Ngài là một tấm gương sáng, một bậc Giáo phẩm khai dẫn dòng thiền Lâm Tế Phật giáo Trung Phần…Trên đường hoằng hóa chánh pháp, ngài còn xây dựng, trùng tu 8 ngôi chùa : Long Thạnh, Bửu Ân, Cảnh Thái, Ân Quang, An Sơn, Đông Quang, Thanh Hương và Tổ đình Hương Tích.

– Ngày 21 tháng 8 năm Bính Tý, Hòa thượng Nhựt Hưng – Phước Thới (1916-1996), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, trụ trì chùa Thọ Vức (Cần Đước – Long An), viên tịch, thọ 75 tuổi.

– Ngày 22 tháng 8 năm Bính Tý, Hòa thượng Nhựt Thừa – Thiện Thanh (1918-1996), thế danh Phan Ngọc Thừa, húy Nhựt Thừa, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, Tổ khai sơn chùa Thiền Quang (Tân Thạnh, Long An), viên tịch, thọ 79 tuổi.

– Ngày 12 tháng 11, Hòa thượng Thành Văn – Nguyên Ngôn (1938-2005) được THPG TP. HCM bổ nhiệm trụ trì chùa Khánh Vân tại quận 11, TP. HCM.

– Ngày 19 tháng 11, Hòa thượng Thích Thanh Từ lên chiêm bái các thánh tích trên núi Yên Tử (ở miền Bắc).

– Tháng 11, Hòa thượng Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012) được suy tôn vào HĐCM và suy cử chức Phó chủ tịch Thường trực HĐTS GHPGVN (1997-2007).

– Ngày 02 tháng 12 năm Bính Tý, Hòa thượng Trung Độ – Huệ Tâm (?-1996), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 43, trụ trì chùa Long Sơn (Tân Uyên, Bình Dương), viên tịch.

– Thượng tọa Nhật Cao – Huệ Hiền (1955-2013) được cử giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Phật học tỉnh Đồng Nai.

– Sư cô Huyền Thanh (1962-?) được cử về trụ trì chùa Giang Thành nay tại xã Tân Khánh Hòa, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.

– Ni sư Tâm Hỷ – Trí Hải (1938-2003) được cung thỉnh làm Tuyên luật sư và Trưởng ban khảo hạch cho Ni giới các Đại giới đàn Minh Tánh (1996), Liễu Thiền (1999), Khánh Phước (2002) đều tổ chức tại Ni viện Thiên Phước tỉnh Long An.

– Sư cô Hạnh Bình được suy cử về trụ trì Thiền viện Bảo Hải ở khu phố 5, phường Long Tâm, thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Hòa thượng Tâm Bổn – Trí Nghiêm (1911-2003) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Đồng Huy làm Đàn chủ, Thượng tọa Đỗng Minh làm Tuyên luật sư cho Đại giới đàn Thiện Hòa tại Đại Tòng Lâm tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Hòa thượng Nguyên Phước – Quang Thể (1922-2005) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Đại giới đàn Phước Huệ tại chùa Phổ Đà (Đà Nẵng).

– Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) từ Hải ngoại trở về Việt Nam, thành lập một trang trại trồng rau sạch tại huyện Củ Chi, Tp. HCM. Lần lượt ngài được mời thỉnh đi đến các tỉnh thành như : Bà Rịa – Vũng Tàu, Khánh Hòa, Bình Định, Long An, Sóc Trăng, Đồng Tháp, Tây Ninh…để thuyết giảng thiền học (TSDTVN).

– Hòa thượng Chơn An – Chánh Liêm (1937-2008) được cử làm Trưởng BTS Phật giáo tỉnh Quảng Trị (1996 – 2008).

– Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục giảng giải và Khóa Hư Lục giảng giải của Hòa thượng Thích Thanh Từ, Nhà xuất bản TP. HCM, Thiền viện Thường Chiếu ấn hành năm 1996, Pl.2540.

– Thượng tọa Thích Truyền Tứ khai sơn chùa Lá (nay là chùa Huyền Trang ở số 456/39, Huỳnh Tấn Phát, xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, TP. HCM). Ngài là đệ tử của Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) nối dòng thiền Lâm Tế, hàng tháng tại chùa đều có tổ chức khóa Thiền thất (từ ngày 01 – 07 âl).

– Hòa thượng Chơn Diện – Giải Sanh – Hồng Diệm (1925-1996) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì Tổ đình Phước Quang (Tư Nghĩa, Quảng Nam), viên tịch, thọ 72 tuổi.

– Chùa Núi Châu Thới hiện tại xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương, xây dựng bảo tháp, cao 24 m, gồm 1 trệt 4 tầng, theo kiến trúc Trung Quốc. Cũng năm này, chùa tổ chức đúc trên 7 tượng Phật bằng đồng (1996-1998) để tôn trí nơi bảo tháp. Tầng dưới tôn trí tượng Quan Đế bằng đồng nặng 5 tấn; tầng hai tôn trí tượng Bồ-tát Địa Tạng bằng đồng nặng 3 tấn; tầng ba tôn trí đại hồng chung nặng 1,5 tấn và tượng Quan Âm bằng đồng nặng 1 tấn; tầng bốn tôn thờ Xá-lợi Phật (STPGBD).

– Thượng tọa Đức Thành – Đồng Hạnh (1942-2003) được Giáo hội và Ban Giám hiệu mời giữ chức Hiệu Phó Trường trung cấp Phật học Nguyên Thiều – Bình Định.

– Đại đức Viên Quang (1959-2008) được BTS Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng bổ nhiệm làm trụ trì chùa Trúc Lâm tại phường 9, Tp. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

1995
01/01/1995

Năm 1995 (Ất Hợi – PL.2539)

Năm 1995 (Ất Hợi – PL.2539)

– Ngày 09 tháng 10 năm Bính Tý, Ni trưởng Thị Hương – Diệu Hoa (1925-1995) thế danh Đào Thị Sen, pháp danh Thị Hương, tự Từ Đăng, hiệu Diệu Hoa, sinh tại thôn Xuân Quang, xã Cát Tường, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, Tổ khai sơn chùa Long Quang (Bình Định), viên tịch, thọ 71 tuổi, 48 hạ lạp.

– Ngày 14 tháng 2 (nhằm ngày 15 – 1 – Ất Hợi), Ni trưởng  Như Nghiêm – Huyền Học (1920-1995) thế danh Huỳnh Thị Phụng, húy Nhật Tân, tự Huyền Học, hiệu Như Nghiêm, sinh tại phường Đức Thắng, thị xã Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, thuộc dòng thiền Lâm Tế, đời thứ 41, chi phái Nguyên Thiều, Tổ khai sơn chùa Vĩnh Phước (Tp. HCM), viên tịch, thọ 76 tuổi, 56 hạ lạp.

– Ngày 26 tháng 2, Hòa thượng Hồng Đạo – Thiện Văn (1913-1995), hiệu Chơn Kim, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 40, trụ trì chùa Mỹ Phước (Bến Lức – Long An), viên tịch, thọ 83 tuổi.

– Ngày 12 tháng 3, Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) khai thị cho hành giả khóa Thiền thất tại chùa Từ Ân thuộc phường 16, quận 11, Tp. HCM. Ngài giảng giải về các vấn đề : Quy y Tam bảo, Tiểu nghi và đại nghi, Vô niệm tắc chánh, hữu niệm thành tà, Thiên thượng thiên hạ vô như Phật, Phàm phu chấp tứ cú, Làm ơn mắc oán.

– Ngày 19 tháng 3 (nhằm ngày 19 – 2 – Ất Hợi), Lễ lạc thành chùa Huê Lâm nay tại số 130, đường Hùng Vương, phường 2, quận 11, Tp. HCM, do Ni trưởng Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) làm Viện chủ. Trong dịp lễ này, Ni trưởng mở Tăng Thiên Hội cúng dường 1.250 vị Tăng Ni.

– Ngày 05 tháng 3 năm Ất Hợi, Hòa thượng Tâm Trung – Chánh Trực (1931-1995) thế danh Hoàng Văn Trung, pháp danh Tâm Trung, tự Chánh Trực, sinh tại làng Trà Trì, xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Tỉnh Hội Quảng Trị, viên tịch, thọ 65 tuổi, 43 hạ lạp.

– Ngày 05 tháng 4 (nhằm ngày 06 – 3 – Ất Hợi), Ni trưởng Đồng Chánh – Tịnh Giác (1909-1995) thế danh Đinh Thị Theo, pháp danh Đồng Chánh, tự Thông Nghĩa, hiệu Tịnh Giác, sinh tại tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, Tổ khai sơn Ni viện Vạn Hạnh (Thủ Đức, Tp. HCM), viên tịch, thọ 87 tuổi, 45 hạ lạp.

– Ngày 08 tháng 4 năm Ất Hợi, Đại đức Như Trụ – Viên Định (1951?) khởi công trùng tu chánh điện và Tổ đường Tổ đình Thập Tháp Di Đà tại phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Ngày 02 tháng 10 (nhằm ngày 09 – 8 – Ất Hợi), Hòa thượng Nguyên Chơn – Minh Tánh (1924-1995) thế danh Từ Phước Thạnh, pháp húy Nguyên Chơn, hiệu Minh Tánh, sinh tại xã Minh Hương, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, trụ trì chùa Nguyên Thủy (Long An),  viên tịch, thọ 72 tuổi, 47 hạ lạp.

– Ngày 30 tháng 8 năm Ất Hợi, Ni sư Nhựt Hoàn – Mỹ Chơn (1914-1995), thế danh Nguyễn Thị Sáu, húy Nhựt Hoàn, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Long Thành (Đức Hòa, Long An), viên tịch, thọ 82 tuổi.

– Tháng 8 (nhuần) năm Ất Hợi, Hòa thượng Thích Thanh Từ (1924?) khởi công xây dựng lại Tu viện Chơn Không trên triền Núi Lớn, đường Vi Ba, phường 6, Tp. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Ngày 20 tháng 9 năm Ất Hợi, Hòa thượng Tâm Nhựt – Chí Minh (1908-1995), thế danh Võ Văn Nhi, húy Tâm Nhựt, thuộc dòng Tế Thượng – Chánh Tông, đời thứ 43, trụ trì chùa Linh Phước (Cần Đước – Long An), viên tịch, thọ 88 tuổi.

– Ngày 07 tháng 11 năm Ất Hợi, Thượng tọa Nhật Liên – Huệ Quang (1929-1995), thế danh Nguyễn Văn Liên, húy Nhật Liên, sinh tại làng Tương Bình Hiệp, Thủ Dầu Một, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Long Quang (Thủ Dầu Một, Bình Dương), viên tịch, thọ 67 tuổi.

– Ngày 13 tháng Chạp năm Giáp Tuất, Hòa thượng Nhật Tinh -Trí Tấn (1906-1995), thế danh Huỳnh Văn Xông, pháp danh Nhật Tinh, tự Nhất Bổn, hiệu Trí Tấn, sinh tại làng Dư Khánh, tổng Chánh, Mỹ Trung, tỉnh Biên Hòa, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 41, trụ trì chùa Hưng Long (Tân Uyên – Bình Dương), viên tịch, thọ 90 tuổi.

– Chùa Linh Sơn, TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng mở giới đàn Nhơn Thứ do BTS Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng tổ chức, Hòa thượng Trừng Chiếu – Từ Mãn (1918-2007) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Tâm Thanh làm Giáo thọ.

– Sách Thiền Sư Việt Nam của Hòa thượng Thích Thanh Từ, Nhà xuất bản TP. HCM, được THPG TP. HCM ấn hành năm 1995, Pl.2539.

– Sư cô Thuần Trí được Hòa thượng Thích Thanh Từ cử làm trụ trì Thiền viện Huệ Chiếu tại thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Hòa thượng Trừng Lực – Vĩnh Vô (1900-1995), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, Tổ sáng lập chùa Long An (Long Điền, Bà Rịa – Vũng Tàu), viên tịch, thọ 96 tuổi.

– Đại đức Lệ Nhơn – Thiện Duyên (1950-?) kế thế trụ trì chùa Hưng Long hiện tại ấp 2, xã Thạnh Phước, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

– Đại đức Đồng Phùng – Hồng Long (1951-?) kế thế trụ trì chùa Long Hưng nay tại ấp 4, xã Tân Định, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

– Tỳ-kheo Chơn Hướng (1958-?) sáng lập Tịnh Vân Hương thất tại khóm 3, thị trấn Dran, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

– Hòa thượng Thích Bổn Châu (1922-1995), thế danh Trần Văn Bạch, quê tại huyện Cái Bè (Tiền Giang), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 40, trụ trì chùa Sắc tứ Tam Bảo (Rạch Giá – Kiên Giang), viên tịch, trụ thế 73 năm, 32 tuổi đạo.

– Đại đức Thiện Chơn (1962-?) kế thế trụ trì chùa Sắc tứ Tam Bảo hiện tại phường Vĩnh Lạc, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

– Chùa Từ Tôn hiện tại số 3, đại lộ Đồng Khởi, phường Tam Hiệp, Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, đại trùng tu. Chùa xây dựng theo mẫu chùa cổ xứ Huế.

– Lễ đặt đá trùng kiến Tổ đình Sắc tứ Giác Nguyên nay tại thị trấn Dran, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng, do Hòa thượng  Như Minh – Pháp Chiếu (1935-2014) trụ trì Tổ đình tổ chức.

1994
01/01/1994

Năm 1994 (Giáp Tuất – PL.2538)

Năm 1994 (Giáp Tuất – PL.2538)

– Ngày 06 tháng 1 (nhằm ngày 25 – 11 – Quý Dậu), Hòa thượng

Hồng Diệp – Bửu Ngọc (1916-1994) thế danh Lê Văn Nghiệp, pháp húy Hồng Diệp, hiệu Bửu Ngọc, sinh tại làng Ích Thạnh, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định, thuộc Tông Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì Tổ đình Phước Tường (quận 9, Tp. HCM), viên tịch, thọ 82 tuổi, 60 hạ lạp.

– Ngày 12 tháng 1 (nhằm ngày 01 – 12 – Quý Dậu), Hòa thượng Như Lợi – Huyền Đạt (1903-1994) thế danh Trương Thế Kiên, pháp danh Như Lợi, tự Giải Lý, hiệu Huyền Đạt, sinh tại xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc Thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, Viện chủ Tổ đình Thiên Ấn (Quảng Ngãi), viên tịch, thọ 91 tuổi, 70 hạ lạp.

– Ngày 19 tháng 3 (nhằm ngày 08 – 2 – Giáp Tuất), Lễ khánh thành Thiền viện Trúc Lâm trên núi Phụng Hoàng, ở khu phố 7, phường 3, Tp. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Hòa thượng Thanh Từ Viện trưởng tuyên bố bản thanh quy của Thiền viện, khóa thiền đầu tiên khai mở.

– Ngày 18 tháng 4 (nhằm ngày 09 – 3 – Giáp Tuất), Ni trưởng Nhựt Chơn – Như An (1911-1994), thế danh Ân Thị Ngàn, pháp danh Nhựt Chơn, tự Như An, hiệu Diệu An, sinh quán ở xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 41, Viện chủ chùa Bửu Quang (Bến Tre), viên tịch, thọ 83 tuổi, 40 hạ lạp.

– Ngày 11, 12 tháng 5, chùa Giác Thiên, thị xã Vĩnh Long, tỉnh Cửu Long khai đại giới đàn Thiện Hoa, Hòa thượng Phát Huệ (1917-2008) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa Thượng Thiện Từ làm Đàn chủ, Thượng Tọa Đắc Pháp làm Yết Ma.

– Ngày 08 tháng 4 năm Giáp Tuất, trùng tu chánh điện thiền viện Thường Chiếu thuộc xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Tháng 10 năm này, lễ khánh thành chánh điện trùng tu hoàn tất.

– Ngày 30 tháng 5 (nhằm ngày 20 – 4 – Giáp Tuất), Hòa thượng Hành Đạo – Phước Ninh (1915-1994) thế danh Hồ Văn Kỷ, pháp danh Thị Niệm, tự Hành Đạo, hiệu Phước Ninh, sinh tại thôn Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, thuộc dòng Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì chùa Phước Cảnh (Phú Yên), viên tịch, thọ 79 tuổi, 47 hạ lạp.

– Ngày 24 tháng 4 năm Giáp Tuất, Hòa thượng Hồng Thạnh – Huệ Khương (1915-1994), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Tổ sáng lập chùa Phật Quang (Cần Đước, Long An), viên tịch, thọ 80 tuổi.

– Ngày 05 tháng 8, Hòa thượng Thích Thanh Từ (1924-?) khởi hành sang thăm viếng Phật tử Việt Nam tại Châu Âu và Bắc Mỹ. Sau đó, đến ngày 15 tháng 10 năm Giáp Tuất, Hòa thượng trở về nước, tổ chức khánh  thành chánh điện Thiền viện Thường Chiếu (Đồng Nai) (TTVN).

– Ngày 15 tháng 9, Ni trưởng Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Ni giới, giới đàn Thiện Hoa tại chùa Từ Nghiêm (quận 10, TP. HCM).

– Ngày 12 tháng 6 (nhằm ngày 04 – 5 – Giáp Tuất), Ni trưởng Hồng Mãnh – Như Thiền (1911-1994) pháp danh Hồng Mãnh, hiệu Như Thiền, sinh tại làng Vĩnh Chánh, quận Châu Thành, tỉnh Long Xuyên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Quan Âm (An Giang), viên tịch, thọ 83 tuổi, 49 hạ lạp.

– Ngày 26, 27 tháng 7, Tổ đình Báo Quốc, TP. Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế khai đại giới đàn, Hòa thượng Trừng Hóa – Hưng Dụng (1915-1998) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa Thượng Thiện Siêu làm Yết Ma, Hòa thượng Quang Thể làm Giáo thọ (BNSGĐTVN).

– Từ ngày 31/8 đến 05/9, Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) khai thị cho Tăng ni và Phật tử tại Thiền viện Quảng Đức thuộc phường 8, quận 3, Tp. HCM. Ngài giảng giải về các vấn đề : Ngoài công án thoại đầu, có thiền khác ? Tứ Liệu Giãn của Lâm Tế, Người nữ có được kiến tánh không ? Kiến tánh có phải là phá sơ quan không ? Tọa thiền trong đầu nghĩ gì không ? Nhất môn thâm nhập (thamtosuthien.net).

– Ngày 15 tháng 9 (nhằm ngày 10 – 8 – Giáp Tuất), Hòa thượng Thích Thiện Phước (?-1994), thế danh Đoàn Văn Phúc, thuộc dòng Tế Thượng – Chánh Tông, đời thứ 43, trụ trì chùa An Long (Cần Giuộc, Long An), viên tịch.

– Ngày 16 tháng 10 (nhằm ngày 12 – 9 – Giáp Tuất), Hòa thượng Tâm Giải – Tương Ưng (1912-1994) thế danh Nguyễn Duy Phú, pháp danh Tâm Giải, tự Tương Ưng, sinh tại làng Giạ Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì Tổ đình Từ Quang (Huế), viên tịch, thọ 83 tuổi, 54 hạ lạp.

– Ngày 16 tháng 10 (nhằm ngày 12 – 9 – Giáp Tuất), Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) khai thị cho hành giả khóa Thiền thất tại chùa Từ Ân thuộc phường 16, quận 11, Tp. HCM. Ngài giảng giải về các vấn đề : Định huệ với nghi tình đồng hay khác ? Làm sao trừ nghiệp chướng ? Tham thiền quên cúng giỗ, Trong bụng có cái không, Tại sao phải tu ? Tham thiền không sám hối.

– Ngày 02 tháng 11 (nhằm ngày 29 – 9 – Giáp Tuất), Lễ khánh thành Tổ đình Long Quang (Tuy Phong – Bình Thuận), chùa do Hòa thượng Tâm Hoa – Minh Đạo (1913-1998) trụ trì.

– Ngày 16 tháng 10 năm Giáp Tuất, Đại đức Như Trụ – Viên Định (1951-?) được chư sơn môn phái công cử kế thừa trụ trì Tổ đình Thập Tháp Di Đà tại phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Ngày 21 tháng 10 năm Giáp Tuất, Hòa thượng Nhựt Trường – Tâm Tú (1938-1994), thế danh Phạm Văn Cẩm, húy Nhựt Trường, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 46, trụ trì chùa Thiên Phước (Thủ Thừa – Long An), viên tịch, trụ thế 56 năm.

– Ngày 17 tháng 12 (nhằm ngày 15 – 11 – Giáp Tuất), Lễ đặt đá trùng kiến chánh điện chùa Linh Thắng, tại số 437, đường Hùng Vương, thị trấn Di Linh, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, chùa do Thượng tọa Thích Toàn Đức (1940-?)  trụ trì. Chùa này trước đây đã trùng tu vào những năm : 1940, 1943, 1970, 1991.

– Ngày 29 tháng 12 (nhằm ngày 27 – 11 – Giáp Tuất), Hòa thượng Nhật Thọ – Thiện Phước (1917-1994), thế danh Lê Bá Thọ, húy Nhật Thọ, pháp danh Thiện Phước, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, trụ trì chùa Phật Học Cần Thơ (Tp. Cần Thơ), viên tịch, thọ 81 tuổi, 37 hạ lạp (Nội san  Xuân Thế Kỷ, Lớp Cao đẳng Phật học Chuyên khoa tỉnh Cần Thơ Khóa I, 1998-2001).

– Hòa thượng Nhựt Kiến – Định Quang (1924-1999) thành lập Hội Tương tế Kim Quang, đặt văn ph ng tại chùa Huỳnh Kim, quận Gò Vấp, Tp. HCM với số hội viên gần 5.000 người.

– Hòa thượng Trừng Chiếu – Từ Mãn (1918-2007) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Đại giới đàn Nhơn Thứ tổ chức tại chùa Linh Sơn – Đà Lạt.

– Sách Phật Pháp Với Thiền Tông của Hòa thượng Thích Duy Lực, Nhà xuất bản TP. HCM, THPG TP. HCM ấn hành năm 1994, Pl : 2538.

– Đại đức Thị Lệnh – Vĩnh Hội kế thế trụ trì Tổ đình Thiên Ấn nay tại xã Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

– Thượng tọa Đồng Tín – Thông Niệm (1943-2007) kế thế trụ trì chùa Đông Hưng tại Thủ Thiêm, Sài Gòn.

– Đại đức Thanh Lương – Phước Cẩn (1951-?) kế thế trụ trì Tổ đình Phước Hậu tại ấp Đông Hậu, xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

Hòa thượng Giải Thâm – Kế Châu (1922-1996) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Đại giới đàn Phước Huệ tại chùa Long Khánh nay tại Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Hòa thượng Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được suy cử làm Hiệu trưởng Trường Cơ bản Phật học – Huế (1994-2001). Cũng năm này, Hòa thượng làm Trưởng phái đoàn PGVN chiêm bái Phật tích tại Ấn Độ.

– Ni trưởng Nhật Phiến – Trí Thanh (1925-2003) được cung làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới tử Ni tại Đại giới đàn Bửu Lai, do BTS Tỉnh hội Phật giáo Cần Thơ tổ chức.

– Thượng tọa Tâm Lượng – Từ Mẫn (1932-2007) được suy cử làm Phó BTS Tỉnh hội Phật giáo Đà Nẵng kiêm Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni và là Hiệu trưởng trường Trung Cấp Phật học Đà Nẵng.

– Đại đức Quảng Cảnh – Đức Duyên (1959-?) được môn phái trạch cử làm trụ trì chùa Long Thạnh tại thôn Tây Định, phường Nhơn Bình, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Chùa Tường Vân hiện tại Quốc lộ 27A, thôn Đường Mới, thị trấn Dran, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng, được Thượng tọa Chơn Kim (1930-?) trụ trì, trùng tu. Chùa này tiếp tục trùng tu vào năm 2000.

– Hòa thượng Phước Hảo (1930-2014) kế thừa trụ trì Thiền viện Chơn Không hiện tọa lạc trên triền núi Lớn, đường Vi Ba, phường 6, TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Ni sư Nhật Liên – Như Hoa (1949-2012) khởi công trùng tu xây dựng Đại hùng bửu điện, giảng đường và các công trình chung quanh chùa Vĩnh Phước hiện ở đường Trường Chinh, khu phố 3, phường Tân Thới Nhứt, quận 12, Tp. HCM.

– Thượng tọa Lệ Minh – Hoằng Từ (1941-2008) được suy cử làm Phó thường trực BTS tỉnh hội Phật giáo Tiền Giang đặc trách Giáo dục Tăng Ni (1994-1997).

– Ni trưởng Trừng Khương – Diệu Trí (1907-2010) được mời làm Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Phật học Thừa Thiên Huế (Kỷ Yếu Tang Lễ Cố Ni trưởng Thích nữ Diệu Trí, NXB Thuận Hóa 2010).

1993
01/01/1993

Năm 1993 (Quý Dậu – PL.2537)

Năm 1993 (Quý Dậu – PL.2537)

– Ngày 01 tháng Giêng năm Quý Dậu, Ni sư Nguyên Hiền – Minh Diệu (1937-1993), thế danh Hồ Thị Phụng, pháp danh Nguyên Hiền, hiệu Tâm Liễn, sinh tại Hương Phú, Thừa Thiên – Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, trụ trì chùa Tâm Ấn (TP. Đà Lạt), thị tịch, trụ thế 56 năm.

– Ngày 19 tháng 2 năm Quý Dậu, Cư sĩ Vương Hưng Luyến (1908-1993) pháp danh Trừng Lực, sinh tại làng Mộc Đức, tổng Sư Lỗ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, nguyên Ủy viên Thủ Quỹ GHPG tỉnh Thừa Thiên, tạ thế, thọ 86 tuổi (Văn Hóa Phật giáo Việt Nam, số 17, NXB Văn Hóa – Văn Nghệ 2015, Pl.2559).

– Ngày 05 tháng 3, Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) khai thị cho hành giả khóa Thiền thất tại chùa Từ Ân thuộc phường 16, quận 11, Tp. HCM. Cũng hôm nay, Hòa thượng quang lâm khai thị cho Ni chúng tại Ni viện Thiện Hòa thuộc huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đến ngày 15 tháng 3 năm Quý Dậu (1993), Hòa thượng khai thị cho tứ chúng tại Linh Quang tịnh xá thuộc quận 4, Tp. HCM. Ngài trình bày về các đề tài : Trực ngộ bản tâm, Ăn chay có thành Phật không ? Oan gia nghiệp báo, Niệm Phật chuyển sang tham thiền, Phước không liên quan đến trí, Tự mình sửa nghiệp. Cũng năm này, Hòa thượng quang lâm chùa Phước Hưng tại thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, khai thị cho tứ chúng, về các vấn đề : Tất cả thiền đều từ nơi Phật tánh, Đang dùng mà chẳng tự biết, Không có vô minh, Tất cả đều thấy một lượt, Phân biệt không thật, Huệ Minh truyền cho ai ? Có duyên ra hoằng pháp (thamtosuthien.net).

– Ngày 11 tháng 3, Ni trưởng Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) tổ chức lễ đặt đá xây dựng chùa Huê Lâm nay tại số 130, đường Hùng Vương, phường 2, quận 11, Tp. HCM.

– Ngày 24 tháng 3, Hòa thượng Thanh Từ cùng đoàn chư Tăng Thiền viện Thường Chiếu đi Đà Lạt. Chiều ngày này tại Đà Lạt, Hòa thượng nhận được quyết định số 363/QĐ-UB, ngày 24.3.1993 của UBND tỉnh Lâm Đồng, V/v giao đất rừng và cho phép xây dựng Thiền viện Trúc

Lâm. Ngay tối hôm đó, ngài họp ban Lãnh đạo để thông báo Quyết định trên và triển khai công tác. Ngày 25 tháng 3, Văn ph ng Thiền viện Trúc Lâm tạm đặt tại chùa Quan Thế Âm (Đà Lạt).

– Ngày 28 tháng 4 (nhằm ngày 07 – 3 – Quý Dậu), Hòa thượng Chơn Tảo – Nhựt Minh (1908-1993) thế danh Nguyễn Quang Tống, pháp danh Nhựt Minh, húy Chơn Tảo, hiệu Trí Từ, sinh tại xã Tân Lợi, tổng Quản Long, quận Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu, thuộc Tông Lâm Tế, đời thứ 40, viên tịch, thọ 87 tuổi, 67 hạ lạp.

– Ngày 28 tháng 5 (nhằm ngày 08 – 4 – Quý Dậu), Lễ đặt đá khởi công xây dựng Thiền viện Trúc Lâm trên núi Phụng Hoàng, ở khu phố 7, phường 3, TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, do Hòa thượng Thanh Từ làm Viện trưởng.

– Ngày 22 tháng 5 năm Quý Dậu, Hòa thượng Hồng Sơn – Thiện Long (1920-1993), thế danh Nguyễn Văn Phong, húy Hồng Sơn, trụ trì chùa Linh Phước (Đức Hòa, Long An), viên tịch, trụ thế 73 năm.

– Tháng 7, Hòa thượng Thích Thanh Từ sang chiêm bái các thánh tích của Chư Tổ Thiền tông ở Trung Hoa (TTVN).

– Ngày 19 tháng 9 năm Quý Dậu, Lễ đặt đá trùng tu Thiền viện Tịch Chiếu thuộc khu phố Hải Tân, thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Ngày 24 tháng 10, Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) khai thị cho tứ chúng khóa Thiền thất tại chùa Từ Ân thuộc phường 16, quận 11, Tp. HCM. Ngài giảng giải về các vấn đề : Phân biệt chánh tà, Chiếu cố thoại đầu, Dụng công như thế, Tham thì có nghi tình. Đến ngày 28 tháng 10, Hòa thượng quang lâm thuyết giảng về giáo nghĩa Tổ Sư Thiền cho khóa Thiền thất của Tăng Ni sinh Trường Cơ Bản Phật Học Đại Tòng Lâm tại huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Cũng năm này, ngài đến thuyết giảng giáo nghĩa thiền tông tại chùa Liên Hoa và chùa Thiên Phước (thamtosuthien.net).

– Ngày 01 tháng 11, Thượng tọa Nhật Liên – Huệ Quang (1929-?) được Tỉnh hội Phật giáo Sông Bé bổ nhiệm trụ trì chùa Long Quang hiện tại xã Tương Bình Hiệp, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

– Ngày 02 tháng 11 (nhằm ngày 19 – 9 – Quí Dậu), Lễ đặt đá khởi công xây dựng chánh điện chùa Long Thọ hiện tại B2, đường Hùng Vương, thị trấn Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Ngày 03, 04 tháng 11, chùa Long Sơn, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh

Hòa mở giới đàn Trí Thủ, Hòa thượng Tâm Bổn – Trí Nghiêm (1911-2003) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Thượng tọa Đổng Minh làm Tuyên luật sư.

– Ngày 24 tháng 11 (nhằm ngày 11 – 10 – Quý Dậu), Hòa thượng Nguyên Minh – Đức Thiệu (1911-1993) thế danh Bùi Xuân Quang, húy Nguyên Minh, tự Đức Thiệu, hiệu Hải Ấn, sinh tại làng Nam Phổ Trung, xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, trụ trì chùa Liên Trì (Đà Lạt), trụ thế 82 năm, 45 tuổi đạo.

– Vào lúc 05 giờ 5 phút ngày 23 tháng 12 (nhằm ngày 11 – 11 – Quý Dậu), Hòa thượng Thanh Thiện – Đức Nhuận (1897-1993), thế danh Phạm Đức Hạp, pháp danh Đức Nhuận, hiệu Thanh Thiện, sinh tại Quần Phương, xã Hải Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, thuộc dòng thiền Tào Động, đời thứ 48, trụ trì Tổ đình Hồng Phúc (Hà Nội), Pháp Chủ GHPGVN, viên tịch, thọ 97 tuổi, 77 hạ lạp. Sinh thời, Hòa thượng đã được Nhà nước tặng thưởng Huân Chương Hồ Chí Minh và Huân Chương Độc Lập hạng nhất (TSDTVN).

– Hòa thượng Tâm Bổn – Trí Nghiêm (1911-2003) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu tại Đại giới đàn Trí Thủ tỉnh Khánh Hòa.

– Hòa thượng Chơn Phát – Long Tôn (1931-?) đại trùng tu chùa Long Tuyền (Quảng Nam). Hiện nay, Hòa thượng làm Chứng minh BTS Phật giáo Quảng Nam và là thành viên Ban điều hành  Môn phái Lâm Tế – Chúc Thánh.

– Hòa thượng Thị Tín – Phước Trí (1920-2002) đại trùng tu Tổ đình Phước Sơn tại xã Xuân Sơn Bắc, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.

– Hòa thượng Như Bổn – Hoằng Giáo (1921-1993) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì Tổ đình Tập Phước (TP. HCM), viên tịch, thọ 73 tuổi.

– Đại đức Thị Trí – Thiện Duyên (1946-2004) kế thế trụ trì Tổ đình Tập Phước ở số 233, đường Phan Văn Trị, phường 11, quận Bình Thạnh, Tp. HCM.

– Thượng tọa Chơn Nghiêm – Tâm Thanh (1931-2004) đại trùng tu Vĩnh Minh tự viện tại thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

– Hòa thượng Nguyên Chơn – Minh Tánh (1924-1995) tiếp tục được suy cử làm Phó ban Thường trực kiêm Ủy viên Tăng sự GHPGVN tỉnh Long An.

– Hòa thượng Nhựt Sanh – Minh Thành (1937-2000) được cử làm Trưởng ban Quản trị Tổ đình Ấn Quang nay thuộc quận 10, Tp. HCM kiêm Giám đốc Đại Tòng Lâm Phật giáo ở Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Ni trưởng Tịnh Hoa (1915-2002) được suy cử làm Cố vấn BTS Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Trà Vinh.

– Ni trưởng  Như Nghiêm – Huyền Học (1920-1995) được suy cử làm Ủy viên HĐTS GHPGVN.

– Ni trưởng Tâm Ý – Như Chí (1913-?) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Ni giới ở Đại giới đàn Thiện H a, tổ chức tại Đại Tòng Lâm (Bà Rịa – Vũng Tàu).

– Đại đức Trí Dũng – Huệ Châu (1948-?) khai sáng chùa Tân Long hiện tọa lạc tại số 163, khu phố 8, thị trấn Cần Đước, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.

– Chùa Hội Khánh tại phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, được công nhận Di tích Lịch sử – Văn hóa tại quyết định số : 43/QĐ/BT ngày 07/1/1993 ở danh mục số 1117 và ký Bằng công nhận di tích vào ngày 29/4/1993 do Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin Trần Hoàn ký (STPGBD).

– Thượng tọa Hạnh Huệ – Đỗng Minh (1927-2005) được cung thỉnh làm Tuyên luật sư cho các Đại giới đàn : Trí Thủ I (1993), II (1997) và III (2001) tại chùa Long Sơn (Nha Trang); cho Đại giới đàn Thiện Hòa tại Đại Tòng Lâm – Bà Rịa Vũng Tàu (1996) (CTTĐPGTH).

– Thượng tọa Nguyên Đức – Minh Phát (1956-1996) được suy cử chức Phó Ban quản trị kiêm Trị sự, điều hành mọi sinh hoạt của Tổ đình Ấn Quang ở phường 9, quận 10, Tp. HCM.

– Đại đức Thích Châu Thanh (1969-?) kế thế trụ trì chùa Liên Trì hiện tại số 18/4, đường Ngô Quyền, phường 6, TP. Đà Lạt.

– Sư cô Như Hương (1952-?) kế thế trụ trì chùa Tịnh Quang hiện tại khu phố 2, phường 11, TP. Đà Lạt.

– Đại đức Thích Nguyên Tú (1947-?) được Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng bổ nhiệm trụ trì chùa Đại Giác tại thôn 1, phường Lộc Châu, thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Đại đức Thích Huệ Tâm (1972-?) được Tỉnh hội Phật giáo Kiên Giang bổ nhiệm trụ trì chùa Phật Đà (chùa Lò Gạch), nay tại phường Bình San, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

– Hòa thượng Nhật Huệ được cung thỉnh làm trụ trì chùa Long Khánh nay tại số 138/1, đường Bạch Đằng, phường 3, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

– Chùa Hội Linh hiện tại số 314/36, đường Cách Mạng Tháng Tám, Tp. Cần Thơ, được Bộ Văn Hóa xếp hạng di tích lịch sử theo quyết định số 774 QĐ/BT ngày 21-6-1993 (NNCONB).

– Đại đức Tâm Ý – Trường Định (1950-2002) được cung thỉnh về trụ trì chùa Phú Hậu hiện tại số 485, đường Chi Lăng, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

– Hòa thượng Quảng Động – Phước Thành (1918-2014) tái lập chùa Phổ Đà Quan Âm tại thôn Vạn Ninh, xã Mỹ Tài, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định và đổi tên thành chùa Vạn Đức.

– Hòa thượng Nhật Đăng – Chánh Đạo (1911-2011) được cung thỉnh làm Trưởng BTS Phật giáo tỉnh An Giang, trải qua 3 nhiệm kỳ (1993-2007).

– Ni trưởng Tâm Huệ – Viên Minh (1914-2014) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu Ni giới đàn phương trượng chùa Diệu Đức nay tại số 92/6, đường Điện Biên Phủ, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

– Hòa thượng Lệ Sành – Huệ Sanh (1935-1998) cùng chư tôn thiền đức thành lập Ban tái thiết xây dựng Bửu tháp Xá Lợi – Ngũ Gia Tông Phái (tháp trong khuôn viên chùa Giác Lâm, phường 9, quận Tân Bình, Tp. HCM).

1992
01/01/1992

Năm 1992 (Nhâm Thân – PL.2536)

Năm 1992 (Nhâm Thân – PL.2536)

– Ngày 06 tháng 1 (nhằm ngày 02 – 12 – Tân Mùi), Ni sư Thường Thanh – Diệu Nhàn (1947-?) được kế thừa trụ trì chùa Long Thành tại số 235, tổ 4, ấp Bình Tả 1, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

– Ngày 11, 12 tháng 1, Hòa thượng Thục Hải – Thiện Minh (1920-1992) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Phước Hưng, thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

– Ngày 08 tháng 3 năm Nhâm Thân, Hòa thượng Đồng Nghi – Thiện Lễ (1927-1992), thế danh Ngô Văn Đảnh, húy Đồng Nghi, trụ trì chùa Phước Hưng (Thủ Dầu Một, Bình Dương), viên tịch, thọ 66 tuổi.

– Ngày 16 tháng 4 (nhằm ngày 14 – 3 – Nhâm Thân), Hòa thượng Thục Hải – Thiện Minh (1920-1992) thế danh Phạm Văn Giáo, húy Thục Hải, hiệu Thiện Minh, sinh tại tỉnh Vĩnh Long, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh tông, đời thứ 40, trụ trì chùa Linh Quang (Đồng Tháp), viên tịch, thọ 73 tuổi, 31 hạ lạp.

– Ngày 23 tháng 4 (nhằm ngày 21 – 3 – Nhâm Thân), Hòa thượng Trừng Nguyên – Đôn Hậu (1905-1992) thế danh Diệp Trương Thuần, pháp danh Trừng Nguyên, hiệu Đôn Hậu, sinh tại làng Xuân An, tổng An Đồn, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc phái Thiền Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, Đệ Nhứt Phó Pháp Chủ kiêm Giám luật GHPGVN, trụ trì chùa Linh Mụ (Huế), viên tịch, thọ 88 tuổi, 68 hạ lạp. Những tác phẩm của Hòa thượng : Cách Thức Sám Hối Các Tội Đã Phạm, Phương Pháp Tu Quán, Tứ Nhiếp Pháp, Cảm Ứng Tự Nhiên, Đâu Là Con Đường Hạnh Phúc, Đồng Mông Chỉ Quán, Sinh Mệnh Vô Tận Hay Là Thuyết Luân Hồi, Luật Tứ Phần Tỳ-kheo Ni  (TSDTVN).

– Ngày 15 tháng 4 năm Nhâm Thân, Hòa thượng Tâm Hương – Mật Hiển (1907-1992) thế danh Nguyễn Duy Quảng, pháp danh Tâm Hương, sinh tại làng Dạ Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thuộc dòng Thiền Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Trúc Lâm (Huế), viên tịch, thọ 85 tuổi, 80 năm tu tập.

– Ngày 18 tháng 4 năm Nhâm Thân, Ni trưởng Tâm Quang – Đàm Minh (1912-1992) thế danh Hoàng Thị Bút, pháp danh Tâm Quang, tự Đàm Minh, hiệu Minh Đức, sinh tại xã Hưng Yên, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, Trưởng Ni bộ Bắc tông tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, Tổ khai sơn chùa Bảo Quang và Bảo Thắng (Đà Nẵng), viên tịch, trụ thế 80 năm, 58 tuổi đạo.

– Ngày 11 tháng 5 năm Nhâm Thân, Hòa thượng Chơn Sử – Khánh Tín (1896-1992) thế danh Phạm Quang Sứ, pháp danh Chơn Sử, tự Đạo Thị, hiệu Khánh Tín, sinh tại làng Bình Yến, hải đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì Tổ đình Thọ Sơn (Quảng Ngãi), viên tịch, thọ 97 tuổi, 72 hạ lạp.

– Ngày 10 tháng 6 năm Nhâm Thân, Hòa thượng Thích Huệ Ngạn (1925-1992), thế danh Lương Văn Phất, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Giác Tánh (Cần Giuộc, Long An), viên tịch, thọ 68 tuổi.

– Ngày 19 tháng 7, Thượng tọa Nhựt Đồng – Huệ Trường (1940-1992), thế danh Nguyễn Văn Đồng, húy Nhựt Đồng, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Giác Tông (Cần Giuộc, Long An), thị tịch, hưởng dương 53 tuổi.

– Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 01 tháng 10 (nhằm ngày 06 – 9 – Nhâm Thân), Hòa thượng Như Thuận – Hoằng Đức (1888-1992), thế danh Nguyễn Văn Cự, húy Nhật Phú, tự Như Thuận, hiệu Hoằng Đức, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Hội Long (Long An), viên tịch, thọ 105 tuổi.

Ngày 15 tháng 9 năm Nhâm Thân, chùa Phước Hưng ở số 74/5, đường Hùng Vương, phường 1, Tp. Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, tổ chức Lễ húy nhật lần thứ 6 cố Hòa thượng Hồng Hạnh – Vĩnh Đạt và cung thỉnh Đại Tạng Kinh (in ấn tại Đài Loan, gồm 101 quyển), đồng thời cung đón Thiền sư Duy Lực (1923-2000) quang lâm khai thị.

– Ngày 04 tháng 12, Từ Ân Thiền Tự ở Chợ Lớn, nay tại phường 16, quận 11, Tp. HCM, được Hòa thượng Thích Hoằng Tu (1913-1999) xây dựng hoàn thành. Đây là ngôi phạm vũ trang nghiêm tráng lệ của Phật giáo Hoa Tông.

– Ngày 15 tháng 12 (nhằm ngày 22 – 11 – Nhâm Thân), Hòa thượng Không Tâm – Trí Quảng (1915-1992) thế danh Đỗ Trí Quảng, húy Không Tâm, tự Trí Quảng, hiệu Bích Đàm, nguyên quán tại làng Bích Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh tông, đời thứ 42, trụ trì chùa Từ Ân (Huế), viên tịch, thọ 77 tuổi.

– Ngày 04 tháng 12 năm Nhâm Thân, Hòa thượng Thích Huệ Minh (1925-1992), thế danh Lê Văn Mười, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì  chùa Giác Nguyên (Cần Giuộc, Long An), viên tịch, thọ 68 tuổi.

– Ngày 22 tháng Chạp năm Tân Mùi, Ni trưởng Đồng An – Diệu Trí (1927-1992) thế danh Võ Thị Lạc, pháp danh Đồng An, tự Diệu Trí, sinh tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, trụ trì chùa Diệu Quang (tỉnh Quảng Tín), viên tịch, thọ 66 tuổi, 44 hạ lạp.

– Ni trưởng Như Ái – Hoằng Thâm (1924-2000) được cử  làm Thành viên của Ni bộ tỉnh Bình Định (1992 – 1999).

– Hòa thượng Nhựt Sáu – Từ Nhơn (1926-2013) được suy cử làm Ủy viên HĐTS GHPGVN.

– Hòa thượng Như Trạm – Tịch Chiếu (1912-?) đại trùng tu chùa Tây Tạng ở tỉnh Bình Dương.

– Ni trưởng Như Nghiêm – Huyền Học (1920-1995) được suy cử làm Ủy viên HĐTS GHPGVN, nhiệm kỳ III.

– Hòa thượng Thích Thanh Từ nhập thất tại Thiền viện Thường Chiếu ở xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, đến cuối năm này.

– Thượng tọa Tâm Thọ – Diệu Lạc (?-1992), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Hòa Sơn (Tuy Hòa – Phú Yên), viên tịch.

– Hòa thượng Hồng Diệp – Bửu Ngọc (1916-1994) được suy tôn làm Thành viên HĐCM TƯ. GHPGVN.

– Hòa thượng Nguyên Chơn – Minh Tánh (1924-1995) được tăng ni thỉnh cầu đảm nhiệm chức vụ Hiệu trưởng Trường Cơ Bản Phật học tỉnh Long An.

– Hòa thượng Trừng Hóa – Hưng Dụng (1915-1998) được cung thỉnh làm Thành viên HĐCM TƯ. GHPGVN.

– Hòa thượng Thích Thiện Tín (1921-1999) được bầu làm Trưởng BTS Phật Giáo tỉnh Bến Tre nhiệm kỳ I.

– Hòa thượng Tăng Đức Bổn (1917-2000) được suy cử làm Thành viên HĐCM và Ủy viên HĐTS TW GHPGVN.

– Hòa thượng Nhựt Sanh – Minh Thành (1937-2000) được cử làm Phó ban thường trực Ban hướng dẫn Phật tử Trung ương và Ủy viên Ban Giáo dục Tăng Ni TW GHPGVN.

– Thiền viện Phổ Chiếu tại ấp Tân Phú, thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, trùng tu.

– Hòa thượng Nguyên Phước – Quang Thể (1922-2005) được suy cử vào HĐTS GHPGVN.

– Chùa Phước Trường thuộc xã An Ninh Tây, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, trùng tu. Chùa này do Thiền sư Phước Trường, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 40, khai sơn (năm 2004 chùa lại tiếp trùng tu).

– Sách Thiền Tông Việt Nam Cuối thế kỷ 20 của Hòa thượng Thích Thanh Từ, được THPG TP. HCM ấn hành năm 1992, Pl.2536.

– Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) khai thị cho Ni chúng tại Ni viện Thiện Hòa thuộc huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Cũng năm này, ngài đến thuyết giảng về giáo nghĩa Tổ Sư Thiền cho hành giả khóa Thiền thất tại chùa Thiên Trì xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Tp. HCM. Cũng vào năm này, Hòa thượng khai thị cho tứ chúng khóa Thiền thất tại Từ Ân Thiền tự thuộc quận 11, Tp. HCM. Ngài giảng giải về các vấn đề : Cơ bản thực hành tham thiền,

Tham thiền khi lâm chung, Đang tham thiền thì phiền não khởi, Ai là chủ, ai là khách ? Nói sơ lược chùa Cao Mân, Thấy tánh không lay động, Cùng khắp thì không có chỗ chỉ (thamtosuthien.net).

– Lễ khánh thành Bảo tháp Tổ sư Minh Hải – Pháp Bảo (1670-1746) tại Tổ đình Chúc Thánh (Hội An, Quảng Nam),  môn phái suy tôn Hòa thượng Như Nhàn – Trí Giác (1915-2005) lên ngôi vị Trưởng môn phái Lâm Tế – Chúc Thánh. Cũng năm này, Hòa thượng được suy tôn vào HĐCM TƯ. GHPGVN.

– Hòa thượng Trí Thắng – Đồng Huy (1919-2010) được suy cử làm Ủy viên HĐTS TW GHPGVN, Trưởng BTS GHPGVN tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kiêm Trưởng Ban Giáo dục Tăng ni trải qua 4 nhiệm kỳ.

– Thượng tọa Nguyên Đức – Minh Phát (1956-1996) được THPG TP.

HCM bổ nhiệm trụ trì chùa Phụng Sơn (chùa G ) ở quận 11, Tp. HCM.      – Ni sư Nguyên Trang – Hạnh Nghiêm (1935-?) được cử giữ chức vụ Phó Giám hiệu Trường cơ bản Phật học Bình Định tại Tu viện Nguyên Thiều.

– Hòa thượng Như Truyện – Trí Nhãn (1909-2004) cùng môn phái Chúc Thánh trùng tu bảo tháp Tổ sư Minh Hải – Pháp Bảo, năm sau (1993), trùng tu bảo tháp Hòa thượng Chơn Chứng – Thiện Quả.

– Đại đức Bình Tâm (1964-?) được BTS Phật giáo tỉnh Cần Thơ bổ nhiệm trụ trì chùa Long Quang hiện tại số 155/6, khu vực Bình Chánh, phường Long H a, quận Bình Thủy, Tp. Cần Thơ.

– Ni sư Nhật Liên – Như Hoa (1949-2012) được Giáo hội bổ nhiệm trụ trì chùa Vĩnh Phước hiện ở đường Trường Chinh, khu phố 3, phường Tân Thới Nhứt, quận 12, Tp. HCM. Cũng năm này, Ni sư được suy cử làm Phó BĐD Phật giáo huyện Hóc Môn, Tp.HCM (1992-1997) (Kỷ yếu Ni trưởng Thích nữ Như Hoa (1949-2012), chùa Vĩnh Phước, NXB Tổng Hợp Tp. HCM 2012).

– Hòa thượng Quảng Phước – Thiện Nhơn (1931-2013) được suy cử làm Trưởng ban Hoằng pháp GHPGVN tỉnh Bình Định kiêm CĐD Phật giáo huyện Tuy Phước (1992-1997).

– Hòa thượng Chân Từ – Thanh Kiểm (1920-2000) được suy cử làm Trưởng ban Kinh tế tài chánh kiêm Phó ban Giáo dục Tăng Ni; Phó ban Phật giáo Quốc tế TW. GHPGVN.

1991
01/01/1991

Năm 1991 (Tân Mùi – PL.2535)

Năm 1991 (Tân Mùi – PL.2535)

– Ngày 20 tháng 3, Ni trưởng Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Ni giới, giới đàn Thiện Hòa tại chùa Từ Nghiêm (quận 10, TP. HCM).

– Ngày 19 tháng 4 (nhằm ngày 15 – 3 – Tân Mùi), Hòa thượng Nguyên Minh – Viên Quang (1921-1991) thế danh Trương Trọng Cửu, pháp danh Nguyên Minh, tự Công Huệ, húy Minh Tự, sinh tại thôn Phú Hội, xã An Ninh, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, thuộc dòng Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, trụ trì Tòng Lâm Vạn Thiện (Phan Thiết, Bình Thuận), viên tịch, thọ 71 tuổi, 51 hạ lạp.

– Ngày 23 tháng 5 năm Tân Mùi, Thượng tọa Tâm Dung – Huệ Nhật (1918-1991), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Long Thạnh (Quy Nhơn, Bình Định), viên tịch, thọ 74 tuổi.

– Ngày 07 tháng 6 năm Tân Mùi, Hòa thượng Thích Bửu Thành (1910-1991), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, trụ trì chùa Linh Phước (Long An), viên tịch, thọ 82 tuổi.

– Ngày 21 tháng 7, Lễ đặt đá đầu tiên xây dựng chùa Lâm Tế tại số 212, đường Nguyễn Trãi, phường Nguyễn Cư Trinh, quận 1, Tp. HCM.

Ngày 02 tháng 8 năm Tân Mùi, Hòa thượng Hành Thiện –  Hưng Từ (1911-1991) thế danh Bùi Vạn Anh, pháp danh Thị Lạc, tự Hành Thiện, hiệu Hưng Từ, sinh tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, thuộc dòng thiền Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, Tổ khai sơn chùa Pháp Hội (Bình Thuận), viên tịch, thọ 80 tuổi, 60 pháp lạp.

– Ngày 11, 12 tháng 8, chùa Giác Thiên tại thị xã Vĩnh Long, tỉnh

Cửu Long khai đại giới đàn Thiện Hoa, Hòa thượng Phát Huệ (1917-2008) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa Thượng Thiện Từ làm Yết Ma, Thượng tọa Đắc Pháp làm Đàn chủ.

– Ngày 08 tháng 10, Hòa thượng Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012) tham dự Đại hội “Các tôn giáo phục vụ cho một đại Dương Hòa bình” tổ chức tại Malta (Ý), do Hội Quốc tế Loài người và Tôn giáo tổ chức (BNSPGGĐ-SG).

– Ngày 22 tháng 10 (nhằm ngày 15 – 9 – Tân Mùi), Hòa thượng Thục Hải – Thiện Minh (1920-1992) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Đại giới đàn Vĩnh Đạt tổ chức tại chùa Phước Hưng (Đồng Tháp). Cũng năm này, Hòa thượng được suy tôn chức vụ Trưởng BTS Phật giáo tỉnh Đồng Tháp.

– Ngày 07 tháng 11 (nhằm ngày 02 – 10 – Tân Mùi), Hòa thượng Như Hương – Huyền Tâm (1920-1991) thế danh Trần Hữu Cảnh, pháp danh Như Hương, tự Giải Vị, hiệu Viên Dung, sinh tại Ninh Thuận, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, Tổ khai sơn chùa Bửu Vân (Phan Rang), viên tịch, thọ 72 tuổi, 41 hạ lạp.

– Ngày 19 tháng 11, Thượng tọa Chơn Thiện, Đại đức Tâm Đức đi du học Ấn Độ.

– Ngày 22 tháng 11 (nhằm ngày 15 – 10 – Tân Mùi), Hòa thượng Minh Hiền – Trừng San (1922-1991) thế danh Nguyễn San, pháp danh Trừng San, tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, sinh tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa, thuộc dòng Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 42, trụ trì chùa Diên Thọ (Nha Trang), viên tịch, thọ 70 tuổi, 35 tuổi đạo.

– Ngày 02 tháng 12 (nhằm ngày 27 – 10 – Tân Mùi), Hòa thượng Tâm Ba – Bửu Huệ (1914-1991), thế danh Nguyễn Văn Ba, pháp danh Tâm Ba, tự Nhựt Quang, hiệu Bửu Huệ, sinh tại xã Tân Hương, huyện Bến Tranh, tỉnh Định Tường, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 41, Cố vấn

Ban Quản trị Phật học viện Huệ Nghiêm (TP. HCM), viên tịch, thọ 78 tuổi, 42 hạ lạp.

– Ngày 09 tháng 12 năm Tân Mùi, Hòa thượng Thích Chánh Định (1901-1991), thế danh Nguyễn Văn Sớm, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Tổ khai sáng chùa Giác Tông (Cần Giuộc, Long An), viên tịch, thọ 91 tuổi.

– Hòa thượng Trừng Chiếu – Từ Mãn (1918-2007) được cung thỉnh làm Hiệu trưởng trường Cơ Bản Phật học Lâm Đồng.

– Hòa thượng Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được cung cử làm Phó chủ tịch Hội đồng phiên dịch Đại Tạng kinh Việt Nam, đặc trách Hán tạng. Những  tác phẩm dịch thuật của Hòa thượng có : kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phát Bồ-đề Tâm Văn, kinh Kiến Chánh, kinh 42 Chương, kinh Trường A-hàm, kinh Pháp Cú, Tân Duy Thức Luận, Đại Cương Luận Câu-xá, Luận Thành Duy Thức, Luận Đại Trí Độ, Trung Luận; những tác phẩm biên soạn của ngài: Nghi Thức Tụng Niệm, Nghi Thức Thọ Bồ-tát Giới Tại Gia, Đại Cương Luận Câu-xá, Vô Ngã là Niết-bàn, Tỏa Ánh Từ Quang, Lối Vào Nhân Minh Học, Ngũ Uẩn Vô Ngã, Cương Yếu Giới Luật, kinh Pháp Hoa giữa các kinh điển Đại Thừa,…và các báo khác (Giác Ngộ Online – Mobile, CTTĐPGTH).

– Đại đức Thích Kiến Cơ (?-1997) kế thế trụ trì chùa Long Thắng nay thuộc xã Thạnh Phước, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

– Ni sư Nguyên Hiền – Minh Diệu (1937-1993) được BTS Phật giáo tỉnh Lâm Đồng bổ nhiệm trụ trì chùa Tâm Ấn nay tại số 9/1, đường Đinh Tiên Hoàng, phường 2, TP. Đà Lạt.

– Sư cô Huệ Trang (1938-?) được Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng cử trụ trì chùa Thiền Lâm (hay chùa Vạn Phước) hiện tại ấp Thái Phiên, phường 12, TP. Đà Lạt.

– Hòa thượng Nguyên Thạnh – Chơn Trí được cung thỉnh làm Trưởng BTS Tỉnh hội Phật giáo Tiền Giang, nhiệm kỳ 3 (1991-1993).

– Chùa Long Thiền hiện tại số K2/3B, ấp Tân Bình, phường Bửu Hòa, Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, được Bộ Văn Hóa công nhận là một di tích lịch sử – văn hóa, theo Quyết định số 1057/QĐ  ký ngày 14/6/1991 (NNCONB).

Hòa thượng Quảng Động – Phước Thành (1918-2014) được suy cử làm Phó trưởng BTS đặc trách Tăng sự GHPG tỉnh Bình Định (1991-1995).

– Hòa thượng Chân Từ – Thanh Kiểm (1920-2000) được cử làm Phó chủ tịch Hội đồng phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam, phụ trách hiệu đính và chú thích về Luật tạng.

– Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) khai thị cho hành giả khóa Thiền thất tại chùa Linh Sơn. Ngài giảng giải về các vấn đề : Do Phật thân, Thiền bị biến thái, Sức dụng do tham thiền, Nhìn bông cúc không vướng, Ngộ đạo của Phật, Làm sao phát nghi, Vô vi nên sai biệt (thamtosuthien.net).

– Thượng tọa Phước Trí được khởi công trùng tu chánh điện chùa Pháp Vân tại số 16, đường Lê Thúc Hoạch, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, Tp. HCM, đến năm 1992 thì hoàn thành.

1990
01/01/1990

Năm 1990 (Canh Ngọ – PL.2534)

Năm 1990 (Canh Ngọ – PL.2534)

– Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 23 tháng 2 (nhằm ngày 28 – 1 – Canh Ngọ), Hòa thượng Ngộ Trí –  Huệ Hưng (1917-1990) thế danh Nguyễn Thành Chẩm, húy Ngộ Trí, hiệu Huệ Hưng, sinh tại làng Mỹ Tho, quận Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, thuộc dòng thiền Lâm Tế, đời thứ 39, trụ trì Tu viện Huệ Quang (Tp. HCM), viên tịch, thọ 74 tuổi, 46 hạ lạp. Những tác phẩm phiên dịch của Hòa thượng: Kinh Duy Ma Cật, Kim Cang Giảng Lục, Lược Sử Đức Lục Tổ, Pháp môn tu chứng Lăng Nghiêm Đại Định (TSDTVN).

– Ngày 24 tháng 2 (nhằm ngày 29 – 1 – Canh Ngọ), Hòa thượng Thích Thanh Từ (1924-?) nhân chuyến về dự lễ húy kỵ Cố Hòa thượng Thích Khánh Anh, Hòa thượng và phái đoàn đến thăm viếng Phật học đường Lưỡng Xuyên (Trà Vinh) và Hòa thượng phát tâm tu tạo lại ngôi Tổ đình Phật học này.

– Ngày 13 tháng 3 năm Canh Ngọ, Hòa thượng Nhựt Thới – Quảng Thành (1929-1990), thế danh Nguyễn Văn Thùy, húy Nhựt Thới, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Phước Hậu (Đức Hòa, Long An), viên tịch, thọ 62 tuổi.

– Ngày 13 tháng 3, Ni trưởng Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn Ni tại chùa Long Thiền ở Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

– Ngày 21 tháng 4, Hòa thượng Chân Từ – Thanh Kiểm (1920-2000) được suy cử làm Phó BTS THPG Tp. HCM.

– Ngày 15 tháng 5 năm Canh Ngọ, Hòa thượng Thông Niệm – Đồng Chơn (1914-1990) thế danh Nguyễn Văn Kỉnh, pháp danh Đồng Chơn, tự Thông Niệm, hiệu Long Hưng, sinh tại thôn Vọng Trì, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, trụ trì chùa Bát Nhã (Đà Nẵng) viên tịch, thọ 77 tuổi, 40 hạ lạp.

– Ngày 19 tháng 5 (nhuận) năm Canh Ngọ, Ni trưởng Tâm Huyền – Chơn Thông (1934-1990) thế danh Hoàng Thị Lan, pháp danh Tâm Huyền, hiệu Chơn Thông, sinh tại phường Phú Hòa, TP. Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Diệu Viên (Huế), viên tịch, trụ thế 67 năm, 47 tuổi đạo.

– Ngày 18 tháng 7 (nhằm ngày 26 – 5 – Canh Ngọ), Ni trưởng Nguyên Thanh – Đàm Hương (1912-1990) pháp danh Nguyên Thanh, húy Ngọc Khuê, hiệu Đàm Hương, sinh tại làng Bảo Hựu, tỉnh Bến Tre, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 43, Tổ khai sáng Diệu Ấn Ni tự (Phan Rang, Ninh Thuận) viên tịch, thọ 78 tuổi.

– Ngày 19 tháng 6 năm Canh Ngọ, Hòa thượng Chơn Khai – Quang Lý (1918-1990) thế danh Nguyễn Khắc Cát, pháp danh Chơn Khai, tự Đạo Chánh, hiệu Quang Lý, sinh tại làng Hiệp Phố Bắc, xã Nghĩa Hưng, quận Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, Tổ khai sơn chùa Bửu Long (Quảng Ngãi), viên tịch, thọ 73 tuổi, 53 hạ lạp.

– Tháng 6, Thượng tọa Lệ Minh – Hoằng Từ (1941-2008) được suy cử làm Phó Hiệu trưởng Trường Cơ bản Phật học Tiền Giang đặc trách Học vụ kiêm trụ trì chùa Vĩnh Tràng nay thuộc Tp. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

– Ngày 09 tháng 9 (nhằm ngày 21 – 7 – Canh Ngọ), Hòa thượng Tâm Niệm – Từ Ý (1919-1990) thế danh Trần Văn Chí, pháp danh Tâm Niệm, tự Từ Ý, hiệu Chơn Thiện, sinh tại xã Trà Tây, tổng Đức Hòa, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, Tổ khai sơn chùa Hòa An (Tam Kỳ – Quảng Nam), viên tịch, thọ 72 tuổi, 30 hạ lạp.

– Ngày 18 tháng 9, Hòa thượng Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012), Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HĐTS TW GHPGVN, làm Trưởng đoàn PGVN đi dự Đại hội lần thứ VIII của Tổ chức Phật giáo Châu Á vì Hòa Bình (ABCP) tại Ulan Bator, Mông Cổ (BNSPGGĐ-SG).

– Ngày 08 tháng 12, Hòa thượng Giác Hòa – Bửu Lai (1901-1990) được Ủy ban TW MTTQVN tặng huy chương “Vì sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc”.

– Ngày 10 tháng 12 (nhằm ngày 24 – 10 – Canh Ngọ), Hòa thượng Giác Hòa – Bửu Lai (1901-1990) thế danh Lê Văn Tồn, pháp danh Bửu Lai, pháp hiệu Giác H a, sinh tại Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, thuộc Tông Lâm Tế, đời thứ 40, Chứng minh BTS Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Hậu Giang, viên tịch, thọ 90 tuổi, 34 hạ lạp. Tác phẩm của Hòa thượng : Khuyến Phát Bồ-đề Tâm Văn (dịch), Các bài văn giác thế, Thiền môn Trường hàng luật (duyệt xét, giảo chính), Ý nghĩa Nghi thức tụng niệm (sưu tập), Sưu tập giảng luận giáo lý (39 bài) (TSDTVN).

– Ngày 09 tháng 11 năm Canh Ngọ, Hòa thượng Đồng Nghĩa – Thiện Hoài (1921-1990), thế danh Nguyễn Văn Hoài, pháp danh Đồng Nghĩa, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43,  trụ trì chùa An Lạc (Thủ Dầu Một, Bình Dương), viên tịch, thọ 70 tuổi.

– Hòa thượng Tâm Hương – Mật Hiển (1907-1992) được cung thỉnh làm Trưởng BTS kiêm Ủy viên Tăng sự Phật giáo Thừa Thiên-Huế.

– Hòa thượng Nguyên Chơn – Minh Tánh (1924-1995) được đề cử chức vụ Phó Ban thường trực kiêm Ủy viên Tăng sự Phật giáo tỉnh Long An.

– Hòa thượng Thích Đắc Pháp (1938-2013) được đề cử làm Hiệu trưởng Trường Cơ bản Phật học Vĩnh Long.

– Hòa thượng Chơn Ngọc – Long Trí (1928-1998) trùng tu chánh điện chùa Viên Giác (Quảng Nam), đến ngày rằm tháng 08 cùng năm này lễ khánh thành.

– Đầu năm, Hòa thượng Chơn Khai – Quang Lý (1918-1990) được GHPG tỉnh Lâm Đồng thỉnh làm trụ trì chùa Linh Thứu tại tỉnh này.

– Hòa thượng Thị Huệ – Bảo An (1914-?) trùng tu Tổ đình Phổ Bảo ở huyện Tuy Phước, Bình Định.

– Hòa thượng Nhựt Sáu – Từ Nhơn (1926-2013) được suy cử làm Tổng lý Hội Đồng Quản Trị Tổ đình Ấn Quang (TP. HCM).

– Hòa thượng Như Đường – Huệ Quý (1921-1990) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Hưng Long (quận 10, Tp. HCM), viên tịch, thọ 70 tuổi.

– Hòa thượng Như Tín – Huệ Phát kế thế trụ trì chùa Hưng Long nay tại số 298, đường Ngô Gia Tự, phường 4, quận 10, Tp. HCM.

– Hòa thượng Như Trực – Vĩnh Châu (1930-2006) kế thế trụ trì chùa Linh Thứu tại tỉnh Lâm Đồng.

– Hòa thượng Như Vinh – Giải Lộc – An Chánh (1922-1990) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Bác Ái (Kontum), viên tịch, thọ 69 tuổi.

– Thiền sư Thị Chương – Chánh Quang (1945-?) kế thế trụ trì chùa Bác Ái tại thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

– Hòa thượng Thích Thanh Từ (1924-?) thăm viếng miền Bắc.

– Ni trưởng Nhựt Thiện – Như Bổn (1926-2006) nhận trách nhiệm trụ trì chùa Kim Sơn tại quận Phú Nhuận, TP. HCM.

– Hòa thượng Trí Thắng – Đồng Huy (1919-2010) sáng lập các chùa Vạn Thiện, Vạn Phước, Vạn An. Cũng năm này, ngài trùng tu Tu viện Vạn Hạnh tại xã Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đồng thời còn khai khẩn 20 hecta đất trên sườn núi Thị Vãi để trồng cây ăn trái và gây rừng.

– Hòa thượng Nhựt Điện – Thiện Ký (1921-?) về trụ trì chùa Đức Thắng tại ấp 3, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

– Sư cô Như Huệ (1953-?) được Tỉnh hội Phật giáo Kiên Giang cử về trụ trì chùa An Hòa hiện tại phường Rạch Sỏi, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

– Chùa Đại Giác ở Cù lao Phố, ấp Nhị H a, xã Hiệp Hòa, tỉnh Đồng Nai, được Bộ Văn Hóa công nhận là một di tích  lịch sử nghệ thuật theo Quyết định số 993-VH/QĐ ngày 28/9/1990 (NNCONB).

– Hòa thượng Huệ Thiện (1904-1990), thuộc thiền phái Lâm Tế, trụ trì chùa Phước Điền (An Giang), viên tịch, thọ 87 tuổi.

– Thượng tọa Quảng Trí – Đạt Đạo (1951-2013) khai sáng xây dựng chùa Bát Nhã tại phường 13, quận Bình Thạnh, Tp. HCM, do đạo hữu Nguyễn Ký hiến cúng đất.

– Thượng tọa Như Minh – Pháp Chiếu (1935-2014) được suy cử làm Phó Hiệu trưởng Học vụ Trường Cơ bản Phật học Lâm Đồng.

– Thượng tọa Lệ Sành – Huệ Sanh (1935-1998) khởi công trùng tu Tổ đình Giác Lâm hiện tại số 118, đường Lạc Long Quân, phường 9, quận Tân Bình, Tp. HCM, đến năm 1996 thì hoàn thành.

1989
01/01/1989

Năm 1989 (Kỷ Tỵ – PL.2533)

Năm 1989 (Kỷ Tỵ – PL.2533)

– Ngày 15 tháng 1, Hòa thượng Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012), Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HĐTS TW. GHPGVN cùng ông Bùi Đức Hải, Ủy viên Thư ký HĐTS TƯ tham dự Hội nghị lần thứ 5 của Tổ chức Tôn giáo vì Hòa bình Thế giới họp tại Úc từ ngày 22 – 1 đến ngày 27 – 1 – 1989 (BNSPGGĐ-SG).

– Ngày 15 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ, Thiền viện Chơn Chiếu (trước đây là chùa Pháp Hoa) thuộc thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, chính thức được thành lập và Lễ an vị Phật tại Thiền viện này.

– Ngày 19 tháng 2, Hòa thượng Giác Khai – Duy Lực (1923-2000) khai thị cho hành giả khóa Thiền thất tại Từ Ân Thiền tự thuộc quận 11, Tp. HCM. Cũng tháng 2 năm Kỷ Tỵ, Hòa thượng sang Mỹ Quốc hoằng dương Thiền học theo sự thỉnh cầu của Phật tử Hoa Tông ở Hải ngoại. Tại đây, ngài sáng lập Từ Ân Thiền Đường ở thành phố Los Angeles, bang California. Đến tham học thiền có Phật tử người Tây Âu, Á châu và đông nhất là kiều bào người Việt Nam (TSDTVN).

– Ngày 23 tháng 3 (nhằm ngày 16 – 2 – Kỷ Tỵ), Hòa thượng  Hạnh Phát – Phước Huệ (1929-1989) thế danh Huỳnh Văn Thiết, pháp danh Thị Tấn, tự Hạnh Phát, hiệu Phước Huệ, sinh tại xã An Chấn, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, Tổ khai sơn chùa Vạn Hạnh (Khánh Hòa), viên tịch, thọ 61 tuổi, 54 tuổi đạo.

– Ngày 23 tháng 3 năm Kỷ Tỵ, Đại đức Chúc Bá – Thiện Trung (1954-1989), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 44, trụ trì chùa Phước An (Thủ Dầu Một, Bình Dương), thị tịch, trụ thế 35 năm.

– Ngày 15 tháng 4, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tổ chức buổi hội thảo đề tài “Trần Thái Tông – thân thế và sự nghiệp Phật học và văn học”. Buổi hội thảo có 7 bản báo cáo được trình bày sôi động, đạt kết quả cao (BNSPGGĐ-SG).

– Ngày 10 – 12 tháng 5, chùa Long Khánh, thị xã Qui Nhơn, tỉnh

Nghĩa Bình khai đại giới đàn Nguyên Thiều, Hòa thượng Như Bình – Giải An (1914-2003) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Kế Châu làm Đàn chủ.

Ngày 27 tháng 9 năm Kỷ Tỵ, Hòa thượng Đức Trường – Thiện Lập (1922-1989), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 47, trụ trì chùa Long Hưng (Bến Cát, Bình Dương), viên tịch, thọ 68 tuổi.

– Ngày 23 tháng 10, Thượng tọa Đồng Nhiên – Hành Đạo (?-1998), húy Đồng Nhiên, hiệu Hành Đạo, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, Tổ khai sơn chùa Giác Hải (Quy Nhơn, Bình Định), viên tịch.

– Ngày 27 tháng 10 (nhằm ngày 28 – 9 – Kỷ Tỵ), Ni trưởng  Kiều Nga – Như Nghĩa (1907-1989) thế danh Võ Thị Nga, pháp danh Như Nghĩa, hiệu Kiều Nga, sinh tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong (Đồng Tháp), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Viện chủ chùa Hải Huệ (Sa-Đéc), viên tịch, trụ thế 82 năm, 60 hạ lạp.

– Ngày 02 tháng 11 năm Kỷ Tỵ, Ni trưởng Tâm Nguyệt – Thể Yến (1908-1989) thế danh Lê Thị Tuyết Sơn, pháp danh Tâm Nguyệt, tự Thể Yến, sinh tại TP. Vinh, tỉnh Nghệ An, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, nguyên Giám viện Ni viện Diệu Đức (Huế), viên tịch, thọ 81 tuổi, 54 hạ lạp.

– Ngày 22 tháng 11 năm Kỷ Tỵ, Hòa thượng Thị Hải – Hành Sơn (1908-1989) thế danh Lê Đình Nam, pháp danh Thị Hải, tự Hành Sơn, sinh tại làng Đại An, xã Kỷ Long, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, Tổ khai sơn chùa An Lạc (Hội An, Quảng Nam), viên tịch, thọ 82 tuổi.

– Hòa thượng Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012) được suy cử giữ chức Viện trưởng Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam.

– Hòa thượng Giác Hòa – Bửu Lai (1901-1990) được suy cử chức vụ Hiệu Trưởng kiêm Giáo thọ Trường Cơ Bản Phật Học tỉnh Hậu Giang.

– Hòa thượng Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012) và Hòa thượng Thích Tâm Thông dẫn đầu Phái đoàn PGVN đi thăm Nhật Bản theo lời mời của một tổ chức quần chúng Phật tử thông qua Tổ chức ABCP Nhật Bản (BNSPGGĐ-SG).

– Tu viện Liễu Đức tại ấp 1a, xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, được Hòa thượng Thích Thanh Từ đổi tên là Thiền viện Liễu Đức (Tu viện được thành lập năm 1984), do Ni sư Như Đạo trụ trì.

Thượng tọa Thích Minh Hiền hoằng dương Tổ sư thiền tại chùa Phật Đà nay ở số 362/46, đường Nguyễn Đình Chiểu, phường 4, quận 3, Tp. HCM.

– Đại đức Hạnh Diệu – Đỗng Quyên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, kế thế trụ trì chùa Thiên Hưng nay thuộc Tp. Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận.

– Hòa thượng Như Vinh – Giải Quảng – Pháp Ý (1914-1989) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Hưng Long (quận 10, Tp. HCM), viên tịch, thọ 76 tuổi.

– Hòa thượng Như Đường – Huệ Quý (1921-1990) kế thế trụ trì chùa Hưng Long nay tại số 298, đường Ngô Gia Tự, phường 4, quận 10, Tp. HCM.

– Sư cô Hạnh Nhã được Hòa thượng Thích Thanh Từ cử làm trụ trì Thiền viện Huệ Chiếu tại thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Hòa thượng Thích Thanh Từ cùng một số tăng ni và Phật tử ra Bắc thăm viếng các thắng tích danh lam, đồng thời cũng để sưu tập tư liệu về Thiền tông Việt Nam (Kỷ Yếu 25 năm Thiền viện Thường Chiếu, 1974 – 1999).

– Thượng tọa Như Hảo – Quảng Tâm (1947-2010) cùng chư Tôn đức vận động mở trường Cơ Bản Phật học TP. HCM cơ sở II tại chùa Thiên Minh, huyện Thủ Đức. Cũng năm này, Thượng tọa đổi tên chùa Vĩnh Đức thành Tu viện Vĩnh Đức nay tại quận 2, Tp. HCM, do ngài khai sáng.

– Thượng tọa Tâm Trung – Chánh Trực (1931-1995) được cung cử làm Trưởng BTS Phật giáo tỉnh Quảng Trị. Cũng trong thời gian này, ngài được mời tham gia Mặt trận và Hội đồng Nhân dân tỉnh Quảng Trị.

– Hòa thượng Nguyên Chơn – Khế Hội (1921-1999) được suy cử làm Trưởng BTS GHPGVN tỉnh Phú Yên.

– Hòa thượng Trí Thắng – Đồng Huy (1919-2010) được suy cử làm Trưởng Ban vận động mở lớp giáo lý và thành lập trường Cơ Bản Phật học Đại Tòng Lâm (Bà Rịa – Vũng Tàu). Năm sau (1990), ngài được cung thỉnh làm Phó Ban giám đốc Đại Tòng Lâm, đặc trách Giám luật.

– Hòa thượng Thiện Lạc – Hồng Liên (1915-1999) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Đại giới đàn tổ chức tại chùa Viên Minh (Bến Tre); ngài cũng được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho các Đại giới đàn năm 1991, năm 1993, tại chùa Viên Minh.

– Vào các năm 1989 và 1994, Ni trưởng Diệu Liên – Tâm Hoa (1916?) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đường đầu Ni tại các giới đàn Nguyên Thiều và Phước Huệ do BTS tỉnh Bình Định tổ chức.

– Chùa Núi Châu Thới hiện tại huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương, được công nhận là một di tích văn hóa theo Quyết định số 451/QĐ/VH ngày 21/4/1989. Chùa hiện nay do Hòa thượng Thích Huệ Thông (1935?) làm Viện chủ (STPGBD).

– Ni trưởng Hải Triều Âm (1920-2013) sáng lập chùa Dược Sư tại thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

– Đại đức Thích Minh Luận (1960-?) được Phật tử thỉnh về trụ trì chùa Tiên Sơn tại xã Mỹ Đức, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

– Hòa thượng Quảng Phát (?-1989), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 45, trụ trì chùa Linh Phước (Châu Thành, Tiền Giang), viên tịch.

– Hòa thượng Nguyên Chơn – Khế Hội (1921-1999) được suy cử làm Trưởng BTS Phật giáo tỉnh Phú Yên (1989-1999).

– Thượng tọa Quảng Trai – Chí Đạo (1945-2014) được suy cử làm CĐD GHPG thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (1989-2006).

– Thượng tọa Đức Thành – Đồng Hạnh (1942-2003) được suy cử vào Ủy viên BTS tỉnh hội Phật giáo Bình Định, kiêm CĐD Phật giáo huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định (1989-1997).

1988
01/01/1988

Năm 1987 (Đinh Mão – PL.2531)

Năm 1987 (Đinh Mão – PL.2531)

– Ngày 01 tháng 2 (nhằm ngày 04 – 1 – Đinh Mão), Hòa thượng Nguyên Lưu – Giác Tánh (1911-1987) thế danh Võ Phi Long, pháp danh Nguyên Lưu, tự Chí Ý, hiệu Giác Tánh, sinh tại làng Vĩnh Lộc, xã Bình Hòa, quận Bình Khê, tỉnh Bình Định, thuộc Tông Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, trụ trì chùa Thiên Đức (Bình Định), viên tịch, thọ 77 tuổi, 57 hạ lạp.

– Ngày 28 tháng 3 năm Đinh Mão, Hòa thượng Hồng Tồn – Huệ Nhựt (1914-1987), thế danh Lê Văn Chồn, húy Hồng Tồn, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Giác Tịnh (Cần Giuộc, Long An), viên tịch, trụ thế 78 năm.

– Ngày 08 tháng 5 (nhằm ngày 11 – 4 – Đinh Mão), Hòa thượng Chơn Thanh – Bích Nguyên (1898-1987), họ Nguyễn, húy Tùng, pháp danh Chơn Thanh, tự Chánh Mậu, hiệu Bích Nguyên, sinh tại làng Duy H a, xã Triệu H a, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh tông, đời thứ 43, Tổ khai sơn chùa Linh Phong (Đà Lạt), viên tịch, thọ 88 tuổi, 51 hạ lạp.

– Ngày 28 tháng 7 năm Đinh Mão, Hòa thượng Như Chất – Nhơn Trực (1886-1987) thế danh Võ Phương, húy Như Chất, tự Tâm Phát, hiệu Nhơn Trực, sinh tại G  Dưa, Phước Hải, nay là phường Phước Hải, Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, Tổ khai sơn chùa Từ Vân (Nha Trang), viên tịch, thọ 102 tuổi.

– Ngày 24 tháng 9 (nhằm ngày 02 – 8 – Đinh Mão), Hòa thượng Tâm Hòa – Nhật Lệ (1927-1987) họ Nguyễn, húy là Cảnh, pháp danh Tâm H a, tự Thành Quang, hiệu Nhật Lệ, sinh tại làng Trà Trì, xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Hải Quang (Sài Gòn), viên tịch, thọ 61 tuổi, 38 hạ lạp.

– Ngày 15 tháng 9 năm Đinh Mão, Hòa thượng Hồng Hạnh – Vĩnh Đạt (1911-1987) họ Nguyễn, húy Hồng Hạnh, hiệu Vĩnh Đạt, sinh tại xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, thuộc Tông Lâm Tế, đời thứ 40, trụ trì chùa Phước Hưng (Đồng Tháp), viên tịch, thọ 76 tuổi, 56 hạ lạp.

– Ngày 29 tháng 11 năm Đinh Mão, Ni trưởng Như Huyền – Hồng Từ (1917-1987) thế danh Nguyễn Thị Bích, pháp danh Như Huyền, tự Giải Huệ, hiệu Hồng Từ, sinh tại làng Chánh Lộ, phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, Tổ khai sơn chùa Tịnh Nghiêm (Quảng Ngãi), viên tịch, thọ 71 tuổi, 36 hạ lạp.

– Sư cô Diệu Quang cúng dường Tịnh thất Quan Âm cho Hòa thượng Thích Thanh Từ. Sau đó, Hòa thượng kiến lập  thành Thiền viện Tịch Chiếu thuộc khu phố Hải Tân, thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và cử Sư cô Hạnh Thanh đảm nhận trụ trì.

– Hòa thượng Ngộ Trí – Huệ Hưng (1917-1990) được đề cử làm Trưởng Ban Tăng Sự TW. GHPGVN. Cũng năm này, ngài được tái cử chức vụ Phó BTS THPG Tp. HCM.

– Hòa thượng Nguyên Minh – Viên Quang (1921-1991) trùng tu chùa Long Phú.

– Thượng tọa Giải Thâm – Kế Châu (1922-1996) được suy cử làm Ủy viên HĐTS TƯ. GHPGVN.

Thượng tọa Thục Hải – Thiện Minh (1920-1992) được cung thỉnh làm Phó BTS kiêm Ủy viên HDPT Phật giáo tỉnh Đồng Tháp.

– Hòa thượng Trí Ấn – Nhật Liên (1923-2010) khai sơn Lam Viên tịnh thất tại xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

– Hòa thượng Thích Thanh Từ thành lập Thiền viện Trúc Lâm Chân Nguyên tại khu phố Hải Tân, thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Cũng năm này, Hòa thượng ủy quyền cho Thượng tọa Thích Thông Luận làm trụ trì Thiền viện đến nay.

– Thượng tọa Thích Thiện Đức sáng lập Thiền đường Liễu Quán I tại ấp Phước Thành, xã Tân Hòa, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Đại đức Nhựt Minh – Hoằng Đức kế thế trụ trì Tổ đình Đức Lâm tại xã Mỹ Phong, Tp. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

– Hòa thượng Kiểu Viên – Trí Long (?-1987), thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 41, trụ trì chùa Vĩnh Tràng (Tiền Giang), viên tịch.

– Thượng tọa Nhuận Quang (?-1987), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 46, trụ trì chùa Linh Phước (Châu Thành, Tiền Giang), viên tịch.

– Thượng tọa Thiện Huệ kế thế trụ trì chùa Phước Hưng  hiện tại số 74/5, đường Hùng Vương, phường 1, Tp. Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

– Đại đức Nguyên Đức – Minh Phát (1956-1996) khai sáng  chùa Viên Dung hiện tại số 302, đường Kha Vạn Cân, khu phố 8, phường Linh Đông, quận Thủ Đức, Tp. HCM.

– Thượng tọa Quảng Phước – Thiện Nhơn (1931-2013) kế thế trụ trì Tổ đình Thiên Đức nay tại thôn Háo Lễ, xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

01/01/1988

Năm 1988 (Mậu Thìn – PL.2532)

Năm 1988 (Mậu Thìn – PL.2532)

– Ngày 11 tháng 1 năm Mậu Thìn, Hòa thượng Nhựt Quang – Chơn Hỷ (1918-1988) thế danh Quách Phước Thiện, húy Nhựt Quang, tự Chơn Hỷ, hiệu Chân Thiện, sinh tại làng Nam Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Bửu Lâm (Đồng Tháp), viên tịch, thọ 71 tuổi.

– Ngày 29 tháng 2 (nhằm ngày 13 – 1 – Mậu Thìn), Hòa thượng Nguyên Tánh – Đức Tâm (1828-1988) thế danh Trần Hoài Cam, pháp danh Nguyên Tánh, tự Đức Tâm, hiệu Hải Tạng, sinh tại làng Hồi Thành, xã Hương Lưu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, thuộc dòng Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, trụ trì chùa Pháp Hải (Huế), viên tịch, thọ 60 tuổi, 40 tuổi đạo.

– Ngày 15 tháng 2 năm Mậu Thìn, Lễ khai trương Tuệ Tĩnh đường Linh Chiếu tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

– Ngày 07 tháng 3 năm Mậu Thìn, Hòa thượng Từ Năng – Giác Nguyên (1911-1988), thế danh Lê Hồ, pháp danh Thị Niệm, tự Giác Nguyên, hiệu Từ Năng, sinh tại thôn An Chánh, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì chùa Bạch Sa (Quy Nhơn, Bình Định), viên tịch, thọ 78 tuổi.

– Ngày 05 tháng 4 năm Mậu Thìn (1988?), Thượng tọa Bổn Nghĩa – Thiện Xuân (?-1988?), thế danh Nguyễn Văn Luận, húy Bổn Nghĩa, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 48, Tổ sáng lập chùa Long Phước (Cần Đước, Long An), viên tịch.

– Ngày 23 tháng 5 (nhằm ngày 08 – 4 – Mậu Thìn), Ni trưởng Tâm Ngọc – Thể Thanh (1923-1988) thế danh Công Tằng Tôn Nữ Kim Cúc, húy Tâm Ngọc, hiệu Thể Thanh, sinh tại làng An Cựu – Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ tại chùa Diệu Đức (Huế), viên tịch, thọ 66 tuổi, 38 hạ lạp. Ni trưởng có dịch thuật bộ : Luật Tứ Phần Tỳ-kheo Ni Giới Bổn Lược Ký.

– Ngày 16 tháng 6, Ni trưởng Hữu Chí (1904-1988) thế danh Võ Thị Khoái, hiệu Hữu Chí, sinh tại Thới Sơn, Tịnh Biên, An Giang, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Long Hòa (An Giang), viên tịch, thọ 84 tuổi, 64 hạ lạp. Sinh tiền, Ni trưởng đã khai sơn các chùa: Long Hòa, Long Hưng, Nhơn Phước tại tỉnh An Giang.

– Ngày 11, 12 tháng 7 năm Mậu Thìn, Tổ đình Báo Quốc, TP. Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế mở giới đàn Hộ Quốc, Hòa thượng Tâm Hương – Mật Hiển (1907-1992) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Hưng Dụng làm Giáo thọ, Hòa thượng Thiện Siêu làm Yết Ma (BNSGĐTVN).

– Ngày rằm tháng 7 năm Mậu Thìn, Hòa thượng Quảng Châu – Hoằng Thông (1902-1988) thế danh Phạm Ngọc Thạch, pháp danh Quảng Châu, hiệu Hoằng Thông, sinh tại xã Mỹ Thạnh Đông, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, thuộc dòng Lâm Tế -Chánh Tông, đời thứ 45, trụ trì Sắc Tứ Long Hội (Tiền Giang), viên tịch, thọ 86 tuổi, 66 giới lạp.

– Ngày 11 tháng 8, Hòa thượng Thiện Từ được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Thượng tọa Đắc Pháp làm Yết Ma cho giới đàn chùa Giác Thiên, phường 4, thị xã Vĩnh Long, tỉnh Cửu Long.

– Ngày 08 tháng 8 năm Mậu Thìn, Đại đức Quảng Trân – Huệ Châu (?-1988), quê ở huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, thuộc dòng Tế Thượng – Chánh Tông, đời thứ  45, Tổ khai sơn chùa Phước Quang (Đức Hòa, Long An), thị tịch.

– Ngày 15 tháng 8 năm Mậu Thìn, Hòa thượng Đồng Bửu – Quảng Viên (1910-1988), thế danh Lê Văn Ký, pháp danh Đồng Bửu, thuộc Tông Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, trụ trì chùa Hội Khánh (Thủ Dầu Một), viên tịch, thọ 79 tuổi.

– Ngày 27 tháng 8 năm Mậu Thìn, Ni sư Hồng Cúc – Diệu Nghĩa (1908-1988), thế danh Trần Thị Cúc, húy Hồng Cúc, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Linh Bửu (Tân Trụ, Long An), viên tịch, thọ 82 tuổi.

– Ngày 07 tháng 10, Ni trưởng Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Ni giới, giới đàn Thiện Hòa tại chùa Từ Nghiêm (quận 10, TP. HCM).

– Vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 22 tháng 11, Hòa thượng Quảng Y – Từ Hạnh (1927-1988) thế danh Phạm Chí Nguyện, pháp danh Quảng Y, hiệu Từ Hạnh, sinh tại ấp Đức Phổ, xã Cát Minh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 45, nguyên trụ trì chùa Phổ Đà và chùa Quán Thế Âm (Tp. HCM), viên tịch, thọ 62 tuổi.

– Ngày 26 tháng 12, Giới nghiên cứu phát hiện tháp Tổ sư Nguyên Thiều – Siêu Bạch (1648-1728) và tháp Phổ Đồng ở chùa Kim Cang (tỉnh Đồng Nai). Công trình này đã được đăng sơ lược trong báo Giác Ngộ số 316 và 317 năm 1989 (LSPGĐT).

– Hòa thượng Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được suy cử làm Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.

– Ni trưởng Như Nghiêm – Huyền Học (1920-1995) khai sơn chùa Vĩnh Phước nay tại đường Trường Chinh, khu phố 3, phường Tân Thới Nhất, quận 12, Tp. HCM.

– Hòa thượng Nguyên Minh – Đức Thiệu (1911-1993) tiếp nhận chùa Liên Trì nay tại số 18/4, đường Ngô Quyền, phường 6, Tp. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, trùng tu và trụ trì chùa này.

– Tỳ-kheo ni Lệ Ngộ (1946-?) khai sáng xây dựng chùa Trang Nghiêm nay tại số 107/7/1, đường Bình Giả, phường 8, TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đến năm 1991 hoàn thành.

– Hòa thượng Tăng Đức Bổn (1917-2000) được suy tôn làm Tăng trưởng Phật giáo Hoa Tông. Cũng năm này, ngài được THPG Tp. HCM bổ nhiệm làm CĐD Phật giáo quận 5, Tp. HCM.

– Thượng tọa Nhựt Sanh – Minh Thành (1937-2000) được cử làm Hiệu phó trường Cơ Bản Phật học Tp. HCM và phụ trách điều hành.

– Hòa thượng Thích Thanh Từ cử Tỳ-kheo Ni Hạnh Liễu về trụ trì chùa Pháp Hoa ở thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, và Hòa thượng đổi tên chùa là Thiền viện Chơn Chiếu.

– Hòa thượng Thích Minh Luân (1903-2003) được cử là Hiệu trưởng Trường Cơ Bản Phật Học tỉnh Hải Dương.

– Đại đức Nhật Minh – Huệ Thông (1960-?) kế thế trụ trì Tổ đình Hội Khánh tại phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

– Đại đức Đồng Trụ – Chánh Tri (1947-?) kế thế trụ trì chùa Bạch Sa tại số 35, đường Biên Cương, phố Ngô Mây, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Chùa Phụng Sơn tại số 1408, đường 3/2, phường 2, quận 11, Tp. HCM, được Bộ Văn Hóa công nhận là một Di tích lịch sử Văn hóa, theo quyết định số 1288/VHQĐ ngày 16-11-1988.

– Hòa thượng Thiên Bửu – Khánh Hải (?-1988), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 45, trụ trì chùa Sắc Tứ Quan Âm (Cà Mau), viên tịch.

– Thượng tọa Lệ Minh – Hoằng Từ (1941-2008) được trụ trì chùa Phật Ân nay thuộc Tp. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

– Hòa thượng Chân Từ – Thanh Kiểm (1920-2000) được cử làm suy cử làm Hiệu Phó trường Cơ bản Phật học Tp. HCM đặc trách Giám luật (1988-2000).

1986
01/01/1986

Năm 1985 (Ất Sửu – PL.2529)

Năm 1985 (Ất Sửu – PL.2529)

– Ngày 06 tháng 1 (nhằm ngày 16 – 12 – Giáp Tý), Hòa thượng Tâm Phổ – Thiện Lộc (1930-1985) thế danh Võ Trọng Thoan, pháp danh Tâm Phổ, tự Thiện Lộc, sinh tại làng Thần Phù, xã Thủy Châu, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ chùa Từ Đàm (Huế), thị tịch, trụ thế 55 năm, 29 hạ lạp.

– Ngày 31 tháng 1 (nhằm ngày 11 – 1 – Ất Sửu), Hòa thượng Hành Thiện – Phúc Hộ (1904-1985) thế danh Huỳnh Văn Nghĩa, pháp danh Thị Chí, tự Hành Thiện, hiệu Phúc Hộ, sinh tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, thuộc Tông Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì chùa Sắc Tứ Từ Quang (Phú Yên), viên tịch, thọ 82 tuổi đời, 63 tuổi đạo.

Ngày 19 tháng Giêng năm Ất Sửu, Hòa thượng Chơn Trung – Minh Đức (1902-1985) thế danh Nguyễn Khắc Dần, pháp danh Chơn Trung, tự Đạo Thứ, hiệu Minh Đức, sinh tại làng Hiệp Phổ, xã Hành Đức, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì chùa Linh Phước (Đà Lạt), viên tịch, thọ 84 tuổi.

– Ngày 04 tháng 3 năm Ất Sửu, Hòa thượng Từ Dung – Bình Chánh (1916-1985), thế danh Nguyễn Văn Hạnh, pháp danh Thị Sa, tự Từ Dung, hiệu Bình Chánh, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì chùa Sơn Long (Quy Nhơn, Bình Định), viên tịch, thọ 70 tuổi.

– Ngày 13 tháng 3 năm Ất Sửu, Hòa thượng Quảng Văn – Huệ Trung (1913-1985), húy Quảng Văn, tự Thiện Quới, hiệu Huệ Trung, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh tông, đời thứ 45, trụ trì chùa Long Phước (Long An), viên tịch, thọ 73 tuổi.

– Ngày 23 tháng 3, Hòa thượng Thích Thế Long (1909-1985) họ Phạm, pháp danh Thế Long, sinh tại xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Hà, thuộc tông Tào Động, đời thứ 46 (sơn môn Phú Ninh-Nam Định), thành viên HĐCM và là Phó chủ tịch Thường trực HĐTS GHPGVN, viên tịch, thọ 76 tuổi, 56 hạ lạp. Hòa thượng Pháp chủ Thích Đức Nhuận đã ban Tháp hiệu của ngài là An Lạc tháp, tên hiệu Tế Mỹ.

– Ngày 05 tháng 4 năm Ất Sửu, Hòa thượng Tâm Quang – Chánh Pháp (1913-1985) thế danh Nguyễn Hữu Trừng, pháp danh Tâm Quang, tự Chánh Pháp, sinh tại làng An Xuân, xã Quảng Lộc, quận Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Phổ Quang (Huế), viên tịch, trụ thế 73 năm, 42 hạ lạp.

– Vào lúc 21 giờ 20 phút, ngày 28 tháng 4 năm Ất Sửu, Hòa thượng Hồng Thọ – Thới An (1912-1985) thế danh Nguyễn Văn Quang, tự Lầu, pháp danh Hồng Thọ, pháp tự Thới An, hiệu Chơn Tánh, sinh tại làng Tân Phú Trung, quận Hóc Môn, tỉnh Gia Định, thuộc dòng Lâm Tế, phái Nguyên Thiều, đời thứ 40, Viện chủ chùa Phổ Hiền (Tp. HCM), viên tịch, thọ 74 tuổi, 52 tăng lạp (Tiểu Sử Chư Hòa thượng Tôn Sư, Môn đồ đệ tử Tổ đình Đông Hưng – Tổ đình Giác Nguyên phụng ấn cúng dường, bản lưu tại Thư viện Huệ Quang, Tp. HCM).

– Ngày 02 tháng 6 năm Ất Sửu, Đại đức Nhựt Định – Quảng Tấn (1945-1985), thế danh Nguyễn Văn Rô, húy Nhựt Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, khai sáng trụ trì chùa Linh Thiên (Đức Hòa, Long An), thị tịch, trụ thế 41 năm.

– Ngày 14 tháng 6 năm Ất Sửu, Hòa thượng Tâm Chơn – Huệ Khai (1902-1985), thế danh Trần Trấp, pháp danh Tâm Chơn, tự Thiện Đạo, hiệu Huệ Khai, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Tăng Quang (Quy Nhơn – Bình Định), viên tịch, thọ 84 tuổi.

– Ngày 17 tháng 7 năm Ất Sửu, Hòa thượng Đồng Chí – Bảo Huệ (1935-1985) thế danh Nguyễn Đình Khả, pháp danh Đồng Chí, tự Thanh Minh, hiệu Bảo Huệ, sinh tại xã Bình Triều, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, trụ trì chùa Long Thọ (Long Khánh), thị tịch, hưởng dương 51 tuổi.

– Ngày 21 tháng 8, Hòa thượng Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) Phó Chủ tịch HĐTS TW, dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao GHPGVN đi thăm Hội Phật giáo Châu Á vì Hòa Bình (ABCP), các Hội Phật giáo Mông Cổ, Liên Xô (BNSPGGĐ-SG).

– Ngày 26 tháng 8 (nhằm ngày 11 – 7 – Ất Sửu), Hòa thượng Nguyên Tuyết – Như Ý (1908-1985) thế danh Phan Thanh Nhãn, pháp danh Nguyên Tuyết, chánh quán làng Diên Đại, xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, trụ trì chùa Tra Am (Huế), viên tịch, thọ 77 tuổi, 58 tuổi đạo.

– Ngày 28 tháng 12 năm Ất Sửu, Hòa thượng Quảng Khai – Thiện Tràng (1910-1985), thế danh Võ Văn Huê, pháp danh Quảng Khai, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 45, trụ trì chùa Long Minh (Thủ Dầu Một, Bình Dương), viên tịch, thọ 76 tuổi.

– Hòa thượng Tâm Tuệ – Thiện Giải (1930-1985) thế danh Võ Trọng Song, pháp danh Tâm Tuệ, tự Thiện Giải, sinh tại làng Thần Phù, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Phước Huệ (Bảo Lộc), thị tịch, hưởng dương 55 tuổi, 29 hạ lạp.

– Hòa thượng Phát Huệ (1917-2008) được cung thỉnh làm Trưởng BTS Tỉnh hội Phật giáo Vĩnh Long.

– Thượng tọa Chơn Phát – Long Tôn (1931-?) khai giới đàn tại chùa Long Tuyền (Quảng Nam) và ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu.

– Đại đức Đồng Đức – Bích Thiên (1958-?) kế thế trụ trì chùa Sơn Long ở núi Trường Úc, thôn Thuận Nghi, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Ninh, trấn Bình Định.

– Hòa thượng Thị Huệ – Bảo An (1914-?) được mời làm Thành viên BTS GHPGVN tỉnh Nghĩa Bình, Trưởng ban Nghi Lễ và kiểm soát Tăng Ni, Phật tử khóa II.

– Thượng tọa Thị Tín – Phước Trí (1920-2002) kế thế trụ trì chùa Từ Quang trên núi Bạch Thạch, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

– Đầu năm này, Hòa thượng Tâm Quang – Chánh Pháp (1913-1985) thăm viếng các Tổ đình : Báo Quốc, Từ Đàm, Trúc Lâm và các chùa Hồng Ân, Diệu Đức, Tháp Yết Ma, Tổ đình Tường Vân,…và có lời sách tấn đại chúng tu học.

– Thượng tọa Bổn Nam – Huệ Minh (1925-2002) về chùa Khánh An nay tại số 204, tổ 7, ấp 1A, xã Long Sơn, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, hoằng hóa.

– Thượng tọa Nguyên Thạnh – Chơn Trí được suy cử làm Phó BTS thường trực Tỉnh hội Phật giáo Tiền Giang, 2 nhiệm kỳ (1985-1991).

– Giáo thọ Giác Ngộ – Nhơn Từ (?-1985), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, trụ trì chùa Bửu Long (Châu Thành – Tiền Giang), viên tịch.

– Hòa thượng Hồng Thanh – Thiện Tài (1913-1985), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 40, trụ trì chùa Bửu Lâm (Đồng Tháp), viên tịch, trụ thế 72 năm.

– Hòa thượng Quảng Thọ – Lệ Hương (1902-1985) họ Trần, húy Đình Phúc, pháp danh Lệ Hương, tự Quảng Thọ, hiệu Vĩnh Hưng, sinh tại thôn Trung Đức, xã Quy Đức, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 42, Tổ khai sơn chùa Đức Quang (Bố Trạch, Quảng Bình), viên tịch, thọ 83 tuổi, 43 hạ lạp.

01/01/1986

Năm 1986 (Bính Dần – PL.2530)

Năm 1986 (Bính Dần – PL.2530)

– Ngày 19 tháng 2 năm Bính Dần, Hòa thượng Nguyên Bình – Minh Cảnh (1906-1986) thế danh Trần Bình An, pháp danh Nguyên Bình, hiệu Minh Cảnh, sinh tại làng Đại Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, trụ trì Tổ đình Linh Quang (Lâm Đồng), viên tịch, thọ 80 tuổi, 37 hạ lạp.

– Ngày 06 tháng 3, Tu viện Chơn Không  (Núi Lớn – Vũng Tàu) tháo dỡ, chuyển dời về Thiền viện Thường Chiếu. Đến ngày 18 tháng 3 năm Bính Dần, Tăng Ni và Phật tử Tu viện Chơn Không (Núi Lớn – Vũng Tàu) cung tiễn Hòa thượng Thích Thanh Từ (1924-?) hạ sơn, về an trụ tại thiền viện Thường Chiếu (Đồng Nai). Ngày 15 tháng 4 năm Bính Dần, Lễ khánh thành chánh điện Thiền viện này, Thiền sư Nhật Quang được Hòa thượng Viện chủ Thích Thanh Từ giao nhiệm vụ trụ trì Thiền viện Thường Chiếu tại ấp 1C, xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

– Ngày 15 tháng 3 năm Bính Dần, Ni sư Nhật Liên – Trí Phát (1922-1986) thế danh Nguyễn Thị Kim, pháp danh Nhật Liên, hiệu Trí Phát, sinh tại tỉnh Định Tường, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Từ Hạnh (Sài Gòn), viên tịch, thọ 65 tuổi, 35 hạ lạp.

– Ngày 01 tháng 7 (nhằm ngày 25 – 5 – Bính Dần), Hòa thượng Lệ Quang – Thiện Thành (1903-1986), thế danh Bùi Ngươn Khánh, pháp danh Lệ Quang, tự Thành Tựu, hiệu Thiện Thành, sinh tại làng Nhơn Thạnh Trung, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 42, trụ trì chùa Giác Sanh (TP. HCM), viên tịch, thọ 84 tuổi, 34 tuổi đạo.

– Ngày 29 tháng 6 năm Bính Dần, Hòa thượng Chơn Truyền – Thiện Từ (1906-1986), thế danh Nguyễn Văn Muồi, húy Chơn Truyền,  thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 40, trụ trì chùa Khải Phước (Tân Trụ, Long An), viên tịch, thọ 81 tuổi.

– Ngày 24 tháng 7 năm Bính Dần, Hòa thượng Hồng Từ – Thiện Lợi (1909-1986), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Linh Sơn (Cần Giuộc, Long An), viên tịch, thọ 78 tuổi.

– Ngày 02 tháng 9 năm Bính Dần, Ni trưởng Đồng Chánh – Tịnh Như (1923-1986) thế danh Đỗ Thị Bạch Tuyết, pháp danh Đồng Chánh, tự Thông Huệ, hiệu Tịnh Như, sinh tại làng Tam Bình, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, Tổ khai sơn chùa Linh Thứu (Mỹ Tho), viên tịch, thọ 62 tuổi, 40 hạ lạp.

– Ngày 17 tháng 10 (nhằm ngày 14 – 9 – Bính Dần), Hòa thượng Chơn Miên – Trí Hưng (1908-1986) thế danh Nguyễn Tăng, pháp danh Chơn Miên, tự Đạo Long, hiệu Trí Hưng, sinh tại làng Thạch Trụ, xã Mỹ Đức, quận Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc dòng thiền Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì chùa Thiền Lâm (quận 6, Tp.HCM), nguyên Phó Tăng Thống GHPGVNTN, viên tịch, thọ 79 tuổi, 57 tuổi hạ.   – Ngày 03 tháng 11 năm Bính Dần, Hòa thượng Lệ Diệu – Thiện Chánh (1933-1986), thế danh Nguyễn Văn Diệu (?), húy Lệ Diệu, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 42, trụ trì chùa Linh Phước (Long An), viên tịch, trụ thế 54 năm.

– Ngày 13 tháng 12 năm Bính Dần, Ni trưởng Đồng Độ – Tịnh Khiết (1920-1986) thế danh Tống Thị Tiếp, pháp danh Đồng Độ, tự Thông Chúng, hiệu Tịnh Khiết, sinh tại miền Bắc Việt Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, trụ trì chùa Kim Liên (TP. HCM), viên tịch, thọ 66 tuổi, 40 hạ lạp.

– Ni trưởng Trừng Hảo – Diệu Không (1905-1997) đứng ra trùng tu chùa Đông Thuyền ở tỉnh Thừa Thiên Huế.

– Hòa thượng Tâm Niệm – Từ Ý (1919-1990) khai sơn xây dựng chùa Phước Quang tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

– Hòa thượng Tâm Hoa – Minh Đạo (1913-1998) được suy cử làm Cố vấn chứng minh BTS Phật giáo tỉnh Bình Thuận (1986-1998).

– Hòa thượng Thanh Thiện – Đức Nhuận (1897-1993) chính thức về trụ trì Tổ đình Hồng Phúc (H e Nhai). Đây là chốn Tổ của thiền phái Tào Động ở miền Bắc.

– Hòa thượng Như Long – Huyền Tế (1905-1986) pháp danh Như Long, hiệu Huyền Tế, sinh tại làng Sung Tích, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc Tông Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, viên tịch, thọ 81 tuổi, 56 hạ lạp.

– Hòa thượng Chơn Ngọc – Long Trí (1928-1998) cho tái sinh hoạt Gia đình Phật tử Quảng Nam.

– Hòa thượng Như Cảnh – Kim Thiền (1906-1986) thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 41, trụ trì chùa Khánh Sơn (Bình Hòa, Tuy Hòa), viên tịch, thọ 81 tuổi.

– Đại đức Đồng Biện – Ấn Chơn (1950-?) kế thế trụ trì Tổ đình Khánh Sơn tại thôn Thanh Đức, xã Bình Kiến, TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

– Thượng tọa Viên Khánh – Thông Bửu (1936-2007) khai sơn chùa Quảng Đức tại Madagui, huyện Đạ Oai, tỉnh Lâm Đồng.

– Hòa thượng Nguyên Tánh – Đức Tâm (1928-1988) được suy cử chức vụ Phó Trưởng BTS GHPGVN tỉnh Thừa Thiên Huế.

– Hòa thượng Trí Thắng – Đồng Huy (1919-2010) được cung thỉnh làm Phó BTS Phật giáo tỉnh Đồng Nai kiêm CĐD Phật giáo huyện Châu Thành.

– Hòa thượng Chơn Tảo – Nhựt Minh (1908-1993) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho đàn giới pháp chùa Linh Sơn, phường Cầu Muối, quận 1, TP. HCM.

– Bảo tháp Hòa thượng Tâm Như – Trí Thủ (1909-1984) tại chùa Quảng Hương Già Lam hiện ở số 498/11, đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp, Tp. HCM, xây dựng hoàn thành.

– Ni sư Quảng Tâm thành lập Thiền đường Liễu Quán II tại núi Dinh, xã Tân Hòa, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Ni sư Nguyên Trang – Hạnh Nghiêm (1935-?) được Giáo hội bổ nhiệm trụ trì chùa Lộc Uyển nay tại số 408, đường Nguyễn Thái Học, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Đại đức Nhật Cao – Huệ Hiền (1955-2013) được suy cử giữ chức vụ Phó BTS kiêm Chánh thư ký Tỉnh hội Phật giáo Đồng Nai (từ khóa IV – V).

1984
01/01/1984

Năm 1984 (Giáp Tý – PL.2528)

Năm 1984 (Giáp Tý – PL.2528)

– Ngày 09 tháng 1 năm Giáp Tý, Ni trưởng Hồng Huệ – Diệu Ninh (1914-1984) thế danh Vương Thị Kiến, pháp danh Diệu Ninh, húy Hồng Huệ, hiệu Như Huệ, sinh tại xã Huyền Hội, quận Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Quản viện chùa Từ Nghiêm (TP. HCM), viên tịch, thọ 71 tuổi, 49 hạ lạp.

– Đầu năm 1984, Lệnh giải tỏa Tu viện Chơn Không (do Thiền sư Thích Thanh Từ khai sơn) tại Núi Lớn – Vũng Tàu được chính quyền sở tại ban hành (LSTTTPLTCT).

– Ngày 02 tháng 4 (nhằm ngày 02 – 3 – Giáp Tý), Hòa thượng Tâm Như – Trí Thủ (1909-1984) họ Nguyễn, húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, hiệu Trí Thủ, sinh tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc Tông Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, Tổ khai sáng tu viện Quảng Hương Già Lam (TP. HCM), Chủ Tịch HĐTS TƯ. GHPGVN, viên tịch, thọ 76 tuổi, 56 tuổi đạo. Những tác phẩm của Hòa thượng : Kinh Phổ Hiền, Mẹ Hiền Quan Âm, Kinh Vô Thường, Kinh A Di Đà (thơ), Pháp Môn Tịnh Độ, Nghi Thức Phật Đản, Tứ Phần Luật, Luật Tỳ-kheo, Nghi Thức Truyền Giới Tại Gia và Bồ Tát Thập Thiện, Để Trở Thành Người Phật Tử, Kinh Bất Tăng Bất Giảm, Thường Bất Khinh Bồ Tát, Phát Bồ Đề Tâm, Thử Vạch Qui Chế Đào Tạo Tăng Tài, Nghi Thức Tụng Niệm Hằng Ngày của giới Phật Tử, Điều Căn Bản Cho Giới Phật Tử Mới Quy Y …(TSDTVN).

– Ngày 13 tháng 4 (nhằm ngày 13 – 3 – Giáp Tý), Hòa thượng Tâm Tuệ – Thanh Trí (1919-1984) thế danh Hồ Văn Liêu, húy Tâm Tuệ, hiệu Thanh Trí, sinh tại làng Phước Yên, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì Tổ đình Báo Quốc (Huế), viên tịch, thọ 66 tuổi, 36 hạ lạp.

– Ngày 07 tháng 5, Hòa thượng Ngộ Trí – Huệ Hưng (1917-1990) được cung thỉnh làm Yết Ma, Hòa thượng Từ Nhơn làm Giáo thọ, Hòa thượng Nhật Lệ làm Đệ tam tôn chứng, Thượng tọa Minh Thành làm Đệ thất tôn chứng cho giới đàn chùa Ấn Quang, quận 10, TP. HCM (BNSGĐTVN).

Ngày 24 tháng 7 năm Giáp Tý, Thiền sư Trừng Tâm – Thiện Ngọc (1911-1984) thuộc Tông Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì chùa Thiên Phước (Thủ Đức, Gia Định), viên tịch, thọ 74 tuổi.

– Ngày 18 tháng 9 (nhằm ngày 23 – 8 – Giáp Tý), Hòa thượng Thanh Giới – Thiện Tường (1917-1984) thế danh Ngô Văn Phải, pháp danh Thanh Giới, tự Chơn Như, hiệu Thiện Tường, thuộc dòng Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, hoằng hóa ở Tổ đình Giác Nguyên (quận 4, Tp. HCM), viên tịch, thọ 68 tuổi, 46 năm hành đạo.

– Ngày 10 tháng 10, Hòa thượng Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012) làm Trưởng đoàn cùng Hòa thượng Thiện Hào (Phó đoàn), các vị Phạm Quang Hiệu,…đại diện PGVN đi dự Hội nghị Quốc tế về “Đạo Phật và các nền văn hóa dân tộc” tổ chức tại Ấn Độ từ ngày 10 – 10 đến ngày 15 – 10 – 1984 (BNSPGGĐ-SG).

– Ngày 01 tháng 10 năm Giáp Tý, Hòa thượng Thích Huệ Quang (1903-1984), thế danh Phan Văn Thanh, quê ở xã Trung Nhứt, huyện Thốt Nốt, tỉnh An Giang, thuộc thiền phái Lâm Tế Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì Tổ đình Phổ Quang (Thốt Nốt – An Giang), viên tịch, thọ 81 tuổi, 63 hạ lạp. Những  tác phẩm dịch thuật của Hòa thượng : Kinh Đại Phương Tiện Báo Ân, Kinh Địa Tạng, Kinh Quy Ngươn, Long Thơ Tịnh Độ ,và biên soạn Nghi Lễ Phật Giáo, Phương Pháp Sám Hối, Bổn Phận

Người Phật Tử Tại Gia,…

– Ngày 29 tháng 10 năm Giáp Tý, Hòa thượng Phước Bình –  Hành Trụ (1904-1984) thế danh Lê An, pháp danh Thị An, tự Hành Trụ, hiệu Phước Bình, sinh tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, thuộc Tông Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì Tổ đình Đông Hưng (Tp. HCM), viên tịch, thọ 80 tuổi, 59 hạ lạp. Theo TSDTVN ghi : Ngài có công đức lớn trong nhiệm vụ giáo dục đào tạo nhiều thế hệ Tăng tài và truyền thừa chính pháp qua việc phiên dịch, ấn hành nhiều kinh luật phổ biến với các tác phẩm để lại : Sa Di Luật Giải, Qui Sơn Cảnh Sách, Tứ Phần Giới Bổn Như Thích, Phạm Võng Bồ-Tát Giới, Kinh A-di-đà Sớ Sao, Kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên, Kinh Hiền Nhân, Kinh Trừ Khủng Tai Hoạn, Tỳ-kheo Giới Kinh, Khuyến Phát Bồđề Tâm Văn, Long Thơ Tịnh Độ, Sơ Đẳng Phật Học Giáo Khoa Thư, Nghi Thức Lễ Sám, Kinh Thi-ca-la-việt, Sự Tích Phật Giáng Thế.

– Ngày 07 tháng 12 năm Giáp Tý, Hòa thượng Như Chánh –  Huyền Tấn (1911-1984) thế danh Lê Nghiêm, pháp danh Như Chánh, hiệu Huyền Tấn, sinh tại làng Mỹ Lai, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc Tông Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, nguyên trụ trì Tổ đình Thiên Ấn (Quảng Ngãi), viên tịch, thọ 73 tuổi, 50 hạ lạp.

– Hòa thượng Ngộ Trí – Huệ Hưng (1917-1990) được cử giữ chức Hiệu Phó kiêm giảng viên trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam cơ sở 2 ở quận Phú Nhuận, Tp. HCM.

– Thượng tọa Đồng Điển – Thông Kinh  kế thế trụ trì chùa Đông Hưng tại Thủ Thiêm, Sài Gòn.

– Ni trưởng Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Ni giới, giới đàn Thiện Hòa tại chùa Từ Nghiêm thuộc quận 10, Tp. HCM.

– Thượng tọa Nguyên Tánh – Đức Tâm (1928-1988) được Giáo hội và Môn đồ suy cử làm trụ trì chùa Báo Quốc tọa lạc trên đồi Hàm Long, đường Báo Quốc, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

– Hòa thượng Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được cử giữ chức Phó Hiệu trưởng và Giáo thọ Trường Cao Cấp Phật học Việt Nam tại Thiền viện Vạn Hạnh – TP. HCM (1984-1988). Cũng năm này, Hòa thượng được suy cử chức vụ Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS GHPGVN.

1983
01/01/1983

Năm 1983 (Tân Hợi – PL.2527)

Năm 1983 (Tân Hợi – PL.2527)

– Ngày 17 tháng 1, Hòa thượng Hồng Nam – Huyền Không (1906-1983) thế danh Trần Đức Triêm, pháp danh Hồng Nam, tự Hương Mãn, hiệu Huyền Không, nguyên quán xã An Nhơn, tổng Bình Trung, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì Tổ đình Quốc Ân (Huế), viên tịch, thọ 77 tuổi, 45 hạ lạp.

– Ngày 06 tháng 3 (nhằm ngày 22 – 1 – Quý Hợi), Viện Phật học Vạn Hạnh ở quận Phú Nhuận, Tp. HCM tổ chức lễ giỗ lần thứ 10, ngày viên tịch cố Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1891-1973), Đệ nhất Tăng thống GHPGVNTN, Bổn sư của Hòa thượng Thích Minh Châu.

– Ngày 01 tháng 2 năm Quý Hợi, Hòa thượng Quảng Tờ – Thiện Đức (1912-1983), thế danh Trần Văn Tờ, húy Quảng Tờ, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 40, Tổ khai sơn chùa Phước Linh (Đức Hòa, Long An), viên tịch, trụ thế 72 năm.

– Ngày 03 tháng 2 năm Quý Hợi, Hòa thượng Nguyên Hương –  Tường Vân (1899-1983) thế danh Lê Quát, pháp danh Nguyên Hương, hiệu Tường Vân, sinh tại Hội An, đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận, thuộc dòng thiền Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 42, trụ trì T ng Lâm Vạn Thiện (Phan Thiết), viên tịch, thọ 84 tuổi, 44 hạ lạp.

– Tháng 4, Thiền sư Thích Thanh Từ (1924-?) ra thất, sau thời đóng cửa chuyên tu tại Thiền viện Thường Chiếu (Long Thành, Đồng Nai).

– Ngày 11 tháng 5 năm Quý Hợi, Hòa thượng Thích Chơn Từ (1914-1983), thế danh Trịnh Văn Thừ, thuộc dòng Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Phước Hưng (Cần Đước, Long An), viên tịch, thọ 65 tuổi.

– Ngày 06 tháng 6 năm Quý Hợi, Hòa thượng Quảng Trung – Hóa Sự (1899-1983), thế danh Mai Thiện Nghĩa, húy Quảng Trung, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh tông, đời thứ 45, trụ trì chùa Long An (Long An), viên tịch, thọ 85 tuổi.

– Ngày 15 tháng 7, Hòa thượng Hồng Hạnh – Vĩnh Đạt (1911-1987) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Phước Ân, huyện Thạnh Hưng, tỉnh Đồng Tháp.

– Ngày 26 tháng 9 (nhằm ngày 20 – 8 – Quý Hợi), Hòa thượng Tâm Lương – Diệu Hoằng (1914-1983) thế danh Nguyễn Lộc, pháp danh Tâm Lương, tự Diệu Hoằng, sinh tại làng Trung Kiên, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì Tổ đình Kim Quang (Huế), viên tịch, thọ 70 tuổi, 48 hạ lạp.

– Ngày 20 tháng 10 (nhằm ngày 15 – 9 – Quý Hợi), Lễ khánh thành chùa Bát Nhã tại thị xã Đà Nẵng, chùa do Thượng tọa  Đồng Chơn – Thông Niệm (1914-1990) trụ trì.

– Hòa thượng Giác Hòa – Bửu Lai (1901-1990) được cung thỉnh làm Chứng minh BTS kiêm Ủy viên Hoằng pháp của BTS Phật giáo tỉnh Hậu Giang và BĐD Phật giáo Thành phố Cần Thơ.

– Hòa thượng Hồng Diệp – Bửu Ngọc (1916-1994) được cung thỉnh làm Chứng minh BĐD Phật giáo huyện Thủ Đức, Tp. HCM.

– Hòa thượng Nguyên Chơn – Minh Tánh (1924-1995) được tăng ni suy cử làm Phó Ban thường trực Phật giáo tỉnh Long An.

– Hòa thượng Tâm Như – Trí Thủ (1909-11984) tham dự hội nghị các vị đứng đầu Phật giáo 5 nước Châu Á tổ chức tại thủ đô Vientain Lào. Cũng năm này, ngài được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ Tịch Ủy Ban TƯ MTTQVN (TSDTVN).

– Hòa thượng Thích Đắc Pháp (1938-2013) được đề cử làm Phó ban thường trực BTS Tỉnh hội Phật giáo Vĩnh Long và sau đó ngài làm Trưởng BTS các nhiệm kỳ II, III, IV, V và VI của Tỉnh hội.

– Thượng tọa Thị Khai – Đỗng Minh (1927-2005) được mời làm Thành viên Ban giáo dục Tăng Ni TƯ. GHPGVN.

Hòa thượng Như Hương – Huyền Tâm (1920-1991) được mời làm Ủy viên BTS Phật giáo tỉnh Thuận Hải kiêm CĐD Thị hội Phật giáo Thị xã Phan Rang.

– Thượng tọa Tâm Thanh – Chơn Nghiêm (1931-2004) khởi công xây dựng Vĩnh Minh tự viện tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

– Thượng tọa Thục Hải – Thiện Minh (1920-1992) trùng tu các chùa : Đức Long Cổ tự ở xã Tân Dương, huyện Lấp V , tỉnh Đồng Tháp; chùa Linh Phước ở xã Tân Khánh, thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp; chùa Linh Quang (Đồng Tháp, 1986).

– Chùa Từ Hiếu, TP. Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế mở giới đàn, Hòa thượng Trừng Nguyên – Đôn Hậu (1905-1992) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu.

– Đại đức Lệ Tư – Trí Hải (1943-2000) sáng lập chùa Liên Trì hiện tọa lạc tại số 122, ấp 1B, xã Long Khê, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, trên khu đất của gia tộc hiến cúng.

– Chùa Giác Nguyên nay tại số 146, đường Nguyễn An Ninh, khu phố 3, thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, trùng tu. Chùa trùng tu xây vách tường, lót gạch tàu, sửa mái ngói, tu sửa trai đường và tăng xá.

– Hòa thượng Quảng Hòa – Thiện Hiệp (1901-1983), thế danh Nguyễn Văn Khiêm, pháp danh Quảng H a, sinh tại làng Tương Bình Hiệp, Thủ Dầu Một, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 45, trụ trì chùa Long Quang (Thủ Dầu Một, Bình Dương), viên tịch, thọ 83 tuổi.

– Đại đức Chúc Long – Thiện Châu (1939-?) kế thế trụ trì chùa Phước An nay tại phường Phú Hòa, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

– Hòa thượng Quảng Khai – Thiện Tràng (1910-1985) được suy cử làm Phó BTS Phật giáo tỉnh Sông Bé.

– Hòa thượng Nhật Tinh – Trí Tấn (1906-1995) được suy cử làm Trưởng BTS Phật giáo tỉnh Sông Bé, ngài đảm nhiệm chức vụ này suốt 4 nhiệm kỳ (1983-1994).

– Hòa thượng Nhật Phú – Hoằng Phúc (1888-1992) được suy cử làm Cố vấn và Chứng minh cho BTS Tỉnh hội Long An.

– Đầu năm, Thiền viện Viên Chiếu thiên di tái thiết ở xã Phước Bình, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Thiền viện xây dựng các cơ sở như : chánh điện, thiền đường, nhà bếp, nhà kho, nhà khách cùng các liêu thất, tất cả làm bằng vật liệu thô sơ cây gỗ, ván, tole và lá (30 năm Viên Chiếu (1975-2007), NXB Tổng Hợp Tp. HCM 2007).

1982
01/01/1982

Năm 1982 (Nhâm Tuất – PL.2526)

Năm 1982 (Nhâm Tuất – PL.2526)

– Ngày 12 tháng 2 năm Nhâm Tuất, Ni trưởng Nhựt Trinh – Liễu Tánh (1916-1982) thế danh Lâm Tường Nguyên, pháp danh Nhựt Trinh, tự Phổ Tiết, hiệu Liễu Tánh, nguyên quán quận Cai Lậy, tỉnh Định Tường (Tiền Giang), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, Tổ khai sơn Phật Bửu Ni tự (Tiền Giang), viên tịch, thọ 66 tuổi, 46 hạ lạp.

– Ngày 05 tháng 3, Hòa thượng Thiện Hòa – Huệ Minh (?-1982), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 42, trụ trì chùa Vĩnh Hưng (Sóc Trăng), viên tịch, thọ 90 tuổi.

– Ngày 04 tháng 4 năm Nhâm Tuất, Hòa thượng Thích Giác Phước (1900-1982), thế danh Nguyễn Văn Lộc, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, Tổ khai sáng chùa Bình Phước (Tân Trụ, Long An), viên tịch, thọ 82 tuổi.

– Ngày 05 tháng 4 năm Nhâm Tuất, Hòa thượng Nhựt Phát – Huệ Tấn (?-1982), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Phước Lâm (Cần Đước – Long An), viên tịch.

– Ngày 11 tháng 6 (nhằm ngày 20 – 4 nhuận – Nhâm Tuất), Ni trưởng Không Luân – Thể Quán (1911-1982) thế danh Thái Thị Hậu, pháp danh Không Luân, hiệu Thể Quán, nguyên quán Quy Thiện, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 43, trụ trì Hoàng Mai tịnh thất (Huế), viên tịch, thọ 72 tuổi, 38 hạ lạp. Những  tác phẩm phiên dịch của Ni trưởng : Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Tỳ-kheo Ni Giới, Bồ-tát Giới; Truyện : Dấu Xe Muôn Thưở, Em Bé Dâng Hoa, Bóng Hạnh Phúc, Nét Đẹp Đông Phương (2 tập),…(HTCNVN, CTTĐPGTH).

– Tháng 6, Hòa thượng Nhựt Sáu – Từ Nhơn (1926-2013) được suy cử làm Phó BTS kiêm Trưởng Ban Tăng sự THPG Tp. HCM.

– Tháng 6, Thiền viện Phổ Chiếu tại ấp Tân Phú, thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, được thành lập,  thiền viện do Hòa thượng Thích Thanh Từ đặt tên (trùng tu năm 1992).

– Ngày 09 tháng 7 năm Nhâm Tuất, Thượng tọa Thích Thiện An (1910-1982), thế danh Võ Văn Hai, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, trụ trì chùa Thuận Phước (Cần Đước, Long An), viên tịch, trụ thế 72 năm.

– Ngày 27 tháng 7 năm Nhâm Tuất, Hòa thượng Hồng Tín – Thiện Đạt (1902-1982), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Bửu Long (Bến Lức, Long An), viên tịch, thọ 81 tuổi.

– Ngày 04 tháng 11 năm Nhâm Tuất, Hòa thượng Nhựt Tri – Từ Chánh (1915-1982), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Thiền Tông (Tân Thạnh, Long An), viên tịch, thọ 68 tuổi.

– Thượng tọa Như Minh – Pháp Chiếu (1935-2014) được suy cử làm Phó BTS Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng kiêm CĐD Phật giáo huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

– Hòa thượng Hồng Hạnh – Vĩnh Đạt (1911-1987) được cung thỉnh làm Trưởng BTS Tỉnh Hội (Phật giáo Bến Tre).

– Hòa thượng Ngộ Trí – Huệ Hưng (1917-1990) được đề cử giữ chức vụ Phó BTS THPG Tp.HCM (2 nhiệm kỳ I và II) kiêm Ủy Viên Giáo Dục Tăng Ni.

– Hòa thượng Hành Thiện – Hưng Từ (1911-1991) được suy tôn làm Cố vấn Chứng minh kiêm Ủy viên Tăng sự BTS Tỉnh Hội Phật Giáo Thuận Hải (cũ) và Bình Thuận sau này (1982-1991).

– Hòa thượng Nguyên Tánh – Đức Tâm (1828-1988) được đắc cử giữ chức vụ Phó BTS kiêm Ủy viên Giáo dục Tăng ni PGVN tỉnh Bình Trị Thiên liên tiếp 2 nhiệm kỳ.

Hòa thượng Nguyên Minh – Viên Quang (1921-1991) được BTS Tỉnh hội cử giữ chức trụ trì Tòng Lâm Vạn Thiện, đồng thời đảm nhiệm Ủy viên Nghi lễ, Ủy viên Giáo dục Tăng Ni và làm Phó BTS GHPGVN tỉnh Bình Thuận.

– Hòa thượng Hải Huệ – Trừng San (1922-1991) được đề cử giữ chức Ủy viên Tăng sự BTS Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Phú Khánh.

– Hòa thượng Hành Đạo – Phước Ninh (1915-1994) được cử trụ trì chùa Bảo Tịnh thuộc phường 3, thị xã Tuy Hòa. Đây là văn ph ng của Tỉnh hội Phật giáo Phú Yên. Ngài còn được Tỉnh Giáo hội cử giữ chức CĐD Phật giáo huyện Tuy An.

– Hòa thượng Tâm Như – Trí Thủ (1909-1984) dẫn đầu đoàn Đại biểu PGVN tham dự Đại hội lần thứ 6 của Tổ chức Phật giáo Châu Á vì Hòa Bình (ABCP) họp tại Mông Cổ.

– Thiền viện Liễu Đức tại ấp 1a, xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, được thành lập, do Ni sư Như Đạo trụ trì.

– Hòa thượng Trừng Chiếu – Từ Mãn (1918-2007) được Tăng ni và Phật tử suy cử làm Trưởng BTS THPG Lâm Đồng suốt sáu nhiệm kỳ (1982-2007).

– Hòa thượng Như Nhàn – Trí Giác (1915-2005) được thỉnh cử giữ chức vụ Trưởng ban Tăng sự GHPGVN tỉnh Quảng Nam. Cũng năm này, ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới Sadi tại chùa Pháp Bảo ở Hội An, Quảng Nam.

– Hòa thượng Hành Thiện – Phúc Hộ (1904-1985) được cung thỉnh làm Chứng minh đạo sư cho Phật giáo tỉnh Phú Khánh.

– Hòa thượng Hạnh Chí – Đỗng Hải (1920-1982) pháp danh Thị Đài, tự Hạnh Chí, hiệu Đỗng Hải, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì Tổ đình Thiền Lâm (TP. Phan Rang), viên tịch, thọ 63 tuổi, 36 tăng lạp.

– Đại đức Hạnh Trì – Đỗng Hoằng, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, kế thế trụ trì Tổ đình Thiền Lâm trên đồi Mai Quy, thuộc Tp. Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận (1982-1992).

– Hòa thượng Chơn Trung – Minh Đức (1902-1985) được cung thỉnh vào hàng giáo phẩm Chứng minh GHPGVN tỉnh Lâm Đồng.

– Sau mùa An Cư, Thiền sư Thích Thanh Từ (1924-?) nhập thất dài hạn tại Thiền viện Thường Chiếu thuộc xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

– Hòa thượng Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được cung thỉnh làm Trưởng BTS Phật giáo tỉnh Phú Khánh, 2 nhiệm kỳ (1982-1988).

– Ni sư Diệu Liên (?-1982), thuộc thiền phái Lâm Tế, Tổ khai sáng Quan Âm Ni Viện (Long Điền, Bà Rịa – Vũng Tàu), viên tịch.

– Hòa thượng Nguyên Phước – Quang Thể (1922-2005) được thỉnh giữ chức vụ Trưởng BTS GHPGVN tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (1982-1997). Đồng thời, ngài được suy cử làm Ủy viên HĐTS TƯ. GHPGVN.

– Thượng tọa Như Hảo – Quảng Tâm (1947-2010) được suy cử chức vụ Phó BĐD Phật giáo huyện Thủ Đức trong IV nhiệm kỳ (1981-1997).

– Hòa thượng Tâm Tuệ – Thanh Trí (1919-1984) được suy cử làm Trưởng BTS kiêm CĐD GHPGVN Tp. Huế.

– Hòa thượng Nguyên Bình – Minh Cảnh (1906-1986) được cung thỉnh vào hàng Giáo phẩm chứng minh kiêm Phó trưởng BTS và Trưởng Ban Tăng sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Lâm Đồng.

– Hòa thượng Nguyên Minh – Đức Thiệu (1911-1993) được cung thỉnh vào hàng Giáo phẩm Chứng minh kiêm Đặc ủy Tăng sự BTS tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng.

– Thượng tọa Tâm Trung – Chánh Trực (1931-1995) được mời làm Phó trưởng BTS Phật giáo tỉnh Bình Trị Thiên kiêm CĐD Phật giáo huyện Triệu Hải.

– Thượng tọa Giải Thâm – Kế Châu (1922-1996) được suy cử vào chức Trưởng BTS Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Nghĩa Bình.

– Hòa thượng Hồng Tín – Huệ Thành (1912-2001) được cử làm Trưởng BTS Phật giáo tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ I.

– Tịnh thất Hoa Quang thuộc thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, được Đại đức Tâm Mãn (1938-?) trụ trì, đại trùng tu xây dựng lại và đổi tên là chùa Sư Tử Hống. Chùa này tiếp tục trùng tu vào những năm : 1992, 2002.

– Hòa thượng Hồng Từ – Tịnh Tín, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, kế thế trụ trì Bửu Lâm Cổ tự tại thôn Phú Hội, Định Tường, nay là phường 3, Tp. Mỹ Tho (1982-1984).

Đại đức Nhựt Phước – Thiện Sanh, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, kế thế trụ trì chùa Phước Thạnh tại thị trấn Cái Bè – Tiền Giang.

– Hòa thượng Quảng Ninh – Từ Nghiêm (?-1982), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 45, trụ trì chùa Linh Phước (Châu Thành, Tiền Giang), viên tịch.

– Hòa thượng Thanh Đàm – Trí Dũng (1906-2001) được cung thỉnh làm Trưởng Sơn môn chùa Đồng Đắc, chùa Quảng Bá, chùa H e Nhai (ở miền Bắc).

– Hòa thượng Nguyên Chơn – Khế Hội (1921-1999) được suy cử làm Phó Trưởng BTS Phật giáo tỉnh Phú Yên.

1981
01/01/1981

Năm 1981 (Tân Dậu – PL.2525)

Năm 1981 (Tân Dậu – PL.2525)

– Ngày 13 tháng 2 năm Tân Dậu, Hòa thượng Hồng Phước – Huệ Thông (1900-1981), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Thới Bình (Cần Giuộc, Long An), viên tịch, trụ thế 82 năm.

– Ngày 07 tháng 3 năm Tân Dậu, Hòa thượng Tâm Hoàn – Huệ Long (1924-1981) thế danh Nguyễn Hướng, pháp danh Tâm Hoàn, hiệu Huệ Long, tự Giải Quy, sinh tại làng Phú Thành, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, thuộc Tông Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì Tổ đình Long Khánh (Bình Định), thị tịch, hưởng dương 58 tuổi, 38 tuổi đạo.

– Ngày 07 tháng 6 năm Tân Dậu, Hòa thượng Thị Bình – Diệu Khai (1908-1981) thế danh Bùi Xuân Thái, pháp danh Thị Bình, tự Diệu Khai, sinh tại làng Nam Phổ Trung, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì chùa Viên Thông (Hương Thủy – Huế), viên tịch, thọ 74 tuổi, 57 hạ lạp.

– Ngày 15 tháng 6 năm Tân Dậu, Đại đức Lệ Trưởng – Trí Minh (1951-1981), thế danh Lê Văn Trưởng, húy Lệ Trưởng, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 42, trụ trì chùa Linh Sơn (Đức Hòa, Long An), thị tịch, trụ thế 31 năm.

– Ngày 09 tháng 8, Hòa thượng Tâm Cảnh – Giác Hạnh (1880-1981) thế danh Nguyễn Đức Cử, pháp danh Tâm Cảnh, tự Thiện Duyên, quê tại làng Ái Tử, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì chùa Vạn Phước (Huế) viên tịch, thọ 102 tuổi, 72 hạ lạp.

– Ngày 03 tháng 9, Ni trưởng Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) được cung thỉnh làm Đàn chủ và Hòa thượng Đàn đầu giới đàn Kiều Đàm IV tại chùa Từ Nghiêm (quận 10, TP. HCM).

– Ngày 07 tháng 11, Hòa thượng Thanh Thiện – Đức Nhuận (1897-1993) được toàn thể đại biểu trong Hội nghị đại biểu Thống nhất PGVN tại chùa Quán Sứ – Hà Nội, nhất tâm cung thỉnh ngài vào ngôi vị Pháp Chủ GHPGVN. Hòa thượng thế danh là Phạm Đức Hạp, pháp danh Đức Nhuận, hiệu Thanh Thiện, sinh tại xã Hải Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Năm 1912, ngài xuất gia cầu pháp với sư Tổ Thanh Nghĩa trụ trì chùa Đồng Đắc (Ninh Bình), thuộc Thiền phái Tào Động. Năm 1940, ngài kế thế trụ trì chùa Đồng Đắc. Năm 1955, ngài được thỉnh giữ chức vụ Phó Hội trưởng Hội Phật giáo Việt Nam, đồng thời về trụ trì chùa Phổ Giác (Hà Nội). Năm 1956, Hòa thượng được bầu làm Phó BĐD Phật giáo Thủ Đô, rồi tiếp tục làm Trưởng BĐD Phật giáo Thủ Đô (1957). Từ năm 1979 – 1981, ngài luôn đảm nhiệm chức vụ Hội trưởng Hội Phật giáo Thống Nhất Việt Nam.

 Tại Hội nghị này chư vị tôn đức : Hòa thượng Thích Đôn Hậu (1905-1992) được suy tôn chức vụ Đệ Nhứt Phó Pháp Chủ kiêm Giám luật GHPGVN; Hòa thượng Thích Mật Hiển (1907-1992) được suy tôn lên chức vụ Phó Pháp Chủ HĐCM; Hòa thượng Thích Huệ Thành (1912-2001) được suy tôn lên ngôi vị Phó pháp chủ HĐCM. Hòa thượng Thích Trí Thủ (1909-11984)  được bầu làm Chủ Tịch HĐTS  TƯ. GHPGVN –  nhiệm kỳ I; các vị : Hòa thượng Thích Phúc Hộ (1904-1985), Hòa thượng Thích Hành Trụ (1904-1984), Hòa thượng Thích Thiện Tường (1917-1984), Hòa thượng Thích Giác Tánh (1911-1987), Hòa thượng Thích Hoằng Thông (1902-1988), Hòa thượng Thích Trí Nghiêm (1911-2003) được cung thỉnh làm thành viên HĐCM TƯ. GHPGVN tại Đại hội đại biểu thống nhất PGVN ở chùa Quán Sứ – Hà Nội (TSDTVN).

– Ngày 07 tháng 11, Hòa thượng Thích Thế Long (1909-1985) được cung thỉnh vào HĐCM và là Phó chủ tịch Thường trực HĐTS GHPGVN; Hòa thượng Thích Bửu Ý (1917-1996) được suy tôn làm Thành viên HĐCM kiêm Phó chủ tịch HĐTS GHPGVN (TSDTVN).

– Ngày 28 tháng 11 năm Tân Dậu, Hòa thượng Bổn Định – Huệ Pháp (?-1981), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, trụ trì chùa Long Nghĩa (Cần Đước, Long An), thị tịch, trụ thế 55 năm.

– Hòa thượng Trừng Chiếu – Từ Mãn (1918-2007) được suy cử vào Ủy viên HĐTS GHPGVN nhiệm kỳ I.

– Hòa thượng Thích Minh Luân (1903-2003) được suy tôn làm Thành viên HĐCM GHPGVN. Cũng năm này, Hòa thượng được suy cử làm Trưởng BTS PG tỉnh Hải Dương.

– Thượng tọa Chơn Ngọc – Long Trí (1928-1998) được mời làm Phó BTS Tỉnh hội Phật giáo và Phó Chủ tịch MTTQ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.

– Đại đức Đồng Huy – Quảng Tú kế thế trụ trì chùa Viên Thông dưới chân núi Ngự Bình, xã Thủy An, huyện Hương Thủy, TP. Huế.

– Hòa thượng Nhựt Sáu – Từ Nhơn (1926-2013) được suy cử giữ chức vụ Phó trưởng ban Thường trực Ban Tăng sự TƯ. GHPGVN.

– Hòa thượng Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012) được suy cử giữ chức Phó chủ tịch kiêm Tổng Thứ Ký GHPGVN, 3 nhiệm kỳ 1, 2, 3 (1981-1997).

– Hòa thượng Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được suy cử giữ chức vụ Trưởng Ban giáo dục Tăng Ni TƯ. GHPGVN.

– Ni sư Nhật Tường – Như Hòa (1923-2000) được suy cử làm Ủy viên HĐTS THPG TP. HCM.

– Thượng tọa Tâm Lượng – Từ Mẫn (1932-2007) được cử làm Phó BTS GHPG Đà Nẵng.

– Thượng tọa Quảng Hoa – Phổ Quang (?-1981), thuộc Thiền phái Lâm Tế, trụ trì chùa Phật Quang (Phan Thiết – Bình Thuận), viên tịch.

– Hòa thượng Tâm Lương – Diệu Hoằng (1914-1983) được cử về trụ trì Tổ đình Kim Quang (Huế).

– Thượng tọa Huyền Luận – Tâm Hướng (1923-1997) được cử làm CĐD Phật giáo quận 11, TP. HCM. Cũng năm này, ngài được sung chức vụ Phó Ban Nghi lễ TƯ. GHPGVN kiêm Trưởng ban Nghi lễ THPG TP. HCM.

– Ni sư Tâm Huyền – Chơn Thông (1934-1990) cúng trường Tiểu học Bồ Đề Lâm Tỳ Ni (Huế) để Giáo hội mở Tuệ Tĩnh đường.

– Hòa thượng Lệ Hòa – Thiện Nhu (1917-2003) về trụ trì chùa Hưng Phú tại phường 5, thị xã Tân An, tỉnh Long An.

– Tổ đình Báo Quốc, TP. Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế khai đại giới đàn, Hòa thượng Trừng Nguyên – Đôn Hậu (1905-1992) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Mật Hiển làm Yết Ma, Hòa thượng Hưng Dụng làm Đệ nhị tôn chứng (BNSGĐTVN).

– Hòa thượng Pháp chủ Thanh Thiện – Đức Nhuận (1897-1993) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Hoằng Ân (Quảng Bá), quận Tây Hồ, Hà Nội. Cũng năm này, ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Vĩnh Nghiêm, quận 3, TP. HCM.

– Thượng tọa Nguyên Phước – Minh Đức (1946-?) kế thế trụ trì chùa Long Khánh hiện tại số 141, đường Trần Cao Vân, phường Trần Hưng Đạo, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Thượng tọa Nhựt Tấn – Thiện Quang (1930-2008) đại trùng tu chánh điện chùa Thiền Đức hiện tại ấp Kinh Giữa, xã Nhơn Ninh, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An. Chùa làm lại bằng vật liệu kiên cố bê-tông cốt thép, vách tường, mái tôn xi-măng, nền đất. Năm 1995, chùa dựng đài Quan Âm; năm 2006, xây dựng nhà khách; năm 2009, trùng tu chánh điện.

– Ni sư Như Kỉnh (1942-?) khai sáng Tịnh thất Vạn An hiện tại số 118, ấp Bình Cang 1, xã Bình Thạnh, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

– Thượng tọa Lệ Hồng – Huệ Hà (1936-2009) được cử làm Phó trưởng ban Thường trực BTS Phật giáo tỉnh Minh Hải kiêm CĐD Phật giáo thị xã Bạc Liêu.

– Hòa thượng Nhật Tinh – Trí Tấn (1906-1995) được suy tôn làm thành viên HĐCM TW. GHPGVN, Ủy viên HĐTS TW. GHPGVN.

– Ni sư Như Châu (1931-?) được cung thỉnh về trụ trì chùa Giác Hoa nay tại số 10, đường Phạm Hồng Thái, phường 10, TP. Đà Lạt.

– Hòa thượng Thích Bổn Châu (1922-1995) được suy cử làm Phó trưởng BTS Tỉnh hội Phật giáo Kiên Giang, suốt 3 nhiệm kỳ (1981-1993).

– Sư cô Như Minh (1945-2014) được Hòa thượng Thanh Từ bổ xứ về trụ trì chùa Bửu Sơn (sau đổi hiệu là Thiền viện Tuệ Thông) tại núi Lớn, Tp. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Kỷ yếu Viên tịch Ni trưởng Thích nữ Như Minh (1945-2014), NXB Hồng Đức 2014).

– Hòa thượng Nguyên Chơn – Khế Hội (1921-1999) được suy cử làm Thành viên HĐTS TW. GHPGVN.

– Thượng tọa Tâm Cần – Chơn Ngộ (1913-2013) được suy cử giữ chức CĐD Phật giáo thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (1982-1987).

– Hòa thượng Quảng Y – Từ Hạnh (1927-1988) được suy cử giữ chức Phó Tổng Thư ký kiêm Chánh văn ph ng II T.Ư GHPGVN.

– Thượng tọa Lệ Sành – Huệ Sanh (1935-1998) được suy cử giữ chức Phó BTS THPG Tp. HCM.

1980
01/01/1980

Năm 1980 (Canh Thân – PL.2524)

Năm 1980 (Canh Thân – PL.2524)

– Ngày 16 tháng 2 (nhằm ngày 01 – 1 – Canh Thân), Hòa thượng Trừng Văn – Giác Nguyên (1877-1980) thế danh Đặng Văn Ngộ, pháp danh Trừng Văn, tự Chế Ngộ, hiệu Giác Nguyên, sinh tại làng Phủ Trung, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, thuộc Tông Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì chùa Tây Thiên (Huế), viên tịch, thọ 103 tuổi, 70 hạ lạp.

– Ngày 22 tháng 2 (nhằm ngày 15 – 1 – Canh Thân), Sa-di Chúc Phước – Quảng Chánh (?-1980), thế danh Lê Văn Trực, húy Chúc Phước, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 44, trụ trì chùa Phước Đức (Tân Trụ, Long An), viên tịch, thọ 82 tuổi.

– Ngày 25 tháng 2 năm Canh Thân, Hòa thượng Thích Quảng Thông (1923-1980), thế danh Nguyễn Văn Tánh, thuộc dòng Tế Thượng – Chánh Tông, đời thứ 44, trụ trì chùa Định Phước (Cần Đước, Long An), viên tịch, trụ thế 58 năm.

– Tháng 4, Hòa thượng Thích Thanh Từ thành lập Thiền viện Linh Chiếu tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (www.thuongchieu.net).

– Ngày 08 tháng 5 (nhằm ngày 24 – 3 – Canh Thân), Hòa thượng Như Vạn – Trí Phước (1930-1980) thế danh Trần Văn Chín, pháp danh Như Vạn, tự Giải Thọ, hiệu Trí Phước, sinh tại làng Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì Tổ đình Phước Lâm (Hội An, Quảng Nam), thị tịch, hưởng dương 51 tuổi.

– Ngày 12 tháng 7 năm Canh Thân, Thượng tọa Đồng Viên – Viên Đức (1932-1980) thế danh Phạm Văn Nghi, pháp danh Đồng Viên, tự Thông Lợi, hiệu Viên Đức, sinh tại làng Định Trung, xã An Định, quận Tuy An, tỉnh Phú Yên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, Tổ khai sơn chùa Dược Sư (Buôn Mê Thuột), thị tịch, trụ thế 49 năm, 24 hạ lạp.

– Ngày 09 tháng 9 năm Canh Thân, Hòa thượng Thích Thiện Thanh (1888-1980), thế danh Nguyễn Văn Tươi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, Tổ khai sáng chùa Tấn Bửu (Cần Đước, Long An), viên tịch, thọ 93 tuổi.

– Ngày 19 tháng 9, Hòa thượng Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012) làm Trưởng phái đoàn  PGVN dự Hội nghị Tăng-già Quốc tế, hội thảo và khánh thành chùa Hòa Bình tại Anh, do Trung Tâm Quốc gia Nhật Bản (ABCP) tổ chức (BNSPGGĐ-SG).

– Ngày 24, 25, 26 tháng 9, chùa Ấn Quang, quận 10, TP. HCM khai đại giới đàn Thiện Hòa, Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ (1904-1984) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Trí Thủ làm Đàn chủ, Hòa thượng Huệ Hưng làm Yết Ma, Hòa thượng Từ Nhơn làm Giáo thọ, Hòa thượng Thiện Tường làm Đệ nhất tôn chứng, Hòa thượng Quang Thể làm Đệ thất tôn chứng (BNSGĐTVN).

– Ngày 24 tháng 12 năm Canh Thân, Hòa thượng Thiện Thạnh – Hồng Trọng (1904-1980), thế danh Nguyễn Văn Vong, húy Thiện Thạnh, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, Tổ khai sơn chùa Long Nguyên (Đức Hòa, Long An), viên tịch, thọ 77 tuổi.

– Ngày 30 tháng 12 năm Canh Thân, Hòa thượng Tâm Vạn – Thiện Phước (1909-1980), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Thiên Khánh (Long An), viên tịch, thọ 72 tuổi.

– Hòa thượng Như Nhàn – Trí Giác (1915-2005) kế thế trụ trì Tổ đình Phước Lâm ở Hội An, Quảng Nam.

– Hòa thượng Thanh Thiện – Đức Nhuận (1897-1993) xin phép Nhà nước thành lập nghĩa trang cho tăng ni tại chùa Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội.

– Sách Thiền Tông Bản Hạnh (tên đầy đủ là Trần Triều Thiền Tôn Chỉ Nam Truyền Tâm Quốc Ngữ Hành) được Tu Thư Vạn Hạnh xuất bản.

– Thiền sư Thiện Phát được Hòa thượng Thanh Từ cử làm trụ trì Thiền viện Thường Chiếu nay thuộc ấp 1C, xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (1980-1985). Cũng năm này, Thiền sư Nhật Quang nhập thất một năm.

– Hòa thượng Tâm Bổn – Trí Nghiêm (1911-2003) dịch xong bộ kinh Đại Bát Nhã, gồm 24 tập (mỗi tập 25 quyển), 600 quyển. Ngài dịch từ nguyên bản Hán với 5 triệu chữ (5.000.000) của Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang, phải ròng rã suốt 8 năm (1972-1980) ngài mới dịch hoàn tất bộ kinh này.

– Đại đức Nguyên Cát – Thiện Tường (1946-2000) du phương hoằng pháp, ngài đến Hoa Kỳ trụ tại chùa Từ Quang.

– Thượng tọa Thiện Huệ (1909-?) kế thừa trụ trì chùa Thiên Khánh hiện tọa lạc tại số 48, đường Lưu Văn Tế, phường 4, TP. Tân An, tỉnh Long An.

– Hòa thượng Nhật Tinh – Trí Tấn (1906-1995) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Long Vân tại xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

– Giáo thọ Giác Lượng – Nhơn Hưng (?-1980), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, nguyên trụ trì chùa Bửu Long (Châu Thành – Tiền Giang), viên tịch tại chùa Vĩnh Tràng (Tiền Giang).

– Thượng tọa Hồng Khế – Chơn Như trụ trì chùa Tường Quang – Huế, khởi công khắc bản bộ Phật Thuyết Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh, do ngài tự tay khắc, đến năm 1982 thì hoàn thành.

– Hòa thượng Như Chất – Nhơn Trực (1886-1987) được suy cử làm thành viên HĐCM GHPGVN.

– Chùa Bửu Phong ở núi Bửu Long, Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở giới đàn, Hòa thượng Hồng Tín – Huệ Thành (1912-2001) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Thượng tọa Lệ Sành – Huệ Sanh làm Yết Ma.

1979
01/01/1979

Năm 1979 (Kỷ Mùi – PL.2523)

Năm 1979 (Kỷ Mùi – PL.2523)

– Ngày 02 tháng 2 (nhằm ngày 06 – 1 – Kỷ Mùi), Hòa thượng Trừng Thủy – Giác Nhiên (1877-1979) thế danh Võ Chí Thâm, pháp danh Trừng Thủy, hiệu Giác Nhiên, tự Chí Thâm, sinh tại làng Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc Tông Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì chùa Thuyền Tôn (Huế), nguyên Đệ nhị Tăng Thống GHPGVNTN, viên tịch, thọ 102 tuổi, 69 hạ lạp.

– Ngày 08 tháng 3 năm Kỷ Mùi, Hòa thượng Như Thọ – Huyền Tân (1911-1979) thế danh Lê Xuân Lộc, húy Như Thọ, tự Giải Thoát, hiệu Huyền Tân, sinh tại làng Văn Sơn, xã Văn Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, thuộc Tông Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Thiền Lâm (Ninh Sơn, Ninh Thuận) viên tịch, thọ 69 tuổi, 44 hạ lạp.

– Tháng 4, Được sự chứng minh của Hòa thượng Thích Thanh Từ, Ni trưởng Tịnh Khiết (1920-1986) thành lập Thiền viện Huệ Chiếu ở thị xã Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, và cắt cử Sư cô Khiết Minh làm trụ trì.

– Ngày 11 tháng 5 năm Kỷ Mùi, Hòa thượng Nhựt Na – Thiện An (1904-1979), thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 41, trụ trì chùa An Ninh (Dĩ An – Bình Dương), viên tịch, thọ 76 tuổi.

– Ngày 30 tháng 6 (nhằm ngày 07 – 6 – Kỷ Mùi), Hòa thượng Thanh Thao – Trí Hải (1906-1979) thế danh Đoàn Thanh Tảo, pháp danh Thanh Thao, hiệu Trí Hải, sinh tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, thuộc Thiền phái Tào Động, Tổ khai sáng chùa Phật Giáo (Hải Phòng), viên tịch, thọ 74 tuổi, 54 hạ lạp. Những tác phẩm của Hòa thượng có : Nhập Phật Nghi Tắc, Nghi Thức Tụng Niệm, Gia Đình Giáo Dục, Truyện Phật Thích Ca, Phật Học Ngụ Ngôn, Kinh Thập Thiện, Kinh Kiến Chính, Phật Học Phổ Thông, Phật Học Vấn Đáp, Đồng Nữ La Hán, Cái Hại Vàng Mã, Phật Hóa Tiểu Thuyết, Kinh Lục Độ Tập, Luận Quán Tâm, Khóa Hư Lục, Trúc Lâm Tôn Chỉ Nguyên Thanh, Nhân Gian Phật Giáo Đại Cương,…(TSDTVN).

– Ngày 24 tháng 10 (nhằm ngày 04 – 11 – Kỷ Mùi), Hòa thượng Như Đăng – Trí Độ (1894-1979) thế danh Lê Kim Ba, pháp danh Như Đăng, tự Giải Chiếu, hiệu Huyền Ý, sinh tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, hoằng hóa ở Tùng Lâm Quán Sứ (Hà Nội), viên tịch, thọ 85 tuổi, 47 năm hoằng dương đạo pháp. Hòa thượng được Nhà nước tặng thưởng : Huân chương Độc Lập hạng 2, Huân chương Kháng Chiến hạng 3 (theo sách CTTĐPGTH thì ngài thế danh là Nguyễn Kim Ba, pháp danh là Như Phước, tự Giải Tiềm) (LSTTTPLTCT).

– Ngày 08 tháng 11 năm Kỷ Mùi, Hòa thượng Hoằng Thông – Minh Thành (1901-1979), thế danh Dương Tái Nhựt, pháp danh Minh Thành, tự Nhựt Quang, hiệu Hoằng Thông, sinh tại xã Long Trung, Cai Lậy (Mỹ Tho – Định Tường), thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 41, Tổ khai sơn chùa Phật Nhựt (Bến Tre) viên tịch, thọ 79 tuổi.

– Ngày 29 tháng 11 năm Kỷ Mùi, Hòa thượng Như Từ – Tâm Đạt (1907-1979) thế danh Nguyễn Giốc, pháp danh Như Từ, sinh tại làng Trung Lý, xã Nhơn Phong, huyện Nhơn An, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Thiên Bình (Bình Định), viên tịch, thọ 73 tuổi.

– Thượng tọa Nhựt Sanh – Minh Thành (1937-2000) được cử làm Giám đốc Phật học viện Thiện Hòa và các cơ sở trực thuộc tại Ấn Quang, Giác Ngộ, Giác Sanh.

– Thượng tọa Thị Huệ – Bảo An (1914-?) được mời làm Phó Ban đặc cách giáo dục Tăng Ni GHPGVNTN tỉnh Nghĩa Bình, khóa I. Cũng năm này, ngài được cung cử làm Trưởng BĐD GHPGVNTN huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định (LSTTTPLTCT).

– Hòa thượng Đồng Kính – Thành Tín – Tín Quả (1891-1979) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, trụ trì chùa Hội Phước (Khánh Hòa), viên tịch, thọ 89 tuổi.

– Thượng tọa Hạnh Chí – Đỗng Hải (1920-1982) kế thế trụ trì Tổ đình Thiền Lâm trên đồi Mai Quy, thuộc TP. Phan Rang.

– Hòa thượng Như Thanh – Bửu Chí (1879-1979) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, Tổ khai sơn chùa Đông Hưng (Sài Gòn), viên tịch, thọ 101 tuổi.

– Hòa thượng Như Khiêm – Bửu Thanh (1912-1979), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì Tổ đình Thiên Tôn (Thuận An, Bình Dương), viên tịch, thọ 68 tuổi.

– Hòa thượng Thích Chí Niệm (?-1979) người làng Thành Công, tỉnh Thừa Thiên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, trụ trì chùa Từ Hiếu (Huế), viên tịch.

– Hòa thượng Tâm Như – Trí Thủ (1909-1984) soạn văn bia “Việt Nam Phật giáo Thống nhất Giáo hội Tăng thống bi minh”  và được dựng tại chùa Thuyền Tôn (Huế).

– Thượng tọa Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được Môn phái cử giữ chức trụ trì Tổ đình Thuyền Tôn ở núi Thiên Thai, nay  thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế.

– Hòa thượng Trí Ấn – Nhật Liên (1923-2010) được môn phái cử làm trụ trì Tổ đình Tây Thiên nay tại Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

– Hòa thượng Chơn Tảo – Nhật Minh (1908-1993) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Linh Sơn, phường Cầu Muối, quận 1, Tp. HCM.

– Hòa thượng Như Bình – Giải An (1914-2003) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn Nguyên Thiều tại Tổ đình Long Khánh, thị xã Qui Nhơn, tỉnh Nghĩa Bình.

– Đại đức Đức Tịnh – Thiện Giác (1937-2010) sáng lập chùa Phước Hưng hiện tại số 65, ấp Trung, xã Tân Hòa, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.

– Hòa thượng Thích Giác Minh (?-1991) thành lập Thanh Sơn Thiền viện tại núi Ông Trịnh, xã Tân Phước, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Đại đức Đồng Nhiên – Hành Đạo (?-1998) khai sơn xây dựng chùa Giác Hải nay tại Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Hòa thượng Quảng Ninh – Từ Nghiêm (1908-1979), thế danh Hồ Văn Khương, húy Quảng Ninh, sinh tại Mỹ Tho, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 45, trụ trì chùa Phước Tường (Lái Thiêu – Bình Dương), viên tịch, trụ thế 71 năm.

– Đại đức Nhuận Kiên – Nhật Cường (1951-?) kế thế trụ trì chùa Phước Tường hiện tại làng An Thạnh, Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương.

– Hòa thượng Nguyên Phi – Thiện An (1919-1979), hiệu Hoằng Minh, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, trụ trì chùa Tân Thạnh (Châu Thành, Tiền Giang), viên tịch, trụ thế 60 năm.

– Hòa thượng Quảng Ninh – Từ Nghiêm (?-1982) xây dựng lại chùa Linh Phước hiện tại xã Mỹ Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Hòa thượng Lệ Quang – Thiện Thành (1903-1986) kiến tạo bảo tháp Kim Cang chùa Giác Sanh nay tại số 103, đường Âu Cơ, phường 14, quận 11, TP. HCM.

1978
01/01/1978

Năm 1978 (Mậu Ngọ – PL.2522)

Năm 1978 (Mậu Ngọ – PL.2522)

– Ngày 07 tháng 2 (nhằm ngày 01 – 1 – Mậu Ngọ), Hòa thượng Tâm Lợi – Thiện Hòa (1907-1978), thế danh Hứa Khắc Lợi, pháp danh Tâm Lợi, hiệu Thiện H a, sinh tại làng Tân Nhựt, Chợ Lớn, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 43, Phó Tăng Thống GHPGVNTN, trụ trì chùa Ấn Quang (Tp. HCM), viên tịch, thọ 72 tuổi, 43 năm hóa đạo. Những tác phẩm của Hòa thượng có : Tài Liệu Trụ Trì, Giới Đàn Tăng, Tỳ-kheo Giới Kinh, Nghi Thức Hằng Thuận Quy Y, Ý Nghĩa Về Nghi Thức Tụng Niệm, Nhân Duyên Phật Kiết Giới (TSDTVN).

– Ngày 20 tháng 3 năm Mậu Ngọ, Hòa thượng Hồng Phước – Bửu Lộc (1900-1978), thế danh Nguyễn Văn Tường, húy Hồng Phước, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Tổ khai sơn chùa Linh Pháp (Đức Hòa, Long An), viên tịch, thọ 79 tuổi.

Ngày 20 tháng 5 (nhằm ngày 14 – 4 – Mậu Ngọ), Thượng tọa Thích Chơn Hương về trụ trì chùa Quảng Tế tại xã Dương Xuân, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

– Ngày 05 tháng 5 năm Mậu Ngọ, Hòa thượng Thị Trung – Hạnh Trực (1906-1978), thế danh Nguyễn Tửu, pháp danh Thị Trung, tự Hạnh Trực, sinh tại Câu, Duy Xuyên, Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì Tổ đình Vạn Đức (Hội An, Quảng Nam), viên tịch, thọ 73 tuổi.

– Ngày 13 tháng 8, Hòa thượng Ngộ Trí – Huệ Hưng (1917-1990) được cung thỉnh làm Yết Ma, Hòa thượng Thiện Tường, Hòa thượng Huyền Quí làm Giáo thọ, Hòa thượng Nhựt Minh làm Đệ nhất tôn chứng cho giới đàn chùa Giác Sanh, quận 11, TP. HCM.

– Ngày 13 tháng 8 năm Mậu Ngọ, Hòa thượng Đồng Kỉnh – Tín Quả (1891-1978), thế danh Đinh Văn Phải, húy Đồng Kỉnh, tự Thành Tín, hiệu Tín Quả, quê ở xã Hòa Thắng, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, thuộc Tông Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, viên tịch tại chùa Long Sơn (Nha Trang), thọ 87 tuổi, 67 tuổi đạo. Sinh tiền, Hòa thượng đã xây dựng và kiến tạo 5 ngôi chùa ở tỉnh Khánh Hòa : Thiền Lâm (Đồng Đế, 1967), Long Hoa (Vạn Ninh, 1960), Phước Điền (Diên Khánh, 1970), Bảo Hoa (Ninh Hòa, 1971), Châu Long (Vạn Ninh, 1974).

– Ngày 05 tháng 9 năm Mậu Ngọ, Thượng tọa Đồng Dục – Chí Thành (1910-1978 ?), thế danh Phan Hãn, pháp danh Đồng Dục, tự Minh Thành, hiệu Chí Thành, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, trụ trì chùa Phú Thọ (Quy Nhơn, Bình Định), viên tịch, thọ 68 tuổi.

– Ngày 15 tháng 9 năm Mậu Ngọ, Hòa thượng Tâm Thị – Thiện Minh (1922-1978) họ Đỗ, húy Xuân Hàng, pháp danh Tâm Thị, tự Thiện Minh, hiệu Trí Nghiễm, sinh tại làng Bích Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, Cố vấn Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, thị tịch, trụ thế 55 năm, 29 hạ lạp.

– Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Ngọ, Hòa thượng Nhựt Hiếu – Thiện Bửu (1911-1978), thế danh Võ Văn Hiếu, húy Nhựt Hiếu, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Thiền Bửu (Tân Thạnh, Long An), viên tịch, thọ 68 tuổi.

– Ngày 23 tháng 12 năm Mậu Ngọ, Thượng tọa Thích Thiện Lợi (1907-1978), thế danh Hồ Văn Tài, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 43, Tổ sáng lập chùa Cửu Long (Tân Trụ, Long An), viên tịch, thọ 72 tuổi.

– Hòa thượng Giải Trừng – Hồng Ân (?-1978) pháp danh Giải Trừng, tự Như Nguyện, hiệu Hồng Ân, Tổ khai sơn chùa Quảng Ân (Tân Nghĩa – Bình Tuy), viên tịch.

– Hòa thượng Thích Bửu Lai (1901-1990) được cử giữ chức vụ Phó Chủ Tịch MTTQVN Tp. Cần Thơ,  liên tiếp trong 3 nhiệm kỳ (1978 – 1984).

– Đại đức Hạnh Thiền – Huệ Nghiêm (1930-?) kế thế trụ trì Tổ đình Vạn Đức ở Tp. Hội An, tỉnh Quảng Nam.

– Đại đức Chúc Thọ – Ấn Pháp (1941-?) kế thế trụ trì chùa Hội Phước nay thuộc TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

– Đại đức Thành Văn – Nguyên Ngôn (1938-2005) được Viện hóa đạo GHPGVNTN bổ nhiệm làm CĐD Phật giáo quận 10, TP. HCM.

– Thiền viện Viên Chiếu tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, khởi công xây dựng chánh điện.

– Ni sư Nhật Phiến – Trí Thanh (1925-2003) kế thế trụ trì chùa Bảo An tại TP. Cần Thơ.

– Thượng tọa Đức Tâm – Hải Tạng (1928-1988) được chư tôn đức trong sơn môn suy cử làm Trưởng môn phái Tổ đình Từ Hiếu nay tại xã Dương Xuân, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

– Đại đức Nguyên Đức – Minh Phát (1956-1996) được cử giữ chức Phó Giám đốc Đại Tòng Lâm Phật giáo ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Cũng năm này, Đại đức xây dựng chùa Viên Dung tại xã Linh Đông, huyện Thủ Đức trên phần đất do Phật tử Diệu Hạnh dâng cúng.

– Đại đức Nhật Cao – Huệ Hiền (1955-2013) được GHPG Cổ truyền Việt Nam bổ nhiệm trụ trì chùa Thanh Long hiện tại phường Trung Dũng, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

– Đại đức Lệ Sành – Huệ Sanh (1935-1998) cầu pháp với Hòa thượng Hồng Đạo – Bửu Ý, được ban Chánh pháp Nhãn tạng và phú pháp kệ như sau :

“Nhựt chiếu châu sa giới,

Sanh quang biến đại thiên,

Thiện khai huyền thật pháp,

Như tánh thị tâm thiền” (Kỷ yếu Trường hạ Tổ đình Giác Lâm, Trường Hương, Giới đàn phương trượng Huệ Sanh, Lưu hành nội bộ 2009).

1976
01/01/1976

Năm 1976 (Bính Thìn – PL.2520)

Năm 1976 (Bính Thìn – PL.2520), năm đầu thời CHXHCNVN.

– Ngày 14 tháng Giêng năm Bính Thìn, Hòa thượng Tâm Ấn – Viên Quang (1895-1976) thế danh Nguyễn Hữu Duy, pháp danh Tâm Ấn, tự Vĩnh Thừa, hiệu Viên Quang, nguyên quán thôn Đa Nghi, tổng An Nhơn, huyện Phong Điền, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế, Tổ khai sơn chùa Châu Lâm (Thuận Hóa, Huế), viên tịch, thọ 80 tuổi, 59 hạ lạp.

– Ngày 15 tháng 2 năm Bính Thìn, Hòa thượng Chơn Miên – Trí Hưng (1908-1986) khai mở trường Hương tại chùa Thiền Lâm (nay tại phường 13, quận 6, Tp. HCM), quy tụ hơn 100 giới tử từ các tỉnh về dự.

– Ngày 16 tháng 3 năm Bính Thìn, Hòa thượng Trừng Kệ – Tôn Thắng (1889-1976) thế danh Dương Văn Minh, pháp danh Trừng Kệ, tự Như Nhu, sinh tại làng Hà My, tổng Bích La, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, Tổ khai sơn chùa Phổ Đà (Đà Nẵng), viên tịch, thọ 87 tuổi, 53 hạ lạp.

– Ngày 24 tháng 5 năm Bính Thìn, Hòa thượng Tâm Thanh – Tịch Tràng (1909-1976) thế danh Hồ Thăng, pháp danh Tâm Thanh, hiệu Tịch Tràng, sinh tại làng Lỗ Giáng, xã Cẩm Lệ, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì Tổ đình Linh Sơn (Khánh Hòa), viên tịch, thọ 68 tuổi.

– Ngày 14 tháng 7 năm Bính Thìn, Hòa thượng Tâm Trí – Viên Giác (1912-1976) thế danh Trần Đại Quảng, pháp danh Tâm Trí, tự Viên Giác, hiệu Chiếu Nhiên, sinh tại làng Dương Nổ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, Tổ khai sơn chùa Giác Hải (Vạn Ninh, Khánh Hòa), viên tịch, thọ 65 tuổi, 27 hạ lạp. Những tác phẩm của Hòa thượng : Lương Hoàng Sám, 10 quyển, Đại Thừa Kim Cang kinh luận, Phẩm Phổ Môn, Quan Hệ Tư Tưởng, Tìm Hiểu Quán Thế Âm Bồ-tát, Lịch Sử Phong Cảnh Chùa Giác Hải, Khuyên Niệm Phật (thơ) (CTTĐPGTH).

– Ngày 01 tháng 09 năm Bính Thìn, Hòa thượng Hồng Thuộc – Thiện Ngươn (1887-1976), thế danh Nguyễn Văn Thuộc, húy Hồng Thuộc, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 40, trụ trì chùa Giác Nguyên (Cần Giuộc, Long An), viên tịch, thọ 90 tuổi.

– Ngày 28 tháng 9 năm Bính Thìn, Hòa thượng Hồng An – Huệ Long (1899-1976), thế danh Đỗ Văn Dạy, húy Hồng An, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Tổ khai sơn chùa Linh Bửu (Đức Hòa, Long An), viên tịch, thọ 78 tuổi.

– Ngày 09 tháng 9 năm Nhâm Thìn, Hòa thượng Hồng Lương – Tâm Hồng (1914-1976), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 40, Tổ khai sáng chùa Tân Long (Đức Hòa, Long An), viên tịch, thọ 63 tuổi.

– Hòa thượng Thích Thế Long (1909-1985) được giữ chức Phó chủ tịch Ủy Ban MTTQ tỉnh Hà Nam Ninh và là Đại biểu Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh (1976 – 1980).

– Hòa thượng Trừng Nguyện – Đôn Hậu (1905-1992) đắc cử Đại biểu Quốc hội khóa VI nước CHXH CNVN. Cũng trong năm này, Hòa thượng được mời giữ chức Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban TW MTTQVN.

– Hòa thượng Tâm Như – Trí Thủ (1909-11984) mở Đại giới đàn Quảng Đức ở chùa Ấn Quang nay thuộc quận 10, Tp. HCM và làm Đàn chủ.

– Đại đức Thị Bổn – Hồng Viên (1954-?) kế thế trụ trì Tổ đình Thắng Quang ở xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Đại đức Nguyên Hoằng – Thiện Dương kế thế trụ trì chùa Linh Sơn tại thôn Hiền Lương, xã Vạn Lương, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

– Thượng tọa Như Trạm – Tịch Chiếu (1912-?) được mời làm Phó ban liên lạc Phật giáo yêu nước tỉnh Bình Dương.

– Ni trưởng Hồng Tích – Diệu Kim (1908-1976) thế danh Trần Quý Tích, pháp danh Hồng Tích, tự Diệu Kim, sinh tại Cầu Kè, tỉnh Vĩnh Bình (Trà Vinh), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Tổ khai sơn chùa Bảo An (Cần Thơ), viên tịch, thọ 68 tuổi, 48 hạ lạp.

– Hòa thượng Trừng Kệ – Tôn Thắng (1889-1976) được cung thỉnh làm thành viên HĐCM TƯ. GHPGVNTN.

– Thượng tọa Tâm Lượng – Từ Mẫn (1932-2007) được Viện Hóa Đạo suy cử làm trụ trì chùa Phổ Đà (Đà Nẵng).

– Sư cô Hạnh Đạo (1943-2007) được GHPG tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cử làm trụ trì chùa Hòa Quang tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

– Đại đức Nguyên Đức – Minh Phát (1956-1996) được cử giữ chức Phó Tổng quản sự kiêm Tri khố Tổ đình Ấn Quang (TP. HCM). Cũng năm này, ngài nhậm chức trụ trì chùa Viên Giác tại quận Tân Bình, Tp. HCM.

– Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ (1904-1984) được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng, Hòa thượng Từ Nhơn làm Giới sư cho giới đàn tại chùa Ấn Quang, quận 10, TP. HCM.

– Đại đức Thích Đức Nghi (1947-?) sáng lập Tu viện An Lạc nay tại khu 3B, phường Lộc Sơn, thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (LSNNCTLĐ).

– Đại đức Quảng Thiện kế thế trụ trì Khánh Quới Cổ Tự nay tại xã Tân Bình, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

– Hòa thượng Thị Trung – Hạnh Trực (1906-1978) được bầu làm PĐD GHPGVNTN thị xã Hội An (Quảng Nam).

– Thượng tọa Quảng Lăng – Thiện Huê (1923-2002) khai sơn Tu viện Bát Nhã (nay tại thôn Vạn Hạnh, thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu).

– Đại đức Như Minh – Pháp Chiếu (1935-2014) kế thế trụ trì Tổ đình Sắc tứ Giác Nguyên nay tại thị trấn Dran, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

– Thượng tọa Nguyên Phước – Quang Thể (1922-2005) được thỉnh cử làm CĐD Tỉnh hội Phật giáo Quảng Nam – Đà Nẵng (1976-1977) (Tưởng Niệm Trưởng lão Hòa thượng Thích Quang Thể, NXB Văn Nghệ 2009).

NĂM 1977 (ĐINH TỴ – PL.2521)

– Ngày 25 tháng 1, Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ (1904-1984) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đường đầu, Hòa thượng Đôn Hậu làm Yết Ma, Hòa thượng Mật Hiển, Hòa thượng Thiện Tường làm Giáo thọ cho Đại giới đàn Quảng Đức tại chùa Ấn Quang, quận 10, TP. HCM.

– Ngày 02 tháng 4 năm Đinh Tỵ, Thượng tọa Thích Duy Lực (1923-2000) chính thức hoằng dương Tổ sư thiền tại chùa Từ Ân, đường Hùng Vương, quận 11, Chợ Lớn, TP. HCM.

– Ngày 12 tháng 7, Hòa thượng Nguyên Nhân – Giác Lễ (?-1977), thế danh Lê Nhân, húy Nguyên Nhân, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 42, Tổ khai sơn chùa Phước Lộc (Đức Hòa, Long An), viên tịch.

– Ngày 26 tháng 9, Ni trưởng Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) được cung thỉnh làm Đàn chủ và Hòa thượng Ni Đàn đầu giới đàn Kiều Đàm III tại chùa Từ Nghiêm (quận 10, TP. HCM).

– Ngày 22 tháng 11, Ni sư Nhựt Hoa – Như Khánh (1900-1977), thế danh Nguyễn Thị Cúc, húy Nhựt Hoa, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, Tổ khai sáng chùa Ân Thọ (Long An), viên tịch, thọ 77 tuổi.

– Ngày 26 tháng 12 (nhằm ngày 16 – 11 – Đinh Tỵ), Hòa thượng Bổn Đức – Thành Đạo (1906-1977), thế danh Trần Văn Đước, pháp danh Bổn Đức, hiệu Thành Đạo, sinh tại Bến Tre, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 40, Tổ khai sơn chùa Phật Ấn (Quận 1, TP. HCM), viên tịch, thọ 71 tuổi, 62 tuổi đạo.

– Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ (1904-1984) được cử giữ chức Tổng vụ trưởng Tổng Vụ Tăng Sự GHPGVNTN (1977 – 1981).

– Hòa thượng Trừng Nguyện – Đôn Hậu (1905-1992) được suy cử vào Hội Đồng Trưởng Lão và giữ chức vụ Chánh Thư ký Viện Tăng Thống, tại Đại hội kỳ VII của GHPGVNTN.

– Tổ đình Báo Quốc tại Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế mở giới đàn, Hòa thượng Trừng Nguyện – Đôn Hậu (1905-1992) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Mật Hiển làm Yết Ma, Hòa thượng Hưng Dụng làm Đệ nhị tôn chứng (BNSGĐTVN).

– Thượng tọa Viên Khánh – Thông Bửu (1936-2007) được cử giữ chức vụ Tổng vụ trưởng Tổng vụ cư sĩ GHPGVNTN (1977-1981).

– Chùa Trúc Lâm tại Huế dựng bia “Mật Nguyện tháp bi minh” do Pháp khế và học đồ cẩn chí.

– Thượng tọa Tâm Niệm – Từ Ý (1919-1990) nhận lãnh chức vụ CĐD Phật giáo huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

– Hòa thượng Trí Thắng – Đồng Huy (1919-2010) được cung thỉnh làm CĐD Phật giáo huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai.

Sư cô Hồng Cúc – Diệu Nghĩa (1908-1988) đại trùng tu chùa Linh Bửu nay tại số 228, ấp Bình Tây, xã Bình Trinh Đông, thị trấn Tân Trụ, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

– Thượng tọa Nhuận Cần – Thiện Phú (1921-1977), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 46, trụ trì chùa Đức Sơn (Thủ Dầu Một, Bình Dương), thị tịch, trụ thế 56 năm.

– Thượng tọa Thích Thiện Nghĩa (1921-?) kế thế trụ trì chùa Đức Sơn tại làng Hiệp Thành, Thủ Dầu Một (Bình Dương).

– Thượng tọa Hồng Lệ – Chơn Minh, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, kế thế trụ trì Bửu Lâm Cổ tự tại thôn Phú Hội, Định Tường, nay là phường 3, TP. Mỹ Tho (1977-1981).

– Hòa thượng Hồng Vật – Chơn Mỹ (?-1977), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 40, trụ trì chùa Giác Hải (quận 6, Tp. HCM), viên tịch.

– Thượng tọa Nhuận Đức – Chơn Huệ (1923-2012) khai sơn chùa Bửu Long nay thuộc huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

– Đại đức Không Phi – Trí Hải (1944-2014) được Hòa thượng Trí Tâm đề cử làm trụ trì chùa Phước Huệ nay tại phường Vĩnh Hải, Tp. Nha Trang.

1975
01/01/1975

Năm 1975

Ngày 21/8/1975, Đại hội Giáo hội PG Hoa tông Việt Nam được tổ chức, bầu ra Ban Chấp hành mới gồm: Chủ tịch: HT Thích Phước Quang; Phó Chủ tịch: HT Tăng Đức Bổn; Thư ký: Cư sĩ Vương Viên Lương và một số ủy viên.

Năm 1976, HT Thích Phước Quang được mời làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ban Liên lạc PG Yêu nước TP. Hồ Chí Minh – một tổ chức tiền đề cho việc thống nhất PG đi đến việc thành lập Giáo hội PG Việt Nam trong thời đại mới.

Ngày 07/08/1975, Ban Liên lạc PG Yêu nước TP. Hồ Chí Minh ra đời, HT Thích Minh Nguyệt với cương vị Chủ tịch, đã đứng ra kêu gọi thống nhất PG. Bên cạnh đó có HT Thích Trí Thủ – Viện trưởng Viện Hóa đạo Giáo hội PG Việt Nam Thống nhất và HT Thích Thế Long – Hội trưởng Hội PG Thống nhất Việt Nam; cả ba vị trưởng lão này cùng đứng lên kêu gọi Tăng, Ni, Phật tử trong cả nước tham dự ý tưởng thống nhất này. Ngày 12/02/1980, Ban Vận động Thống nhất PG Việt Nam được thành lập, HT Thích Trí Thủ được đề cử làm Trưởng ban. Sau hơn một năm tích cực vận động, ngày 04/11/1981, Đại hội đại biểu Thống nhất PG Việt Nam được khai mạc tại thủ đô Hà Nội có 165 đại biểu của 9 Giáo hội, hệ phái tham dự, đến ngày 7 thì bế mạc, khai sinh Giáo hội PG Việt Nam.

01/01/1975

Năm 1974 (Giáp Dần – PL.2516)

Năm 1974 (Giáp Dần – PL.2516)

– Ngày 08 tháng 1, Đức đệ nhị Tăng thống Trừng Thủy – Giác Nhiên (1877-1979) ban hành Giáo chỉ bổ nhiệm Hòa thượng Tâm Như – Trí Thủ làm Viện trưởng Viện Hóa đạo và cử Hòa thượng Tâm Lợi – Thiện Hòa làm Phó Tăng thống vĩnh viễn (BNSPGGĐ-SG).

– Ngày 01 tháng 3 năm Giáp Dần, Ni trưởng Trừng Thành – Hương Đạo (1905-1974) thế danh Phan Thị Huệ, pháp danh Trừng Thành, hiệu Kim Sa, tự Hương Đạo, sinh tại làng Phú Lương, xã An Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42,  Tổ khai sơn chùa Diệu Viên (Huế), viên tịch, thọ 69 tuổi, 49 hạ lạp.

– Ngày 06 tháng 4 năm Giáp Dần, Lễ khai giảng khóa II tại Thiền viện Linh Quang (Vũng Tàu), do Thiền sư Thích Thanh Từ (1924-?) hướng dẫn, có 18 thiền sinh tham dự.

– Ngày 07 tháng 4 năm Giáp Dần, Lễ khai giảng khóa II tại Tu viện Chơn Không (Vũng Tàu), do Thiền sư Thích Thanh Từ (1924-?) hướng dẫn, có 28 thiền sinh tham dự.

– Ngày 14 tháng 4 năm Giáp Dần, Hòa thượng Trừng Diên – Hưng Phước (1884-1974) thế danh Võ Văn Phước, pháp danh Trừng Diên, tự Vạn Sanh, hiệu Hưng Phước, sinh tại xã Diên Phước, huyện Bình Sơn, tổng Bình Trung, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, Tổ khai sơn chùa Từ Hóa (Thừa Thiên – Huế), viên tịch, thọ 90 tuổi.

– Ngày 30 tháng 4, Hòa thượng Thiên Hòa – Quang Phú (1921-1975) thế danh Đỗ Quang Phú, hiệu Thiên H a, sinh quán ở làng Bích Khê, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, trụ ở chùa Linh Sơn (Đà Lạt), thị tịch, hưởng dương 55 tuổi, 37 hạ lạp. Tác phẩm của Hòa thượng : Liễu Sanh Thoát Tử, Đại Cương Triết Học Phật Giáo.

– Tháng 5, Thiền sư Thích Duy Lực (1923-2000) thọ Tam đàn Cụ túc giới tại chùa Cực Lạc, Malaysia (Duy Lực Ngữ Lục).

– Tháng 7, Đại đức Như Hương – Viên Dung (1920-1991) khai sơn xây dựng chùa Bửu Vân tại phường Đô Vinh, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, dưới sự chứng minh của Hòa thượng Trí Thắng và Hòa thượng Huyền Tân. Chùa được hình thành do sự sùng đạo của Phật tử  thôn Nhơn Hội hiến cúng đất và cư sĩ Như Phụng (Huỳnh Thị Nhạn) cúng tài sản với 200 lượng vàng y.

– Ngày 05 tháng 10, Hòa thượng Nguyên Đồ – Quảng Ân (1891-1974) thế danh Lê Văn Bảy, pháp húy Nguyên Đồ, hiệu Quảng Ân, sinh tại xã Mỹ Phước, quận Bến Tranh, tỉnh Định Tường, thuộc dòng Thiền Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 44, trụ trì chùa Linh Phước (Tiền Giang), viên tịch, thọ 84 tuổi, 60 hạ lạp.

– Ngày 10 tháng 12 (nhằm ngày 27 – 10 – Giáp Dần), Hòa thượng Chơn Tá – Tôn Bảo (1895-1974) thế danh Phạm Nhữ Hựu, pháp danh Chơn Tá, tự Đạo Hóa, hiệu Tôn Bảo, sinh tại làng Hương Quế, tổng Hương Phú, quận Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì chùa Vu Lan (Đà Nẵng), viên tịch, thọ 80 tuổi, 60 hạ lạp.

– Ngày 27 tháng 12, Đại hội kỳ VI của GHPGVNTN, Hòa thượng Như An – Huyền Quang (1920-2008) được cung thỉnh vào chức vụ Phó viện trưởng Viện hóa đạo.

– Hòa thượng Đồng Kỉnh – Tín Quả (1891-1978) khai sơn chùa Châu Long ở huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

– Hòa thượng Quảng Châu – Hoằng Thông (1902-1988) được bầu làm Tăng trưởng Giáo Hội Lục Hòa Tăng tỉnh Định Tường (Tiền Giang).

– Hòa thượng Tâm Như – Trí Thủ (1909-11984) được suy cử làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo của GHPGVNTN.

– Hòa thượng Tâm Niệm – Từ Ý (1919-1990) khai sơn chùa Diệu Quang (tỉnh Quảng Tín), mời Ni sư Đồng An – Diệu Trí (1927-1992) về trụ trì.

– Hòa thượng Như Đăng – Trí Độ (1894-1979) mở lớp chuyên về “Nhị Khóa Hiệp Giải” tại Hà Nội.

– Đại đức Hạnh Huệ – Đỗng Minh (1927-2005) được cử giữ chức Phó viện trưởng Viện Cao Đẳng Phật học Hải Đức Nha Trang.

– Hòa thượng Như Thọ – Huyền Tân (1911-1979) được cung thỉnh vào Hội Đồng Giáo phẩm TƯ. Viện Tăng thống GHPGVNTN.

– Đại đức Thành Văn – Nguyên Ngôn (1938-2005) được Viện hóa đạo bổ nhiệm chức vụ Tổng thư ký Tổng vụ Hoằng pháp GHPGVNTN.

– Đầu mùa An Cư, Hòa thượng Thích Thanh Từ nhận lô đất 52 mẫu nay thuộc ấp 1C, xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, do Phật tử cúng dường, Hòa thượng cử thầy Đắc Huyền làm Tri sự Thiền trang (1974-1975). Tháng 10, Lễ an vị Phật, thiền viện Thường Chiếu ra đời.

– Hòa thượng Chơn Tảo – Nhật Minh cùng Ni sư Không Tánh – Như Đăng (1916-1997) với hàng trăm tăng, ni và Phật tử ra đảo Hoàng Long (Hòn Nghệ, thuộc tỉnh Kiên Giang) xây dựng tượng đài Quan Âm cao 24m và xây chùa Liên Tôn tại đảo này.

– Đại đức Chơn Giác – Long Hải (1919-2002) được thỉnh cử làm CĐD GHPGVNTN huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

– Hòa thượng Quảng Nhơn – Ấn Tâm (1912-?) khai sơn chùa Linh Bửu nay tại thôn Hiệp Nhơn, xã Tân Thuận, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

– Chùa Tường Vân tại Huế dựng “Bia Tăng Thống Thích Tịnh Khiết” do Hòa thượng Thích Trí Quang soạn văn.

– Thiền sư Đức Tâm – Hải Tạng (1928-1988) thành lập trang trại Châu Hoằng và kiến tạo Châu Hoằng Liên Xã tự thuộc thôn Lại Bằng, xã Hương Sơn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.

– Thượng tọa Trừng Chiếu – Từ Mãn (1918-2007) được cung cử làm CĐD tỉnh Tuyên Đức (1974-1980).

– Hòa thượng Chơn Tá – Tôn Bảo (1895-1974) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Thượng tọa Như Vạn làm Đệ tứ tôn chứng cho giới đàn chùa Long Tuyền, xã Cẩm Kim, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam.

– Hòa thượng Minh Thành (?-1974), trụ trì chùa Long Vân (Bình Thạnh, TP. HCM), viên tịch.

– Thượng tọa Nguyên Từ trùng tu xây dựng chánh điện chùa Bảo Lâm ở xã Bình Kiến, Tp. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Chùa này do Thiền sư Đạo Trung khai sơn vào đầu thế kỷ XIX.

– Đại đức Không Phi – Trí Hải (1944-2014) được cử làm trụ trì chùa Nghĩa Phước thuộc xã Vĩnh Lương, Nha Trang.

– Hòa thượng Tâm Lợi – Thiện Hòa (1907-1978) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Huệ Hưng làm Giáo thọ, Hòa thượng Thiện Thành làm Đệ lục tôn chứng, Hòa thượng Trí Quang làm Chánh chủ khảo,…cho giới đàn Khánh Anh chùa Quảng Đức, thị xã Long Xuyên, tỉnh Long Xuyên (BNSGĐTVN).

– Đại đức Lệ Sành – Huệ Sanh (1935-1998) kế thế trụ trì Tổ đình Giác Lâm nay tại số 118, đường Lạc Long Quân, phường 9, quận Tân Bình, Tp. HCM.

NĂM 1975 (ẤT MÃO – PL.2519), năm cuối thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (1945-1975)

– Tháng 4, Thiền viện Viên Chiếu (trước đây là Tu viện Bát Nhã) xã Phước Bình, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, được thành lập, do Ni sư Thích nữ Như Đức trụ trì.

– Tháng 5, Hòa thượng Thích Thanh Từ (1924-?) lần lượt cho Thiền sinh khóa II Tu viện Chơn Không (Vũng Tàu) xuống núi, về thiền viện Thường Chiếu thuộc xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Cũng năm này, Hòa thượng cử thầy Nhật Quang làm Huynh trưởng quản viện.

– Ngày 21 tháng 6 (nhằm ngày 12 – 5 – Ất Mão), Hòa thượng Chơn Cảnh – Trí Thắng (1891-1975) thế danh Nguyễn Khắc Đôn, pháp danh Chơn Cảnh, tự Đạo Thông, hiệu Trí Thắng, sinh tại thôn Lương Lộc, tổng Thiều Quang, huyện Tuy Viễn, phủ Hoài Nhơn, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì Tổ đình Thiên Hưng (Ninh Thuận), viên tịch, thọ 85 tuổi, 54 hạ lạp.

– Ngày 16 tháng 6 năm Ất Mão, Hòa thượng Hồng Diệp – Thiện Trang (1902-1975), thế danh Nguyễn Văn Diệp, húy Hồng Diệp, tự Phùng, sinh tại làng Tương Bình Hiệp, quận Châu Thành, Thủ Dầu Một, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Phước Long (Thủ Dầu Một, Bình Dương), viên tịch, thọ 74 tuổi.

– Ngày 17 tháng 7 năm Ất Sửu, Hòa thượng Đồng Chí – Bảo Huệ (1935-1985) thế danh Nguyễn Đình Khả, pháp danh Đồng Chí, tự Thanh Minh, hiệu Bảo Huệ, sinh tại xã Bình Triều, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, trụ trì chùa Long Thọ (Long Khánh), thị tịch, hưởng dương 51 tuổi.

– Tháng 8, Hòa thượng Hồng Đạo – Bửu Ý (1917-1996) được giao trọng trách Phó chủ tịch Ban liên lạc Phật giáo yêu nước thành phố và tham gia Ủy viên Ủy ban MTTQ Tp. HCM.

– Tháng 10, Ni sư Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) khởi công xây dựng chùa Huê Lâm II tại thôn Tân Phú, xã Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Ngày 02 tháng 11 năm Ất Mão, Hòa thượng Nhựt Hiện – Huệ Sanh (1907-1975), thế danh Trần Văn Hiện, húy Nhựt Hiện, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Thạnh Hòa (Cần Giuộc, Long An), viên tịch, thọ 69 tuổi.

– Ngày 11 tháng 11 năm Ất Mão, Hòa thượng Chơn Phước – Huệ Pháp (1887-1975) thế danh Nguyễn Lộ, pháp danh Chơn Phước, tự Đạo Thông, hiệu Huệ Pháp, sinh tại thôn Bồ Đề, xã Đức Quang, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, Tổ khai sơn chùa Minh Tịnh (Quy Nhơn), viên tịch, thọ 89 tuổi, 65 hạ lạp.

– Ngày 30 tháng 12 (nhằm ngày 28 – 11 – Ất Mão), Hòa thượng Hương Sơn – Trí Hữu (1912-1975) thế danh Lê Thùy, pháp húy Thị Năng, tự Trí Hữu, hiệu Hương Sơn, sinh tại làng Quá Giáng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì chùa Linh Ứng (Quảng Nam), viên tịch, thọ 63 tuổi. Sinh tiền, Hòa thượng đã khai sơn các chùa : chùa Ứng Quang (Ấn Quang, 1949) chùa Hòa Quang (1950), chùa Bảo Minh (1965), chùa Từ Quang, Bích Trân, La Thọ tại Quảng Nam – Đà Nẵng. Những tác phẩm của Hòa thượng : Kinh Viên Giác (dịch), Lời Phật dạy (dịch), Duy Thức dị giản, Kinh Phật Địa, Phật Học Danh Số, Lịch Sử Ngũ Hành Sơn (LSTTTPLTCT).

– Hòa thượng Thích Thế Long (1909-1985) cùng quý Hòa thượng miền Trung, miền Nam thành lập Ban vận động Thống Nhất Phật giáo.

– Hòa thượng Tâm Hương – Mật Hiển (1907-1992) được bầu làm Đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh, Phó Chủ tịch Ủy Ban MTTQVN tỉnh và Ủy viên Ủy ban TƯ. MTTQVN.

– Hòa thượng Tâm Chuẩn – Diệu Quang (1917-1996) về trùng tu Tổ đình Hương Tích (Phú Yên) và trụ trì Tổ đình này.

– Hòa thượng Tăng Đức Bổn (1917-2000) được suy cử làm Phó chủ tịch GHPG Hoa Tông.

Sách Thiền Tông Bản Hạnh (tên đầy đủ là Trần Triều Thiền Tôn Chỉ Nam Truyền Tâm Quốc Ngữ Hành) được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản tại Hà Nội.

– Đại đức Đắc Pháp (1938-2013) về trụ trì chùa Sơn Thắng (sau là Thiền viện Sơn Thắng) ở Long Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

– Thượng tọa Như Vạn – Trí Phước (1930-1980) được mời giữ chức vụ CĐD GHPGVNTN thị xã Hội An, đồng thời năm này ngài cũng được mời làm Phó chủ tịch Ủy ban MTTQVN thị xã Hội An và Hội đồng Nhân dân tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.

– Hòa thượng Như Nhàn – Trí Giác (1915-2005) được thỉnh cử giữ chức vụ Đặc ủy Tăng sự GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam.

– Hòa thượng Như Bình – Huyền Tịnh (1914-2003) được thỉnh cử làm Trị sự trưởng BTS Phật giáo Quảng Ngãi.

– Thượng tọa Như Hương – Huyền Tâm (1920-1991) được cử giữ chức Đặc ủy Tăng sự GHPGVNTN tỉnh Ninh Thuận.

– Thượng tọa Viên Khánh – Thông Bửu (1936-2007) đảm nhiệm chức vụ CĐD GHPGVNTN tỉnh Gia Định (1975-1977).

– Đại đức Như Trực – Thiện Chánh (1940-2004) kế thế trụ trì Tổ đình Thiên Tôn tại thị trấn An Thanh, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.

– Đại đức Đồng Giác – Tịnh Giác (1942-2005) khai sơn chùa Tịnh

Quang tại ấp Ngô Quyền, xã Bàu Hàm 2, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

– Sư cô Từ Thuần (1944-1996) khai sơn chùa Từ Thuyền ở Đà Lạt.

– Thiền sư Phước Hảo (1930-2014) được Hòa thượng Thích Thanh Từ giao nhiệm vụ trụ trì Tu viện Chơn Không (Núi Lớn – Vũng Tàu).

– Thượng tọa Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012) thành lập Phật học viện Vạn Hạnh nay tại đường Nguyễn Kiệm, phường 4, quận Phú Nhuận, Tp. HCM.

– Ni sư Hồng Tịnh – Giác Nhẫn (1919-2003) được mời làm Thành viên Ban liên lạc Phật giáo yêu nước TP. HCM.

– Khoảng năm 1975 – 1976, Ni sư Diệu Không (1905-1997) và sư cô Diệu Đạt đến đảm nhiệm tái thiết chùa Đông Thuyền tại làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy, Huế.

– Thượng tọa Nguyên Phước – Quang Thể (1922-2005) được mời giữ chức vụ Phó Chủ tịch Ủy Ban MTTQVN tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.

Thượng tọa Tâm Lượng – Từ Mẫn (1932-2007) được suy cử làm PĐD Tỉnh GHPGVNTN.

– Sư cô Nguyên Chánh – Minh Bổn (1935-1999) đảm trách cơ sở Hương Sơn (sau là chùa Hương Sơn) tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

– Thượng tọa Tâm Hòa – Nhật Lệ (1927-1987) được cử giữ chức Cố vấn BĐD GHPGVNTN ngoại thành Sài Gòn và quận Bình Tân (1975-

1982).

– Thượng tọa Trí Ấn – Nhật Liên (1923-2010) được cung thỉnh làm Chứng minh đạo sư kiêm phụ trách chùa Tỉnh Hội Long Khánh. Cũng năm này, ngài xây dựng lại chùa Tỉnh Hội (tức chùa Vĩnh Khánh) và đổi hiệu là chùa Long Thọ.

– Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ (1904-1984) được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng, Hòa thượng Huệ Hưng làm Yết Ma, Hòa thượng Bửu Huệ làm Giáo thọ, Hòa thượng Thiện Thành làm Đệ nhất tôn chứng cho đại giới đàn tại chùa Ấn Quang, quận 10, TP. HCM (BNSGĐTVN).

– Hòa thượng Thanh Thiện – Đức Nhuận (1897-1993) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Quán Sứ, Thủ đô Hà Nội. Cũng năm này, ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Hoằng Ân (Quảng Bá), quận Tây Hồ, Hà Nội (BNSGĐTVN).

– Đại đức Bửu Đăng – Nhựt Hoa (1946-?) kế thừa trụ trì chùa Tân Sơn nay tại số 53/3, ấp G  Sào, xã Tân Phú, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

– Ni sư Hồng Huệ (1914-1984) thành lập Thiền viện Phổ Chiếu tại thôn Tân Phú, thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Ni sư Hồng Hảo (?-1975), thế danh Lê Thị Thu, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh tông, đời thứ 40, Tổ khai sơn Linh Quang Tịnh thất (Bà Rịa – Vũng Tàu), viên tịch.

– Đại đức Như Hùng – Trí Giác (1942-?) kế thế trụ trì chùa Minh Tịnh hiện tại số 35, đường Hàm Nghi, phường Ngô Mây, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Đại đức Như Trực – Thiện Chánh (1940-?) kế thế trụ trì chùa Thiên Tôn nay tại thị xã An Thạnh, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Đại đức Nhựt Hớn – Thiện Hảo (1952-?) kế thế trụ trì chùa Phước Long nay tại phường Mỹ Chánh, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

– Thượng tọa Nguyên Minh – Đức Thiệu (1911-1993) lập thảo am Liên Trì trên ngọn đồi nay tại số 18/4, đường Ngô Quyền, phường 6, TP. Đà Lạt, để tịnh tu và hoằng pháp.

– Đại đức Thích Nhật Quang (1948-?) được cử về trụ trì Phù Cừ Am Tự nay tại phường Bình San, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

– Hòa thượng Quảng Cần – Trung Đức (1915-1975), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 45, trụ trì Khánh Quới Cổ Tự (Cai Lậy, Tiền Giang), viên tịch, thọ 61 tuổi.

– Đại đức Tâm Long – Trí Minh, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, kế thế trụ trì chùa Kim Tiên, nay tại khu 7, thị trấn Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (1975-1996).

– Thượng tọa Nguyên Lưu – Giác Tánh (1911-1987) được cử giữ chức vụ Phó chủ tịch MTTQVN tỉnh Nghĩa Bình (1975-1981).

– Ni sư Đức Huy – Đàm Ánh (1925-2015) về trụ trì Tổ đình Phụng Thánh, ngõ Cống Trắng, phường Trung Phụng, quận Đống Đa, Tp. Hà Nội.

– Ni sư Tâm Ý – Hồng Chí (1913-2007) được thỉnh làm Vụ trưởng Ni bộ Bắc tông.

1973
01/01/1973

Năm 1973 (Quý Sửu – PL.2517)

Năm 1973 (Quý Sửu – PL.2517)

– Ngày 23 tháng 1 (nhằm ngày 20 – 12 – Nhâm Tý), Hòa thượng Như Quả – Thiện Hoa (1918-1973) thế danh Trần Văn Nở, pháp danh Như Quả, hiệu Hoàn Tuyên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Phước Hậu (Vĩnh Long), Viện trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, viên tịch, hưởng dương 55 tuổi, 26 hạ lạp. Những tác phẩm của Hòa thượng : Phật Học Phổ Thông (12 quyển), Bản Đồ Tu Phật (10 quyển), Duy Thức Học (6 quyển), Phật Học Giáo Khoa Các Trường Bồ-đề, Giáo Lý Dạy Gia đình Phật tử, Nghi Thức Tụng Niệm, Bài Học Ngàn Vàng, Đại Cương Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Viên Giác lược giải, Kinh Kim Cang, Tâm Kinh, Luận Đại Thừa Khởi Tín, Luận Nhơn Minh,…(TSDTVN, LSTTTPLTCT).

– Ngày 03 tháng 1 năm Quý Sửu, Hòa thượng Thích Thiện Đạo (1906-1973), thế danh Đinh Văn Mùi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, Tổ khai sơn chùa Long Tân (Đức Hòa, Long An), viên tịch, thọ 68 tuổi.

– Ngày 25 tháng 2 (nhằm ngày 23 – 1 – Quý Sửu), Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973), thế danh Nguyễn Văn Kỉnh, pháp danh Trừng Thông, tự Chơn Thường, hiệu Tịnh Khiết, sinh tại làng Dưỡng Mông Thượng, xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, thuộc Thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì Tổ đình Tường Vân (Huế), Đệ nhất Tăng Thống GHPGVNTN,  viên tịch, thọ 83 tuổi, 64 hạ lạp (TSDTVN, CTTĐPGTH).

– Ngày 10 tháng 3, Hòa thượng Trừng Thủy – Giác Nhiên (1877-1979) được Đại Hội PGVNTN kỳ V suy tôn làm Đệ nhị Tăng Thống. Hòa thượng thế danh là Võ Chí Thâm, sinh tại làng Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Năm lên 7 tuổi ngài đã vào chùa học chữ Nho, sau đó xuất gia đầu sư với Hòa thượng Thanh Ninh – Tâm Tịnh. Năm 1932, ngài đã cùng chư tôn đức đứng ra thành lập Hội An Nam Phật Học, làm Chứng minh Đạo sư kiêm Giám đốc Phật học đường Tây Thiên (Huế). Đến năm 1934, ngài được cung thỉnh làm trụ trì Quốc tự Thánh Duyên (Huế), rồi trụ trì Tổ đình Thuyền Tôn (1937). Năm 1956, ngài được thỉnh vào chức vụ Viện trưởng Phật học viện Hải Đức Nha Trang. Từ năm 1958 – 1962, Hòa thượng luôn đảm nhiệm chức vụ Chánh Hội trưởng Tổng trị sự Hội Phật giáo Trung Phần.

– Ngày 17 tháng 4 (nhằm ngày 15 – 3 – Quý Sửu), Cư sĩ Chánh Trí (1905-1973) họ và tên Mai Thọ Truyền , pháp danh Chánh Trí, là đệ tử của Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ, thuộc dòng Thiền Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, Hội trưởng Hội Phật Học Nam Việt, đã lâm chung, thọ 69 tuổi. Những tác phẩm của cư sĩ như : Tâm và Tánh, Ý Nghĩa Niết-bàn, Một Đời Sống Vị Tha, Tâm Kinh Việt Giải, Le Bouddhisme au Viet Nam, Pháp Hoa Huyền Nghĩa, Địa Tạng Mật Nghĩa (TSDTVN).

– Ngày 26 tháng 3 năm Quý Sửu, Hòa thượng Nhật Dần – Thiện Thuận (1900-1973) thế danh Lê Văn Thuận, pháp danh Nhật Dần, hiệu Thiện Thuận, sinh tại Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn, thuộc Tông Lâm Tế, đời thứ 41, Viện trưởng Viện Hoằng Đạo thuộc GHPG Cổ truyền Việt Nam, trụ trì chùa Giác Lâm (Tp.HCM), viên tịch, thọ 73 tuổi, 53 giới lạp.

– Ngày 18 tháng 4 năm Quý Sửu, Hòa thượng Hành Nguyện – Viên Thành (1904-1973) thế danh Lương Từ Thanh, pháp danh Thị Niệm, tự Hành Nguyện, hiệu Viên Thành, sinh tại làng Minh Hương, phủ Tuy Phước, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì chùa Phước Hải (quận 6, TP. HCM), viên tịch, thọ 70 tuổi, 45 hạ lạp.

– Tháng 6, Hòa thượng Thích Đổng Hiển (?-1973), thế danh Nguyễn Văn Thoại, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 44, trụ trì chùa Long Sơn (Đơn Dương, Lâm Đồng), viên tịch, thọ 73 tuổi.

– Ngày 22 tháng 7 năm Quý Sửu, Hòa thượng Như Ph ng – Mỹ Định (1895-1973), thế danh Trần Văn Phòng, húy Như Phòng, tự Mỹ Định, hiệu Chơn Hương, sinh tại làng Chánh Hiệp, Châu Thành, Thủ Dầu Một, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Hội Sơn (Dĩ An, Bình Dương), viên tịch, trụ thế 78 năm.

– Ngày 13 tháng 9 năm Quý Sửu, Đại đức Bổn Lộc – Thiện Nhơn (1916-1973), thế danh Lê Văn Huỳnh, húy Bổn Lộc, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 44, trụ trì chùa Phước Minh (Bến Lức, Long An), thị tịch, trụ thế 56 năm.

– Ngày 19 tháng 9 năm Quý Sửu, chùa Long Sơn (Phật học viện Hải Đức) tại thị xã Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa mở đại giới đàn Phước Huệ, Hòa thượng Hành Thiện – Phúc Hộ (1904-1985) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Giác Tánh làm Yết Ma, Hòa thượng Trí Nghiêm làm Giáo thọ, Hòa thượng Trí Thủ làm Đàn chủ, Hòa thượng Tâm Hoàn làm Chánh chủ khảo, Hòa thượng Giải An, Hòa thượng Huệ Hưng làm Tôn chứng (BNSGĐTVN).

– Hòa thượng Thích Thế Long (1909-1985) cùng Ban trị sự Trung Ương thành lập trường Tu Học Phật Pháp Trung Ương tại chùa Quán Sứ.

– Hòa thượng Tâm Hương – Mật Hiển (1907-1992) được mời vào Hội đồng Giáo phẩm Viện Tăng Thống GHPGVNTN.

– Hòa thượng Hồng Đạo – Bửu Ý (1917-1996) được GHPG Cổ truyền đề bạt làm Viện trưởng Viện Hoằng Đạo.

– Thượng tọa Tâm Chuẩn – Diệu Quang (1917-1996) được kiêm nhiệm trụ trì chùa Hồ Sơn tại thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

– Hòa thượng Hồng Phương – Trí Đức (1915-1999) được suy cử làm Thành viên Hội đồng Trưởng lão Viện Tăng Thống GHPGVNTN.

– Thượng tọa Tăng Đức Bổn (1917-2000) được Đại hội tấn phong Hòa thượng và suy tôn làm Chứng minh cố vấn cho GHPG Hoa Tông Việt Nam, tại Đại thành lập Giáo hội này.

– Hòa thượng Hải Chấn – Chánh Ký (1902-1973) thuộc Tông Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 40, trụ trì chùa Khánh Long (Khánh Hòa) viên tịch, thọ 72 tuổi.

– Thượng tọa Hương Sơn – Trí Hữu (1912-1975) được tấn phong vào hàng giáo phẩm Hòa thượng và thỉnh vào Hội đồng Giáo phẩm Viện Tăng thống GHPGVNTN.

– Thượng tọa Chơn Ngọc – Long Trí (1928-1998) được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Tái thiết xã hội, văn ph ng đặt tại chùa Viên Giác (Quảng Nam).

– Hòa thượng Như Lộc – Viên Phước (1894-1973) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì Tổ đình Phước Quang (Tư Nghĩa, Quảng Nam), viên tịch, thọ 80 tuổi.

– Đại đức Thích Hạnh Duyên kế thế trụ trì Tổ đình Phước Quang ở thôn Phước Long, xã Tư Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Nam.

– Thượng tọa Thị Huệ – Bảo An (1914-?) được mời giữ chức vụ Đặc ủy Cư sĩ GHPGVNTN tỉnh Bình Định, khóa III.

– Thượng tọa Như Hạnh – Huyền Thâm (1927-2005) kế thế trụ trì chùa Thiên Hưng nay thuộc TP. Phan Rang, Ninh Thuận.

– Thượng tọa Như Mẫn – Hoàn Phú (1920-2007) kế thế trụ trì chùa Phước Hậu tại ấp Đông Hậu, xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Cũng năm này, Thượng tọa được cữ giữ chức CĐD GHPGVNTN tỉnh Vĩnh Long.

– Tỉnh giáo hội Quảng Đức khai giới đàn truyền giới, Hòa thượng Chơn Trung – Minh Đức (1902-1985) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu.

– Thiền sư Thích Thanh Từ (1924-?) khởi công xây cất thiền viện Bát Nhã trên núi Tương Kỳ – Vũng Tàu, đến đầu năm 1974 hoàn tất.

– Thượng tọa Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được cử làm Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức – Nha Trang (1973 – 1974). Cũng năm này, Thượng tọa được cử giữ chức Tổng Thư ký Viện Hóa Đạo GHPGVNTN (1973-1974).

– Sư cô Chơn Minh – Như Châu (1915-2002) được sư Giác Lập cúng dường chùa Pháp Thắng thuộc làng Phước An, Phước Thành, Vũng Tàu.

– Ngài La Dũ (sau này là Thiền sư Duy Lực, 1923-2000) được Hòa thượng Thích Hoằng Tu thế độ xuất gia tu học tại chùa Từ Ân, đường Hùng Vương, quận 11, Chợ Lớn, TP. HCM. Ngài  nối pháp dòng thiền Lâm Tế (và sau ngài cầu pháp thiền phái Tào Động).

– Đại đức Nguyên Minh – Viên Quang (1921-1991) khai sơn Long Thiền tịnh thất tại xã Tân Xuân, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

– Hòa thượng Không Thối – Xưng Huệ (?-1973), thuộc thiền phái Lâm Tế Chánh tông, đời thứ 44, trụ trì chùa Bửu Quang (Phan Thiết), viên tịch.

– Hòa thượng Tâm Cảnh – Giác Hạnh (1880-1981) được cung thỉnh làm Thành viên Hội đồng Trưởng lão Viện Tăng thống GHPGVNTN. Cũng năm này, Hòa thượng đổi hiệu chùa Tuệ Quang (tại số 55, đường Tuệ Tĩnh, quận 11, Sài Gòn), do ngài trụ trì, thành chùa Vạn Phước.

– Thiền sư Đức Tâm (1928-1988) được Hòa thượng Bổn sư Tâm Như – Trí Thủ ban hiệu Hải Tạng và phú pháp kệ :

“Vầng trăng in đáy biển,

Bóng hoa phẩy bụi thềm,

Đức Tâm phi vật ngã,

Thanh tịnh ấy chân thân” (CTTĐPGTH).

– Thiền sư Nguyên Minh – Đức Thiệu (1911-1993) được Hòa thượng Tâm Như – Trí Thủ ấn chứng cho làm trưởng tử và phú pháp kệ :

“Lấy đức nối gia phong,

Xưa nay đều như vậy,

Xuân quang thơm cùng khắp,

Thể hải ấn bao dung” (CTTĐPGTH).

– Thượng tọa Thục Hải – Thiện Minh (1920-1992) đảm trách chức vụ Đặc ủy Tăng sự GHPGVNTN tỉnh Sa Đéc.

– Thiền sư Tâm Thành – Chơn Thức (1938-1973) thế danh Nguyễn Đình Hiệp, pháp danh Tâm Thành, hiệu Chơn Thức, người làng Triều Thủy, xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, Giám tự Tổ đình Tường Vân (Huế), thị tịch, hưởng dương 35 tuổi, 11 hạ lạp.

– Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ (1904-1984) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Thiện Tường làm Giáo thọ cho Đại giới đàn tổ chức tại chùa Ấn Quang, quận 10, Sài Gòn.

– Hòa thượng Trí Hải – Quảng Liên (?-2009) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho đàn giới pháp tại Tu viện Quảng Đức thuộc ấp Trường Thọ, xã Tăng Nhơn Phú, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định.

– Chùa Thiền Lâm thuộc xã Phú Lâm, quận 6, tỉnh Chợ Lớn khai Chúc thọ giới đàn, Hòa thượng Chơn Miên – Trí Hưng (1908-1986) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Quang Lý làm Tuyên luật sư.

– Hòa thượng Hồng Hạnh – Vĩnh Đạt (1911-1987) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Phước Hưng (chùa Hương), thị xã Sa Đéc, tỉnh Sa Đéc.

– Hòa thượng Hồng Diệp – Thiện Trang (1902-1975) được suy tôn làm Tăng trưởng Giáo hội Lục hòa Tăng Bình Dương.

– Hòa thượng Tâm Lợi – Thiện Hòa (1907-1978) được suy tôn lên ngôi vị Phó Tăng Thống GHPGVNTN.

– Đại đức Nhuận Đức – Chơn Huệ (1923-2012) khai sơn chùa Bửu Vân nay thuộc huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

– Thượng tọa Chân Từ – Thanh Kiểm (1920-2000) được GHPGVNTN và môn phái Tổ đình Vĩnh Nghiêm (nay tại quận 3, Tp. HCM) suy cử làm CĐD Miền Vĩnh Nghiêm kiêm trụ trì Tổ đình này.

– Đại đức Minh Đạo – Thiện Thanh (1941-2016) được Ban Quản trị Hội Phật học Kiến Tường và Phật tử thỉnh về trụ trì chùa Tường Vân (Long An).

1972
01/01/1972

Năm 1972

Trước năm 1930, những tu sĩ Hoa theo đạo Phật sinh hoạt theo từng chùa thuộc tông phái là chính, chưa có tổ chức Giáo hội.

Năm 1945, Hòa thượng (HT) Thống Lương và Thanh Thuyền xây dựng chùa Nam Phổ Đà (quận 6). Cùng thời gian này, tại quận 11 có chùa Trúc Lâm do HT Lương Giác xây dựng; chùa Hoa Nghiêm (quận Bình Thạnh) do HT Thọ Dã (1952); chùa Từ Ân (quận 11) do HT Hoằng Tu (1955); chùa Vạn Phật (quận 5) do HT Diệu Hoa và Đức Bổn (1959); chùa Thảo Đường do HT Diệu Nguyên xây dựng vào năm 1960 ở quận 6…

Như vậy, giai đoạn giữa thế kỷ XX, PG trong cộng đồng người Hoa được phục hồi và phát triển hơn so với trước đó, và đã tạo tiền đề cho sự ra đời cơ cấu tổ chức của Giáo hội PG Hoa tông Việt Nam vào năm 1972, do HT Siêu Trần và Hòa thượng Thanh Thuyền đứng đầu.

Lần đầu tiên, đạo Phật của các tu sĩ Trung Quốc truyền vào Việt Nam chính thức có tổ chức rộng rãi và có tư cách pháp nhân. Văn phòng đặt tại 360A Bến Bình Đông, quận 7. Trụ sở Trung ương ở số 195 Nguyễn Tri Phương, quận 5.

Giáo hội có nội quy, điều lệ và mở đại hội thành lập Ban Chấp hành Trung ương vào ngày 20-5-1973.

2- Về phương diện thờ cúng, chùa của người Hoa có đặc điểm tượng thờ được đặt trong khánh để đảm bảo sự tinh khiết. Hầu hết các tượng đều được đưa về từ nhiều nước như Myanmar, Hồng Kông… Tam thế Phật là bộ tượng chính, đặt thờ bên cạnh bộ tượng 5 vị tại bàn ngoài cùng (5 vị này có khác với 5 vị được thờ tại các chùa cổ của người Việt) gồm : Phổ Hiền, Di Lặc, Quan Âm, Văn Thù, Địa Tạng Vương Bồ tát. Chùa Hoa còn thờ Phật Di Lặc và Ngọc Hoàng Thượng đế.

Trên điện thờ, lư hương dùng đựng trầm được đốt trong các buổi đại lễ và ngọn đèn dầu phộng giữ cháy liên tục, tượng trưng cho chánh pháp không bao giờ tắt !

Bia công đức là một điểm đặc thù trong các chùa miếu của người Hoa, ghi lại tên và số tiền quyên góp vào việc dựng và trùng tu chùa… Tùy theo từng nhóm ngôn ngữ khác nhau, mỗi chùa có nét riêng trong đọc tụng lời kinh và pháp khí sử dụng theo phong cách riêng.

Ngoài một số chùa đặt tượng 18 La Hán, chùa Thảo Đường còn có tranh vẽ 500 La Hán, theo phong cách thờ La hán ở Trung Quốc. Hai vị Hộ pháp trong chùa Hoa là Vi Đà Hộ pháp và Già Lam Thánh chúng.

Phía sau các chùa Hoa thường có Diên sanh đường, nơi đặt long vị của cư sĩ có công lớn với chùa. Trên các long vị này thường thờ Phật Dược Sư. Tên gọi Diên sanh đường vì là nơi chú nguyện phước báu cho các cư sĩ còn sống được mạnh khỏe, trường thọ. Khi cư sĩ đã mãn phần, được đưa vào đặt tại Công đức đường.

Vào những dịp lễ lớn, chùa Hoa còn tổ chức lạy các bộ sám lớn như sám Tam Thiên Phật, sám Vạn Phật, sám Lương Hoàng…

Lễ tạ chư Thiên là lễ lớn và riêng có đối với các Tăng sĩ Phật tử theo PG Hoa tông. Lễ được tổ chức sau ngày lễ lạy sám trong năm. Lễ vật phong phú với 10 loại 24 thứ khác nhau.

Ảnh hưởng của phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian in đậm trong nghi thức thờ cúng tại chùa Hoa. Giấy tiền vàng bạc được xếp thành hình ống, đặt lên dĩa thành tháp 7 tầng, hoặc có dạng hoa sen… Trong PG Hoa tông, lễ quy y và thọ giới không tiến hành đồng thời như ở chùa Việt. Sáng xuất gia, chiều thọ giới. An cư kiết hạ không tập trung Tăng Ni cùng tu học mà nhập thất riêng, mỗi người tự ở hẳn trong Tăng đường; tùy phát nguyện có thể từ 49 đến 100 ngày. Lễ truyền và thọ giới thường có tục đốt liều trên đỉnh đầu.

Một trong những nguyên nhân làm cho PG Hoa tông có số lượng tu sĩ ít ỏi vì việc tu hành đòi hỏi sự kiên trì, không được hoàn tục, “thọ” nhiều giới…, trong khi cộng đồng người Hoa thì có tục con cái đông đúc mới là nhà có phúc lớn!

Khi hành lễ, Phật tử thường mặc áo tràng đen. Lúc hành lễ, Tăng sĩ có tục bó ống quần để bảo đảm sự thanh khiết.

3- Một trong những nét đặc thù của PG Hoa tông là công tác từ thiện – xã hội. Nhiều hội đoàn được hình thành từ việc bảo đảm cuộc sống của cộng đồng từ khi mới sang Việt Nam như Hội Sư Trúc Hiên (quận 5). Hoạt động chính của Hội là công tác từ thiện, bố thí áo quan, hộ niệm cho người qua đời, đặc biệt là thành lập đội cổ nhạc, chuyên phục vụ lễ hội truyền thống và đám tang. Hội Phật học mang tên Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm có trụ sở trung ương tại quận 5 và nhiều chi nhánh khắp Nam Bộ như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Sa Đéc, Đà Lạt… Ban Hộ niệm của Hội được hình thành từ yêu cầu cúng cầu siêu cho các gia đình theo PG Hoa tông có người quá vãng cần cầu siêu và đưa cúng tại từ đường, nghĩa trang…

Hoạt động từ thiện – xã hội được đẩy mạnh trong các chùa thuộc PG Hoa tông còn xuất phát từ quan niệm hoạt động từ thiện để lại phúc đức cho con cháu! Riêng trên địa bàn quận 5, nơi có đông người Hoa và chùa Hoa, đã có nhiều gương làm việc thiện, điển hình như Sư cô Tuệ Độ ở tịnh xá Quan Âm, có trên 1.000 hội viên; Từ Đức tịnh xá có Thượng tọa Tôn Thật là Trưởng ban Từ thiện của Báo Giác Ngộ. Tháng 12-1998 đại trai đàn chẩn tế kỳ an, kỳ siêu được tổ chức, do PG Hoa tông đề xướng, sẽ có ý nghĩa thiết thực đối với bệnh nhân nghèo. Từ tiền ủng hộ của các tấm lòng từ thiện, Ban tổ chức sẽ phát chẩn cho người nghèo sống lang thang.

Trai đàn Vạn Nhân Duyên được tổ chức để gây quỹ xây dựng trường Chánh Giác (quận 11), Việt Tú (Mỹ Tho), Quảng Triệu (Thủ Dầu Một)…

4- Về việc truyền thừa, PG Hoa tông vẫn tiếp tục kế truyền các Thầy Tổ thuộc “Ngũ gia tông phái” ở Trung Quốc. Tuy vậy, phổ biến tại Việt Nam chỉ có hai dòng phái Lâm Tế và Tào Động. Đa số Tăng Ni người Hoa đều được truyền theo bài kệ của Trí Thắng Bích Dung : “Trí Huệ Thanh Tịnh…” của dòng Lâm Tế. Riêng dòng Tào Động chiếm số ít hơn, theo bài kệ pháp phái Vĩnh Xương Cổ Sơn: “Huệ Ngươn Đạo Đại Hưng…”. Chùa Từ Đức (quận 5), chùa Thảo Đường (quận 6)… đều thuộc phái Tào Động.

5- Những đặc điểm nêu trên của PG Hoa tông ở Nam Bộ là những nét lớn, chủ yếu, còn được lưu giữ đến nay, tạo nên nếp sinh hoạt đặc thù trong cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ. Đặc điểm ấy là bản sắc văn hóa Hoa trong PG ở Nam Bộ, đặc biệt là tại thành phố Hồ Chí Minh. Gọi PG Hoa tông, theo sự phân phái trước đây để dễ phân biệt với nhiều giáo phái có mặt ở Sài Gòn trước năm 1975. Ngày nay, với một Ban Quản trị, đại diện có HT Đức Bổn, PG Hoa tông trực thuộc Giáo hội PG Việt Nam. HT là Thành viên Hội đồng Chứng minh và là Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội PG Việt Nam.

Dù rằng gần 300 năm qua, đã có khá nhiều ngôi chùa Hoa do các Thiền sư Trung Hoa sang truyền đạo đã dần dần bị biến đổi theo xu thế Việt hóa, nhiều lớp đệ tử của Sơ Tổ Nguyên Thiều đã là những Thiền sư Việt Nam, nhưng do quá trình cộng cư của hai cộng đồng Hoa – Việt mang tính hòa hợp, cố kết và tự nguyện nên những nét đặc sắc trong văn hóa PG vẫn còn được lưu giữ và được phát huy, nhất là trong lĩnh vực từ thiện – xã hội, đã góp phần lớn vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo; mang lại sự giàu mạnh và thịnh vượng cho đất nước Việt Nam, mà người Hoa là thành viên trong cộng đồng 54 dân tộc cả nước !«

01/01/1972

Năm 1972 (Nhâm Tý – PL.2516)

Năm 1972 (Nhâm Tý – PL.2516)

– Ngày 05 tháng 1 (nhằm ngày 21 – 11 – Tân Hợi), Hòa thượng Như Mật – Bửu Thọ (1893-1972), thế danh Nguyễn Thế Mật,  thuộc Tông Lâm Tế, đời thứ 39, trụ trì chùa Tây An (núi Sam, Châu Đốc) viên tịch, thọ 80 tuổi.

– Ngày 03 tháng 2, Hòa thượng Hồng Cảnh – Viên Dung (1903-1972) thế danh Nguyễn Văn Dung, pháp danh Hồng Cảnh, tự Viên Dung, hiệu Huyền Nghĩa, sinh tại làng Lựu Bảo, TP. Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Khánh Vân (Lựu Bảo – Huế), viên tịch, thọ 70 tuổi, 34 hạ lạp.

– Ngày 08 tháng 3 năm Nhâm Tý, Ni trưởng Hồng Quý – Bửu Thanh (1906-1972) thế danh Vương Thị Quý, pháp danh Bửu Thanh, húy Hồng Quý, sinh tại phường Tân An, bến Ninh Kiều, tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, viên tịch, thọ 66 tuổi, 46 pháp lạp.

– Ngày 27 tháng 4 năm Nhâm Tý, Hòa thượng Nguyên Đạt – Viên Nhơn (1921-1972), họ Phạm, húy Văn Đắc, pháp danh Nguyên Đạt, hiệu Viên Nhơn, sinh tại Khuôn Ph , Quảng Điền, Thừa Thiên – Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, trụ trì chùa Sắc tứ Báo Ân (Huế), thị tịch, trụ thế 52 năm, 24 hạ lạp.

– Ngày 06 tháng 6 năm Nhâm Tý, Hòa thượng Hồng Căn – Chí Tịnh (1913-1972), thế danh Nguyễn Văn Đại, pháp danh Hồng Căn, hiệu Chí Tịnh, sinh tại xã Kim Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Phật Ân (Mỹ Tho), viên tịch, thọ 60 tuổi, 40 hạ lạp.

– Ngày 13 tháng 6 năm Nhâm Tý, Hòa thượng Tâm Hành – Từ Thiện (1891-1972) thế danh Trần Khánh, húy Tâm Hành, hiệu Từ Thiện, sinh tại xã Hoài Thanh, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế, Tổ khai sơn chùa Phước Lâm (Diên Khánh, Khánh Hòa), viên tịch, thọ 81 tuổi.

– Ngày 29 tháng 7, Hòa thượng Nguyên Hương – Tường Vân (1899-1983) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Ấn Tâm làm Yết Ma, Hòa thượng Từ Vân làm Giáo thọ cho đại giới đàn tổ chức tại Tòng Lâm Vạn Thiện nay thuộc Tp. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

– Ngày 18 tháng 8 (nhằm ngày 10 – 7 – Nhâm Tý), Hòa thượng Tâm Như – Mật Nguyện (1911-1972) thế danh Trần Quốc Lộc, pháp danh Tâm Như, hiệu Mật Nguyện, sinh tại làng Phú Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, thuộc Tông Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Linh Quang (Thừa Thiên), viên tịch, thọ 62 tuổi, 40 tuổi hạ.

– Ngày 16 tháng 7 năm Nhâm Tý, Đại đức Viên Giác – Chơn Thiện được Bổn sư là Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) phó pháp kệ như sau :

“Tâm Ngộ thiền cơ Chơn bổn thể

Thiện quyền ứng dụng thả tùy duyên

Phó nhữ huyền vi minh liễu triệt

Viên Giác thừa đương tổ ấn truyền” (VHPG-221).

– Ngày 22 tháng 8 năm Nhâm Tý, Hòa thượng Nhuận Lịch – Huệ Thành (1911-1972), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 46, trụ trì chùa Phước Thạnh (Thủ Dầu Một, Bình Dương), viên tịch, thọ 62 tuổi.

– Ngày 20 tháng 9, Hòa thượng Tâm Lợi – Thiện Hòa (1907-1978) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Thiền Định làm Đàn chủ – Yết Ma, Hòa thượng Huệ Hưng làm Yết Ma, Hòa thượng Bửu Huệ làm Giáo thọ, Hòa thượng Thiện Tường làm Đệ nhất tôn chứng, Hòa thượng Thiện Thành làm Đệ tam tôn chứng,… cho Đại giới đàn chùa Phật Ân (Phật học viện Huyền Trang) ở thị xã Mỹ Tho, tỉnh Định Tường (Tiền Giang) (BNSGĐTVN).

– Ngày 30 tháng 9 (nhằm ngày 23 – 8 – Nhâm Tý), Hòa thượng Giác Trang – Hải Tràng (1884-1972), thế danh Võ Văn Nghiêm, pháp danh Giác Trang, hiệu Hải Tràng, sinh tại làng Tân Quí, tổng Phước Điền Thượng, tỉnh Chợ Lớn, thuộc dòng thiền Lâm Tế Chánh Tông, đời thứ 41, Phó Tăng thống GHPGVNTN, Viện chủ chùa Phổ Quang (TP. HCM), viên tịch, thọ 89 tuổi, 63 hạ lạp.

– Ngày 09 tháng 9 năm Nhâm Tý, Thiền sư Như Lai – Thanh Tịnh (1908-1972), thế danh Nguyễn Dương, Tổ khai sơn chùa An Long (Quy Nhơn, Bình Định), viên tịch, thọ 65 tuổi.

– Ngày 13 tháng 10 năm Nhâm Tý, Hòa thượng Tâm Lễ – Chánh Kiến (1909-1972) pháp danh Tâm Lễ, tự Chánh Kiến, hiệu Nghĩa Hội, sinh tại làng Vĩnh Xương, xã Điện Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Phổ Quang (Thủy An, Huế), viên tịch, thọ 63 tuổi, 34 hạ lạp.

– Ngày 17 tháng 10, Ni sư Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) được cung thỉnh làm Đàn chủ và Hòa thượng Đàn đầu giới đàn Ni tại chùa Từ Nghiêm (nay thuộc quận 10, TP. HCM). Cũng năm này, Ni sư được đề cử giữ chức Vụ trưởng Ni bộ Bắc tông (HTCNVN).

– Ngày 24 tháng 11 năm Nhâm Tý, Hòa thượng Nguyên Thùy – Thiện Huệ (1906-1972), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, trụ trì chùa Bửu Nghiêm (Thủ Dầu Một, Bình Dương), viên tịch, thọ 67 tuổi.

– Ngày 07 tháng Chạp năm Nhâm Tý, Hòa thượng Như Huệ – Hoằng Thông (1894-1972) thế danh Nguyễn Độ, pháp danh Như Huệ, tự Thanh Nguyên, hiệu Hoằng Thông, sinh tại thôn An Định, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, Tổ khai sơn chùa Bạch Sa (Quy Nhơn), viên tịch, thọ 79 tuổi.

– Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) rời Sài Gòn về Huế để tiến hành việc tu sửa Tổ đình Tường Vân và chú tạo hồng chung.

– Hòa thượng Tâm Hương – Mật Hiển (1907-1992) được sung chức trụ trì chùa Linh Quang (Huế).

– Hòa thượng Nhựt Dần – Thiện Thuận (1900-1973) được đề cử chức vụ Viện trưởng Viện Hoằng Đạo thuộc GHPG Cổ truyền Việt Nam.

– Thượng tọa Nguyên Tánh – Đức Tâm (1828-1988) được cung cử chức vụ PĐD kiêm Đặc ủy hoằng pháp GHPGVNTN tỉnh Thừa Thiên.

– Thiền sư Nhựt Tinh – Trí Tấn (chùa Hưng Long) được thỉnh làm Hòa thượng truyền giới cho giới đàn chùa Bửu Phong trên núi Bửu Long (Biên Hòa, Đồng Nai).

Thượng tọa Hương Sơn – Trí Hữu (1912-1975) trùng tu Tổ đình Linh Ứng tại Ngũ Hành Sơn, Quảng Nam.

– Thượng tọa Chơn Ngọc – Long Trí (1928-1998) được bầu làm Chủ tịch Mặt trận cứu đói miền Trung.

– Thượng tọa Chơn Khai – Quang Lý (1918-1990) khai sơn chùa Bửu Quang tại huyện Nhà Bè, Sài Gòn. Cũng năm này ngài trùng tu chùa Thiên Bút (Quảng Ngãi).

– Hòa thượng Như Đăng – Trí Độ (1894-1979) mở trường Trung Tiểu học Phật pháp Trung Ương tại Hà Nội (1972-1974).

– Hòa thượng Như An – Huyền Quang (1920-2008) tham dự Đại hội Tôn giáo Thế giới tại Geneve, Thụy Sĩ (LSTTTPLTCT).

– Giáo hội tỉnh Bình Tuy khai Đại giới đàn, Hòa thượng Đồng Kỉnh – Tín Quả (1891-1978) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới.

– Đại đức Viên Khánh – Thông Bửu (1936-2007) được suy cử làm Tổng Thư ký Tổng vụ cư sĩ GHPGVNTN (1972-1975).

– Đại đức Đồng Viên – Viên Đức (1932-1980) tổ chức Lễ đặt đá trùng tu chùa Thiền Tịnh tại Thủ Thiêm, Sài Gòn.

– Hòa thượng Thị Hải – Hành Sơn (1908-1989) được thỉnh cử làm trụ trì chùa Pháp Hội (Quảng Nam) và trùng kiến chùa này.

– Ni sư Diệu Ninh – Như Huệ (1914-1984) thành lập Ký nhi viện Huệ Quang tại đường Hậu Giang, tỉnh Chợ Lớn.

– Ni sư Tâm Nguyệt – Thể Yến (1908-1989) được Giáo hội mời làm Giám đốc Cô nhi viện Tây Lộc – Huế.

– Thượng tọa Từ Ý – Chơn Thiện (1919-1990) khai sơn xây dựng chùa Hưng Quang tại xã Tam Xuân, Quảng Nam. Cùng  năm này, ngài khai sơn chùa Lộc Tân ở xã Tam Tiến, dựng tượng Phật Thích Ca tại Thiên Long Thạch Động (chùa Hang, xã Tam Nghĩa) và tượng Quan Thế Âm Bồ-tát tại đập Bà Quận.

– Đại đức Tâm Lượng – Từ Mẫn (1932-2007) trùng tu Tổ đình Diệu Pháp (Quảng Nam – Đà Nẵng).

– Đại đức Như Hảo – Quảng Tâm (1947-2010) khai sơn Tu viện Vĩnh Đức nay tại số 57, đường Nguyễn Tuyển, phường Bình Trưng Tây, quận 2, Tp. HCM.

– Ni sư Từ Hương – Diệu Hòa (1917-2006) xây dựng Ký Nhi viện Huệ Viên trong vườn chùa ni Linh Phong tại Đà Lạt.

– Hòa thượng Giải Trừng – Hồng Ân (?-1978) khai sơn chùa Quảng Ân nay tại xã Tân Nghĩa, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

– Thượng tọa Tâm Thị – Thiện Minh (1922-1978) đảm đương chức Quyền Viện trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN.

– Thượng tọa Tâm Tuệ – Thanh Trí (1919-1984) được suy cử chức vụ CĐD GHPGVNTN tỉnh Thừa Thiên và TP. Huế.

– Hòa thượng Nguyên Bình – Minh Cảnh (1906-1986) trùng tu kiến tạo Tổ đình Linh Quang (Lâm Đồng).

– Thượng tọa Trí Thắng – Đồng Huy (1919-2010) được suy cử giữ chức vụ Phó BĐD GHPGVNTN tỉnh Phước Tuy, kiêm CĐD Phật giáo quận Long Lễ và CĐD Phật giáo làng Vạn Hạnh (Bà Rịa – Vũng Tàu).

– Hòa thượng Như Lợi – Huyền Đạt (1903-1994) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho đại giới đàn tổ chức tại chùa Bảo Linh, thị xã Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

– Chùa Giác Lâm thuộc phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Bình, tỉnh Chợ Lớn mở giới đàn, Hòa thượng Nhật Dần – Thiện Thuận (1900-1973) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu.

– Hòa thượng Tâm Như – Trí Thủ (1909-1984) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Từ Nhơn, Thượng tọa Giải Thông, Thượng tọa Như Tín làm Giới sư cho giới đàn tổ chức tại chùa Huỳnh Kim (Phật học viện Huệ Quang), quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định.

– Đại đức Nhựt Tân – Thiện Đắc (1954-?) về hộ trì Tam Bảo chùa Phước Hưng nay tại số 220, tổ 6, ấp 6, xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.

– Thượng tọa Bổn Nghĩa – Thiện Xuân (?-1988?) thành lập chùa Long Phước hiện tọa lạc tại số 132, xã Long H a, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, trên khu đất của gia đình hiến cúng.

– Hòa thượng Thích Thiện Nhựt (?-1972), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì  chùa Giác Nguyên (Cần Giuộc, Long An), viên tịch.

– Đại đức Huệ Châu – Quảng Trân (?-1988) khai sơn chùa Phước Quang nay tại ấp Lộc Hưng, xã Lộc Giang, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, trên khu đất của gia đình hiến cúng.

– Đại đức Quảng Long – Đạo Nhẫn (1945-?) được Giáo hội bổ nhiệm trụ trì chùa An Long nay tại khu vực 5, phường Nhơn Phú, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Thượng tọa Nguyên Bình – Minh Cảnh (1905-1986) xây dựng lại Tổ đình Linh Quang nay tại số 133, đường Hai Bà Trưng, ấp Đa Thuận, khóm Lạc Thành, phường 6, TP. Đà Lạt, vì ngôi Tổ đình này bị bom Mỹ tàn phá hoàn toàn vào mùa Xuân năm 1968.

– Đại đức Chơn Kim (1930-?) sáng lập chùa Tường Vân hiện tại Quốc lộ 27A, thôn Đường Mới, thị trấn Dran, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

– Đại đức Tâm Mãn (1938-?) khai sơn xây cất Tịnh thất Hoa Quang (sau đổi tên là chùa Sư Tử Hống) nay thuộc thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

– Đại đức Nhuận Đức – Chơn Huệ (1923-2012) khai sơn chùa Bửu Liên nay thuộc xã Long H a, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

– Ni sư Giác Chơn – Như Thiệt (1927-1997) kế thế trụ trì chùa Thiên Phước hiện tại ấp Mỹ An, xã Mỹ Phong, Tp. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

– Đại đức Đồng Tấn sáng lập Thiền viện Phổ Hiền nay tại số 209/58, đường Tôn Thất Thuyết, phường 3, quận 3, Tp. HCM.

– Thượng tọa Tâm Như – Trí Thủ (1909-1984) sáng lập chùa Chơn Giác hiện tại số 20/7, Liên tỉnh lộ 15, ấp 5, xã Phú Xuân, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Tp. HCM.

– Hòa thượng Lệ Quang – Thiện Thành (1903-1986) khởi công xây dựng giảng đường và tăng xá chùa Giác Sanh nay tại số 103, đường Âu Cơ, phường 14, quận 11, TP. HCM.

– Đại đức Hạnh Nhơn – Đỗng Quán (1925-2009) được môn phái đề cử đảm nhận trụ trì chùa Sắc tứ Thiên Hòa, thôn Tri Thiện, xã Phước Quang, huyện Phước Tuy, tỉnh Bình Định.

1971
01/01/1971

Năm 1971 (Tân Hợi – PL.2515)

Năm 1971 (Tân Hợi – PL.2515)

– Ngày 26 tháng Giêng năm Tân Hợi, Ni trưởng Trừng Ninh – Diệu Hương (1884-1971) thế danh Nguyễn Thị Kiều, pháp danh Trừng Ninh, hiệu Diệu Hương, nguyên quán tại Dạ Lê Hạ, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên – Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, Chủ tọa Ni trường Diệu Đức (Huế), viên tịch, thọ 88 tuổi, 47 hạ lạp.

– Ngày 04 tháng 4 (nhằm ngày 09 – 3 – Tân Hợi), Hòa thượng Như Quang – Trí Minh (1904-1971) thế danh Đinh Văn Nhiên, pháp danh Như Quang, tự Giải Chiếu, hiệu Trí Minh, sinh tại xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Pháp Bảo (Quảng Nam), viên tịch, thọ 68 tuổi.

– Ngày 08 tháng 4 năm Tân Hợi, Lễ khai giảng khóa tu thiền tại Tu viện Chơn Không thuộc Núi Lớn – Vũng Tàu, dưới sự chứng minh của Hòa thượng Tâm Lợi – Thiện Hòa (1907-1978), Thượng tọa Tâm Ba – Bửu Huệ,…Khóa tu do Viện chủ tu viện Chơn Không, Thiền sư Thích Thanh Từ tổ chức và hướng dẫn.

– Ngày 02 tháng 7 (nhằm ngày 10 – 5 – Tân Hợi), Hòa thượng Nhuận Huê – Thiện Hương (1903-1971) thế danh Lê Văn Bạch, pháp danh Thị Huê, tự Thiện Hương, hiệu Nhuận Huê, sinh tại làng Tương An, tổng Bình Thổ, tỉnh Thủ Dầu Một, thuộc Tông Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, Đệ nhất Phó Tăng giám Trung Ương Giáo hội Lục hòa Tăng, trụ trì chùa Hội Khánh (Thủ Dầu Một), viên tịch, thọ 68 tuổi, 48 giới lạp.

– Ngày 03 tháng 10, Tu viện Quảng Đức, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định mở giới đàn, Hòa thượng Tâm Như – Trí Thủ (1909-1984) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ làm Yết Ma, Hòa thượng Trí Hữu làm Giáo thọ, Hòa thượng Huệ Hưng làm Đệ tứ tôn chứng, Hòa thượng Bửu Huệ làm Đệ ngũ tôn chứng (BNSGĐTVN).

– Sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, tác giả Hải Lượng (Ngô Thì Nhậm), Hải Âu và Hải H a, do Á Nam Trần Tuấn Khải thực hiện, xuất bản tại Sài Gòn.

– Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ (1904-1984) được suy cử làm Phó Chủ Tịch Hội Đồng Giám Luật Viện Tăng Thống GHPGVNTN.

– Hòa thượng Hành Thiện – Phúc Hộ (1904-1985) được cung thỉnh vào Hội Đồng Trưởng Lão Viện Tăng Thống GHPGVNTN kiêm luôn chức Giám luật viện này.

– Hòa thượng Thích Thế Long (1909-1985) được suy cử chức Phó Hội trưởng kiêm Tổng thư ký BTS TW. GHPGVNTN tại Đại hội kỳ IV.

– Hòa thượng Trừng Nguyện – Đôn Hậu (1905-1992) đi dự Đại hội thành lập tổ chức Phật giáo Châu Á vì Hòa Bình ở Mông cổ và được cử làm Ủy viên thường trực Ban Chấp hành Hội Phật giáo Châu Á vì Hòa Bình (TSDTVN).

– Hòa thượng Hồng Phương – Trí Đức (1915-1999) được suy tôn làm Hòa thượng Đường đầu tại giới đàn chùa Quan Âm (Cà Mau) do Giáo hội tổ chức.

– Thượng tọa Tăng Đức Bổn (1917-2000) sáng lập và khởi công xây dựng tịnh xá Di Đà trên phần đất của Bệnh viện Phúc Kiến hiến tặng.

– Thượng tọa Chí Niệm (1918-1979) trùng tu cổng tam quan, hồ bán nguyệt và những gian nhà bị hư hỏng ở chùa Từ Hiếu nay thuộc Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

– Hòa thượng Đồng Kỉnh – Tín Quả (1891-1978) khai sơn chùa Bảo Hoa ở Ninh Quang, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

– Sách Thiền Học Trần Thái Tông của tác giả Nguyễn Đăng Thục được Viện Đại Học Vạn Hạnh ấn hành.

– Hòa thượng Chơn Tá – Tôn Bảo (1895-1974) được cung thỉnh làm Chứng minh Đạo sư cho Phật học viện Quảng Nam.

– Ni sư Thị Hương – Diệu Hoa (1925-1995) khai sáng chùa Kiều Đàm tại xã Cát Tân, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

– Hòa thượng Đồng Bửu – Quảng Viên (1910-1988) kế thế trụ trì Tổ đình Hội Khánh nay tại phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

– Ni trưởng Như Tịnh (pháp danh Thị Thanh, tự Hạnh Nguyện), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, về trụ trì chùa Tuệ Quang (Đà Lạt).

– Ni sư Diệu Ninh – Như Huệ (1914-1984) từ Nhật Bản về nước, tiếp tục trụ trì Thiền Đức Ni tự và trùng tu chùa Vĩnh Bửu.

– Ni sư Nhật Tường – Như Hòa (1923-2000) cùng Ban Giám đốc Ni trường Dược Sư (TP. HCM) tham học khóa thiền tại Tu viện Chơn Không (Vũng Tàu).

– Ni sư Không Luân – Thể Quán (1911-1982) được suy cử làm Giám luật Ni bộ Bắc tông GHPGVNTN tỉnh Thừa Thiên – Huế.

– Ni sư Tâm Nguyệt – Thể Yến (1908-1989) được Ni bộ Thừa Thiên – Huế công cử làm Giám viện chùa Diệu Đức nay tại Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

– Đại đức Nguyên Minh – Viên Quang (1921-1991) được suy cử làm trụ trì chùa Tỉnh Hội (Phú Yên).

– Thượng tọa Đồng Chơn – Thông Niệm (1914-1990) đại trùng tu chùa Bát Nhã tại thị xã Đà Nẵng.

– Thượng tọa Lệ Hòa – Thiện Nhu (1917-2003) được suy cử làm CĐD Phật giáo tỉnh Long An (1971-1975).

– Lễ khánh thành Tu viện Quảng Đức nay thuộc huyện Thủ Đức, Tp. HCM, do Thượng tọa Trí Hải – Quảng Liên (1925-2009) khai sơn.

– Hòa thượng Hoằng Thông – Minh Thành (1901-1979) được GHPGVNTN suy cử làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo, khối Việt Nam Quốc Tự và Phật giáo Thế giới Liên xã, cung thỉnh Hòa thượng làm Chủ tịch danh dự.

– Chùa Giác Lâm thuộc phường  Phú Thọ, tỉnh Chợ Lớn khai Trường Hương – trường Kỳ giới đàn, Hòa thượng Nhật Dần – Thiện Thuận (1900-1973) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Huệ Sanh làm Giáo thọ.

– Chùa Linh Sơn thuộc phường Cầu Muối, quận Nhất, Sài Gòn mở giới đàn, Hòa thượng Chơn Tảo – Nhật Minh (1908-1993) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu.

– Thượng tọa Bổn Nam – Huệ Minh (1925-2002) trùng tu chùa Khánh An nay tại số 204, tổ 7, ấp 1A, xã Long Sơn, huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Chùa xây dựng lại bằng bê-tông cốt thép, nền xi măng, mái lợp tôn.

– Đại đức Thích Quảng Tài (1949-?) thành lập chùa Phổ Đà nay tại số 111, ấp Rừng Dầu, xã Mỹ Hạnh Bắc, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, trên khu đất gia đình hiến cúng.

– Thượng tọa Tâm Dung – Huệ Nhật (1918-1991) đại trùng tu chùa Long Thạnh nay tại thôn Tây Định, phường Nhơn Bình, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Hòa thượng Nhật Tinh – Trí Tấn (1906-1995) đảm nhận chức vụ Tăng trưởng Phật giáo Cổ truyền Lục hòa Tăng, tỉnh Biên Hòa.

– Đại đức Chơn Nghiêm – Tâm Thanh (1931-2004) khai sơn Vĩnh Minh tự viện tại thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

– Thượng tọa Hồng Căn – Nguyên Tịnh, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, kế thế trụ trì Bửu Lâm Cổ tự tại thôn Phú Hội, Định Tường, nay là phường 3, TP. Mỹ Tho (1971-1976).

– Hòa thượng Trí Hưng kế thế trụ trì chùa Phước Lâm nay tại số 1B12, đường Phan Chu Trinh, khu phố 2, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (1971-1981).

– Thượng tọa Nguyên Thanh – Chơn Trí kế thế trụ trì chùa Phước Long, nay ở ấp 7, xã Tân Tây, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

– Hòa thượng Kiểu Quang – Bửu Ngươn (?-1971), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 40, trụ trì chùa Sắc Tứ Thập Phương (Kiên Giang), viên tịch.

– Yết – ma Chí Hoằng kế thế trụ trì chùa Sắc Tứ Thập Phương hiện ở số 9/2, đường Lê Lai, phường Vĩnh Thanh, Tp. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (1971-1988).

– Ni sư Diệu Không (1905-1997) khai sáng xây dựng chùa Diệu Giác hiện tại số 6/10, đường Trần Não, phường Bình An, quận 2, Tp. HCM.

– Đại đức Hạnh Nhơn – Đỗng Quán (1925-2009) khởi công tái thiết chùa Sắc tứ Tịnh Liên nay tại thôn Liêm Trực, thị trấn Bình Định, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Thượng tọa Chân Từ – Thanh Kiểm (1920-2000) cùng chư tôn đức Tăng Ni, Phật tử thuộc Miền Vĩnh Nghiêm xây dựng chùa Vĩnh Nghiêm để làm trụ sở cho Miền và môn phái.

1970
01/01/1970

Năm 1970 (Canh Tuất – PL.2514)

Năm 1970 (Canh Tuất – PL.2514)

– Ngày 01 tháng Giêng năm Canh Tuất, Hòa thượng Chơn Bích – Trí Huy (1917-1970) thế danh Lê Hào, pháp danh Chơn Bích, tự Đạo Liên, hiệu Trí Huy, sinh tại thôn Hiệp Phổ, xã Nghĩa Hưng, quận Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, Tổ khai sơn chùa Pháp Hoa (tỉnh Đaknong), thị tịch, hưởng dương 54 tuổi.

– Ngày 22 tháng 1 năm Canh Tuất, Hòa thượng Như Niệm – Bảo Toàn (1899-1970), thế danh Trang Văn Tại, pháp danh Như Niệm, tự Giải Khoan, hiệu Bảo Toàn, sinh tại làng Cẩm Phô, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41,  Tổ khai sơn chùa Hải Hội (Đà Nẵng) viên tịch, thọ 72 tuổi.

– Tháng Giêng năm Canh Tuất, Thiền sư Thích Thanh Từ (1924-?) khởi công xây dựng Tu viện Chơn Không tại Núi Lớn, Vũng Tàu.

– Ngày 26 tháng 2 năm Canh Tuất, Hòa thượng Quảng Nhu – Huệ Thắng (1899-1970), thế danh Nguyễn Văn Ngôn, sinh tại Mỹ Tho, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 45, trụ trì chùa Long Thọ (Bến Cát, Bình Dương), viên tịch, thọ 72 tuổi.

– Ngày 16 tháng 3 năm Canh Tuất, Hòa thượng Hồng Phẩm – Thiện Biểu (1898-1970), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Linh Sơn (Đức Hòa, Long An), viên tịch, thọ 74 tuổi.

– Ngày 24 tháng 4, Hòa thượng Như Lý – Thiên Trường (1876-1970) thế danh Nguyễn Văn Hanh, pháp danh Như Lý, sinh tại quận An Hóa, tỉnh Mỹ Tho, thuộc dòng thiền Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 39, trụ trì chùa Bửu Lâm (Cao Lãnh, Đồng Tháp), viên tịch, thọ 94 tuổi, 50 hạ lạp.

– Ngày 11 tháng 6 (nhằm ngày 08 – 5 – Canh Tuất), Đại đức Thích Thiện Lai (1896-1970) thế danh Bùi Đình Tần, pháp danh Thiện Lai, sinh tại tỉnh Nam Định, thuộc dòng thiền Lâm Tế Chánh Tông, đời thứ 42, tự thiêu dưới gốc cây Bồ-đề chùa Phổ Quang (Phú Nhuận, Gia Định), trụ thế 74 năm, 15 tuổi đạo.

– Ngày 07 tháng 6 năm Canh Tuất, Hòa thượng Như Hiển – Đạt Dương (1883-1970), thế danh Lê Văn Quý, húy Như Hiển, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 39, trụ trì chùa Tịnh Độ (Long An), viên tịch, thọ 87 tuổi.

– Ngày 23 tháng 6 năm Canh Tuất, Đại đức Đồng Thiện – Thiện Ân (1949-1970) thế danh Lương Hữu Ba, pháp danh Đồng Thiện, sinh tại xã Nghĩa Hưng, quận Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, trụ trì chùa Tân Long (Gia Định), thị tịch, hưởng dương 21 tuổi.

– Ngày 10 tháng 8, chùa Linh Sơn, phường Cầu Muối, quận Nhất, Sài Gòn mở giới đàn, Hòa thượng Huệ Hưng được cung thỉnh làm Yết Ma, Hòa thượng Nhựt Minh làm Đàn chủ, Thượng Tọa Vĩnh Đức làm Đệ ngũ tôn chứng, Thượng Tọa Trí Quang làm Đệ lục tôn chứng.

– Ngày 17 tháng 9 (nhằm ngày 10 – 2 – Canh Tuất), Hòa thượng Tâm Tịnh – Huệ Chiếu (1895-1970), thế danh Nguyễn Huệ Chiếu, húy Tâm Tịnh, hiệu Huệ Chiếu, sinh tại thôn Vĩnh Lộc, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Thiên Đức (Bình Định), viên tịch, trụ thế 75 năm.

– Ngày 11 tháng 3 năm Canh Tuất, Hòa thượng Chơn Thành – Không Vân (1896-1970) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 40, Tổ khai sơn chùa Linh Ẩn (An Giang), viên tịch, thọ 75 tuổi.

– Ngày 01 tháng 9 năm Canh Tuất, Hòa thượng Chơn Dung – Chí An (1902-1970), thế danh Nguyễn Văn Đành, húy Chơn Dung, sinh tại làng Chánh Nghĩa, Thủ Dầu Một, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì chùa Bửu Nghiêm (Thủ Dầu Một, Bình Dương), viên tịch, thọ 69 tuổi.

– Ngày 29 tháng 9  năm Canh Tuất, Hòa thượng Như Bình – Trí Tánh (1902-1970), thế danh Nguyễn Ta, húy Như Bình, tự Giải Định, hiệu Trí Tánh, sinh tại Phú Triêm, Điện Bàn, Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Vạn Đức (Hội An – Quảng Nam), viên tịch, thọ 69 tuổi.

– Ngày 17 – 21 tháng 10, chùa Phổ Đà, TP. Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam mở đại giới đàn Vĩnh Gia, Hòa thượng Trừng Thủy – Giác Nhiên (1877-1979) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Tôn Thắng làm Chánh chủ đàn, Hòa thượng Thiện Siêu khai đạo giới tử, Hòa thượng Mật Nguyện làm Cố vấn, Hòa thượng Tôn Bảo làm Đệ thất tôn chứng, Hòa thượng Giải An, Hòa thượng Giác Tánh làm Tôn chứng, Hòa thượng Trí Hữu làm Đệ ngũ tôn chứng (BNSGĐTVN).

– Hòa thượng Ngộ Trí – Huệ Hưng (1917-1990) khai sơn Tu viện Huệ Quang nay tại số 116, đường Hòa Bình, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Tp. HCM. Cũng thời gian này (1972-1974), ngài được mời làm thành viên Hội Đồng Giáo Phẩm TƯ GHPGVNTN cùng được suy cử làm Tổng lý Hội đồng Quản trị Tổ đình Ấn Quang ở Chợ Lớn, nay thuộc quận 10, Tp. HCM.

– Hòa thượng Tâm Ba – Bửu Huệ (1914-1991) được suy cử làm Phó Viện trưởng Phật học viện Huệ Nghiêm (nay thuộc thị trấn An Lạc, huyện Bình Chánh, Tp. HCM) kiêm Giáo thọ.

– Hòa thượng Trừng Nguyện – Đôn Hậu (1905-1992) đi tham quan văn hóa, tôn giáo ở Liên Xô và Trung Quốc.

– Hòa thượng Nhật Dần – Thiện Thuận (1900-1973) được suy cử làm thành viên Hội đồng Viện Tăng Thống GHPG Cổ truyền Việt Nam.

– Thượng tọa Nguyên Minh – Viên Quang (1921-1991) được cử giữ chức Giám viện kiêm Giám học Phật học viện Nguyên Hương (Bình Thuận) (1970 – 1973).

– Thượng tọa Hải Huệ – Trừng San (1922-1991) được đề cử kiêm nhiệm trụ trì chùa Diên Thọ, trụ sở Giáo hội huyện Diên Khánh, và chùa Linh Phong (chùa Núi) Vĩnh Thái – Nha Trang.

– Hòa thượng Đồng Kỉnh – Tín Quả (1891-1978) khai sơn chùa Phước Điền ở Diên Sơn, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

– Đại đức Thị Trung – Hạnh Trực (1906-1978) kế thế trụ trì Tổ đình Vạn Đức ở Hội An, Quảng Nam.

– Đại đức Chơn Phát – Long Tôn (1931-?) mở Phật học viện tại chùa Long Tuyền (Quảng Nam).

– Ni trưởng Như Hường – Thọ Minh (1920-2000) trùng tu chùa Bảo Thắng (Quảng Nam).

– Đại đức Thị Anh – Vân Sơn kế thế trụ trì Tổ đình Quang Lộc ở thôn Phước Long, xã Tư Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

– Hòa thượng Chơn Sử – Khánh Tín (1896-1992) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới tại Đại giới đàn chùa Tỉnh Hội (Quảng Ngãi).

– Ni sư Như Huyền – Hồng Từ (1917-1987) lập chùa Tịnh Nghiêm 2 tại thôn La Hà, xã Nghĩa Thương, huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi.

– Hòa thượng Như Đăng – Trí Độ (1894-1979) mở trường Tu học Phật pháp Trung Ương tại chùa Quảng Bá, Hà Nội.

– Hòa thượng Như An – Huyền Quang (1920-2008) đại diện Viện hóa đạo GHPGVNTN tham dự Đại hội các Tôn giáo Thế giới vì Hòa bình lần thứ nhất tại Nhật Bản.

– Ni sư Như Ái – Hoằng Thâm (1924-2000) trùng tu chùa Thanh Long nay tại Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Thượng tọa Nhựt Sáu – Từ Nhơn (1926-2013) trùng tu chùa Phước Thạnh (Đồng Tháp).

– Thượng tọa Tâm Thanh – Tịch Tràng (1909-1976) được mời giảng lớp Chuyên khoa Phật học tại Phật học viện Trung Phần Hải Đức, Nha Trang.

– Thượng tọa Như Hạnh – Huyền Thâm (1927-2005) được cử giữ chức CĐD GHPGVNTN tỉnh Gia Định (1970-1974).

– Ni sư Đồng Chánh – Tịnh Như (1923-1986) đại trùng tu Linh Thứu Ni viện tại Mỹ Tho (1970-1972).

– Ni sư Đồng Độ – Tịnh Khiết (1920-1986) trụ trì chùa Kim Liên (TP. HCM), mở Ký Nhi viện để nuôi trẻ em nghèo khốn khó.

– Đại đức Đồng Viên – Viên Đức (1932-1980) được Giáo hội cử làm Phó đặc ủy Phật học vụ trong Tổng vụ Giáo dục.

– Thượng tọa Tâm Nhẫn – Chí Tín (1922-2013) cùng Thượng tọa Thiện Bình trùng tu chánh điện chùa Sắc tứ Long Sơn nay tại số 20, đường 23 tháng 10, Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

– Ni sư Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) được cung thỉnh làm Đàn chủ và Hòa thượng Đàn đầu giới đàn Ni tại chùa Từ Nghiêm (quận 10, TP. HCM). Cũng  năm này, Ni sư mở Ký nhi viện Kiều Đàm ở chùa Huê Lâm I và  trường Kiều Đàm ở Vũng Tàu.

– Ni sư Hồng Tịnh – Giác Nhẫn (1919-2003) trùng tu chùa Sắc tứ Huệ Lâm nay tại quận 8, Tp. HCM, đồng thời mở lớp Mẫu giáo và Ký nhi viện (ở bên cạnh chùa này).

– Ni trưởng Trừng Hảo – Diệu Không (1905-1997) mở lớp Trung Đẳng Phật học cho Ni chúng tại chùa Diệu Đức – Huế.

– Hòa thượng Trừng Thủy – Giác Nhiên (1877-1979) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Đại giới đàn Vĩnh Gia tại chùa Phổ Đà (Quảng Nam). Các giới sư : Hòa thượng Tôn Thắng, Hòa thượng Trí Giác, Hòa thượng Thiện Siêu, Hòa thượng Mật Nguyện, Hòa thượng Tôn Bảo, Hòa thượng Giải An, Hòa thượng Giác Tánh, Hòa thượng Trí Hữu, Hòa thượng Hưng Dụng, Hòa thượng Trí Giác, Hòa thượng Từ Mẫn (HTCTĐXQ).

– Hòa thượng Như Thọ – Huyền Tân (1911-1979) được suy cử nhiệm vụ Giám viện (Hiệu trưởng) Phật học viện Liễu Quán -tỉnh Ninh Thuận (1970-1975).

– Hòa thượng Tâm Cảnh – Giác Hạnh (1880-1981) trùng tu chùa Tuệ Quang tại số 55, đường Tuệ Tĩnh, quận 11, Sài Gòn và năm sau (1971) Hòa thượng đúc đại hồng chung.

– Thượng tọa Giải Thâm – Kế Châu (1922-1996) thành lập Phật học viện Phước Huệ chuyên khoa Trung đẳng Phật học tại Tổ đình Thập Tháp (Bình Định), do ngài làm Giám viện. Tăng chúng về tu học có hơn 100 vị.

– Sư cô Tâm Huyền – Chơn Thông (1934-1990) được Giáo hội cử đảm trách Giám đốc Cô nhi viện Tây Lộc (1970-1974), nuôi dưỡng hơn 200 cô nhi.

– Thượng tọa Trí Thắng – Đồng Huy (1919-2010) khai sơn Tu viện Vạn Hạnh nay tại xã Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, ngài đã khai khẩn trên 300 hecta đất.

– Hòa thượng Chơn Sử – Khánh Tín (1896-1992) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Giải An làm Giới sư, Hòa thượng Quang Lý làm Tuyên luật sư cho giới đàn xuất gia tại chùa Thiên Bút, Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Quảng Ngãi.

– Hòa thượng Trừng Bửu – Hoằng Thanh (?-1970), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì chùa Thiên Khánh (Long An), viên tịch.

– Chùa Linh Pháp nay tại số 322, ấp Giồng Lớn, xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, được Đại đức Hồng Tâm – Trí Khai (1940-?) trùng tu. Chùa được đại trùng tu lần nữa vào năm 2008.

– Đại đức Nhuận Châu – Bình Minh (1944-?) được kế thế trụ trì chùa Long Thọ nay tại xã Tân Định, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

– Thượng tọa Nhựt Đức – Thiện Tài (1926-1970), thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 41, trụ trì chùa Tân Hưng (Dĩ An – Bình Dương), thị tịch, trụ thế 44 năm.

– Đại đức Nguyên Thùy – Thiện Huệ (1906-1972) kế thế trụ trì chùa Bửu Nghiêm nay thuộc phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

– Hòa thượng Hồng Tín – Huệ Thành (1912-2001) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới cho giới đàn chùa Thanh Long hiện tại phường Trung Dũng, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

– Hòa thượng Nhật Tinh – Trí Tấn (1906-1995) được thỉnh làm Pháp sư giảng luật kiêm Chánh chủ Kỳ trường Hương tại chùa Thanh Long, quận Đức Tu, tỉnh Biên H a.

– Sư cô Trí Hạnh (1936-1997) và sư cô Huệ Hạnh (1942-?) sáng lập chùa Quán Thế Âm nay tại số 15, đường bà Huyện Thanh Quan, phường 10, TP. Đà Lạt.

– Chùa Long Sơn nay tại thôn Lâm Tuyền, thị trấn Dran, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng, được Thượng tọa Đổng Hiển (?-1973) trùng tu. Chùa này lại được trùng tu vào những năm : 1974, 1997, 2003.

– Sư cô Huệ Đức (1940-?) và sư cô Minh Hiền (1941-?) sáng lập chùa Pháp Hoa nay tại khu phố 1, thị trấn Di Linh, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

– Đại đức Quảng Lý – Huệ Long, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 45, kế thế trụ trì chùa Phước Thạnh tại thị trấn Cái Bè – Tiền Giang (1970-1981).

– Đại đức Phước Tú (1944-?) khai sơn chùa Từ Tôn, hiện tại số 3, đại lộ Đồng Khởi, phường Tam Hiệp, Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Chùa có tổng diện tích 3.000m2, diện tích xây dựng : 1.000m2.

– Hòa thượng Tâm Như – Trí Thủ (1909-1984) và Ni trưởng Diệu Không (1905-1997) thành lập Ni viện Kiều Đàm hiện tại số 380, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, quận 3, Tp. HCM.

– Ni sư Nhựt Thanh thành lập chùa Vĩnh Long hiện tại số 242/1, đường Sư Vạn Hạnh, phường 2, quận 10, Tp. HCM.

– Thượng tọa Vĩnh Khương sáng lập chùa Ân Phước hiện tại số 477/42, đường Nơ Trang Long, phường 13, quận Bình Thạnh, Tp. HCM.

– Thượng tọa Như Niệm sáng lập chùa Pháp Bảo hiện tại số 122/1A, đường Lê Văn Thọ, phường 11, quận Gò Vấp, Tp. HCM.

– Thượng tọa Như Tín sáng lập chùa Huyền Trang hiện tại số 1800, đường Lạc Long Quân, phường 10, quận Tân Bình, Tp. HCM.

– Thượng tọa Trí Hải – Quảng Liên (1925-2009) khai sáng chùa Giác Hạnh hiện tại số 32, đường Hữu Nghị, tổ 3, khu phố 3, phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, Tp. HCM. Cũng năm này, ngài tham dự Hội nghị thành lập Hiệp Hội Phật giáo Thế giới tại Hàn Quốc, được mời giữ chức vụ Ủy viên Giáo dục. Cũng thời gian này, Thượng tọa dự Hội nghị Giáo sư tự do Thế giới tại Colombo và được nhận chứng chỉ Giáo sư Quốc tế (phatgiaophuyen.com).

– Đại đức Tuấn Đức – Quảng Thạc (1925-1995) được cử về trụ trì chùa An Lạc ở quận 1 – Sài Gòn, nay tại số 175/15, đường Phạm Ngũ Lão, phường Pham Ngũ Lão, quận 1, Tp. HCM. Cũng năm này, ngài khởi công trùng tu xây dựng lại chùa này, đến năm 1973 thì chùa mới hoàn tất.

– Hòa thượng Hồng Năng – Chơn Ý (?-1970) thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Viện chủ chùa An Phước (An Giang), viên tịch.

– Đại đức Quảng Trai – Chí Đạo (1945-2014) được Viện Hóa Đạo cung cử làm CĐD GHPGVNTN tỉnh Phú Bổn, nay thuộc tỉnh Gia Lai (1970-1975).

– Đại đức Quảng Y – Từ Hạnh (1927-1988) được cử giữ chức Hiệu Trưởng trường Trung học Bồ Đề tại Quy Nhơn, Bình Định (1970-1975).

1969
01/01/1969

Năm 1969 (Kỷ Dậu – PL.2513)

Năm 1969 (Kỷ Dậu – PL.2513)

– Ngày 05 tháng Giêng năm Kỷ Dậu, Thượng tọa Quảng Thọ – Lệ Hương (1902-1985) được Hòa thượng Nhật Tường – Quảng Phát ban cho pháp hiệu là Vĩnh Hưng và phú pháp kệ như sau : “Lệ Hương sanh bất diệt, Quảng Thọ bổn phi không, Xả chư chân tánh pháp, Pháp giới Vĩnh Hưng long” (LQ. S 7).

– Tháng 1, Thiền sư Tâm Hoàn – Huệ Long (1924-1981) đúc đại hồng chung tại Tổ đình Long Khánh (Qui Nhơn – Bình Định).

– Ngày 23 tháng 4 (nhằm ngày 07 – 3 – Kỷ Dậu), Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám (1897-1969), pháp danh Tâm Minh, tự Chiêu Hải, sinh tại làng Đồng Mỹ, tổng Phú Khương, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, thuộc dòng Thiền Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, lâm chung, thọ 73 tuổi, 42 năm phụng sự Tam Bảo. Lúc còn ở đời, cư sĩ từng giữ chức vụ Hội trưởng Hội An Nam Phật Học (Huế), là giảng sư dạy tại các Phật học đường, các lớp Phật học cho thanh niên. Những tác phẩm của cư sĩ như : Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Luận Nhơn Minh, Đại Thừa Khởi Tín Luận, Bát Thức Quy Cũ Tụng, Phật Học thường thức, Bát Nhã Tâm Kinh, Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam và Phật Tổ Thích Ca, Tâm Minh – Lê Đình Thám tuyển tập (5 tập) (TSDTVN).

– Ngày 26 tháng 8 năm Kỷ Dậu, Thượng tọa Hồng Ta – Quảng Trường (1930-1969), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Hội Phước (Cần Đước, Long An), thị tịch, trụ thế 39 năm.

– Ngày 24 tháng 9, Hòa thượng Thích Thiện Đạo (1906-1973) khai sơn chùa Long Tân nay tại số 710, ấp Chánh, xã Đức Lập Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

– Ngày 07 tháng 10, Hòa thượng Giác Trang – Hải Tràng (1884-1972) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Thiện Hòa làm Yết Ma, Hòa thượng Hành Trụ làm Giáo thọ, Hòa thượng Huệ Hưng làm Tôn chứng cho đại giới đàn Quảng Đức tổ chức tại Phật học viện Huệ Nghiêm, quận Bình Chánh, tỉnh Chợ Lớn (BNSGĐTVN).

– Ngày 05 tháng 11 năm Kỷ Dậu, Hòa thượng Chơn Ái – Chánh Hòa (?-1969), thế danh Nguyễn Văn Bổn, húy Chơn Ái, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 44, Tổ khai sơn chùa Vĩnh Phước (Cần Đước, Long An), viên tịch.

– Tháng 11, Hòa thượng Giác Hòa – Bửu Lai (1901-1990) cùng chư Tôn đức đi thăm các nước Phật giáo Đại thừa như Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông.

– Hòa thượng Thanh Thiện – Đức Nhuận (1897-1993) về trụ trì chùa Quảng Bá (Hoàng Ân tự) xã Quảng An, huyện Từ Liêm, Tp. Hà Nội. Cũng năm này, Hội Phật giáo Thống Nhất Việt Nam mở trường Tu học Phật pháp Trung Ương tại chùa này và thỉnh ngài làm Hiệu trưởng.

– Hòa thượng Thanh Giới – Thiện Tường (1917-1984) được cử làm Hóa chủ kiêm Giám đốc Phật học viện Tổ đình Giác Nguyên ở Sài Gòn, nay thuộc quận 4, Tp. HCM.

– Hòa thượng Như Long – Huyền Tế (1905-1986) được đề cử chức vụ Cố vấn GHPGVNTN tỉnh Quảng Ngãi và là thành viên trong Hội đồng Trưởng lão Viện Hóa Đạo.

– Hòa thượng Hồng Đạo – Bửu Ý (1917-1996) vận động chư tôn giáo phẩm thuộc hai Giáo hội Lục hòa Tăng và Lục hòa Phật tử hiệp nhất thành GHPG Cổ truyền Việt Nam, cùng thiết lập các trường Phật học Lục Hòa ở các chùa : Giác Lâm, Giác Viên, Thiên Tôn, trường tiểu học Lộc Uyển, Thiên Trường (quận 8, Tp. HCM) để đào tạo tăng tài (TSDTVN).

– Hòa thượng Nhựt Kiến – Định Quang (1924-1999) tiến hành xây dựng trường Bồ-đề Huệ Quang bên cạnh Phật học viện, gồm tầng trệt và tầng lầu với 10 ph ng học, giành cho các lớp Tiểu và Trung học đệ nhị cấp, đệ nhất cấp. Ngài được đề cử chức vụ Giám đốc trường Trung tiểu học Bồ-đề Huệ Quang.

– Đại đức Nhựt Sanh – Minh Thành (1937-2000) được cử làm Giám đốc trường trung tiểu học Bồ Đề Chợ Lớn tại chùa Giác Ngộ.

– Hòa thượng Tâm Như – Trí Thủ (1909-11984) khai Đại giới đàn tại Phật học viện Nha Trang và mở lớp Trung Đẳng II chuyên khoa tại đây. Cũng năm này, Hòa thượng trùng tu chùa Báo Quốc – Huế.

– Hòa thượng Như Thông – Giải Hậu – Huyền Ấn (1918-1969) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì Tổ đình Quang Lộc (Tư Nghĩa, Quãng Ngãi), thị tịch, trụ thế 51 năm.

– Thượng tọa Như Thông – Giải Minh – Huyền Ngộ (?-1969) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì Tổ đình Thắng Quang (Hoài Nhơn, Bình Định), thị tịch.

– Thượng tọa Trí An – Đồng Thiện (1922-2001) được cung cử làm Đệ nhất trụ trì Tu viện Nguyên Thiều nay thuộc xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

– Thượng tọa Thị Huệ – Bảo An (1914-?) được mời làm Phó Giám đốc Phật học viện Nguyên Thiều, khóa II.

– Ni sư Như Ái – Hoằng Thâm (1924-2000) mở trường Trung học Tư Thục Hương Quang (Bình Định).

– Đại đức Đồng Chí – Bảo Huệ (1935-1985) được trả tự do về chùa Long Thọ (Long Khánh), sau 3 năm bị tù đày ra Côn Đảo.

– Đại đức Tâm Thanh – Chơn Nghiêm (1931-2004) đảm nhận chức CĐD GHPGVNTN khu Bảy Hiền, tỉnh Gia Định.

– Ni sư Diệu Ninh – Như Huệ (1914-1984) sang Nhật Bản tham học Thiền tại chùa Tổng Trì thuộc tông Tào Động, 2 năm, được Pháp chủ tông Tào Động ấn khả.

– Ni sư Nhật Phước – Như Huy (1922-2000) và Ni sư Vĩnh Bửu được Ni bộ ủy nhiệm về chùa Từ Vân làm Phật sự.

– Ni sư Tâm Niệm – Như Trí (1918-2006) nhận trụ trì chùa Thiên Hòa tại Bình Dương và thành lập Ký nhi viện.

– Ni sư Diệu Liên – Như Hoa (1925-2006) đảm nhận chức vụ Giám học Ni viện Từ Nghiêm nay thuộc quận 10, TP. HCM.

– Ni sư Tịnh Hoa (1915-2002) xây dựng Liên Quang Thiền viện (Trà Vinh).

– Thượng tọa Tâm Tuệ – Thanh Trí (1919-1984) được mời làm trụ trì Tổ đình Báo Quốc nay tại Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

– Đại đức Thích Minh Phước (1938-2007) sáng lập chùa Liên Trì nay tại số 92/10, đường Hoàng Hoa Thám, phường 2, TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Sư cô Huệ Chơn (1943-?) sáng lập Tịnh thất Hoa Sơn nay tại số 610/10, đường Trần Phú, phường 5, TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Đại đức Lệ Hồng – Huệ Hà (1936-2009) nhận nhiệm vụ trụ trì Tổ đình Long Phước nay tại số 3/234, đường Vĩnh Châu, khóm 6, phường 5, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

– Đại đức Quảng Lăng – Thiện Huê (1923-2002) khai sơn xây dựng Tịnh xá Niết Bàn nay tại số 66/7, đường Hạ Long, bãi Dứa, phường 11, Tp. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Năm 1974, lễ khánh thành Tịnh xá. Tịnh xá có 4 tầng, trước có trụ phướn hình tháp cao 21m, có đại hồng chung nặng 3,5 tấn, trong chánh điện tôn trí tượng Phật Thích Ca Niết Bàn dài 12m. Cũng năm này, ngài khai sơn xây cất Lạc Cảnh Tăng Xá Di Linh (nay đổi hiệu là chùa Tánh Hải, thuộc huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng) (KYHTTTH).

– Thượng tọa Tăng Đức Bổn (1917-2000) sáng lập chùa Phụng Sơn hiện tại số 285, đường Ngô Gia Tự, phường 3, quận 10, Tp. HCM.

– Đại đức Minh Đạo – Thiện Thanh (1941-2016) được đề cử làm Đệ nhất Phó BĐD Phật giáo tỉnh Bình Tuy.

1968
01/01/1968

Năm 1968 (Mậu Thân – PL.2512)

Năm 1968 (Mậu Thân – PL.2512)

– Ngày 01 tháng 1, Hòa thượng Chơn Tảo – Nhựt Minh (1908-1993) được bầu làm Hội chủ Linh Sơn Phật học kiêm trụ trì chùa Linh Sơn ở Sài Gòn, nay thuộc quận 1, Tp. HCM.

– Ngày 21 tháng 1 (nhằm ngày 22 – 12 – Đinh Mùi), Hòa thượng Chân Đạo – Bích Phong (1901-1968) họ Nguyễn, pháp danh Chân Đạo, tự Chánh Thống, hiệu Bích Phong, người làng Trung Kiên, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc dòng thiền Lâm Tế, đời thứ 40, chi phái Thập Tháp, trụ trì chùa Quy Thiện (Huế), viên tịch, thọ 67 tuổi, 47 hạ lạp. Tác phẩm của Hòa thượng có Thủy Nguyệt Tòng Sao, 3 tập.

– Ngày 15 tháng Giêng năm Mậu Thân, Hòa thượng Như Tâm – Phước Như (?-1968), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, Tổ khai sơn chùa Phước Tường (Phan Thiết), viên tịch.

– Tháng 1, Hòa thượng Trừng Nguyện – Đôn Hậu (1905-1992) được cử làm Phó Chủ tịch Liên minh các lực lượng Dân chủ và Hòa bình Việt Nam. Vào tháng 6 năm này, ngài được mời làm Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.

– Ngày 08 tháng 2 (nhằm ngày 11 – 1 – Mậu Thân), Hòa thượng Tâm Ưng – Đảnh Lễ (1918-1968) thế danh Võ Đức Phú, pháp danh Tâm Ưng, hiệu Đảnh Lễ, sinh tại làng Thành Công, Quảng Điền, Thừa Thiên – Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, Tổ khai sơn chùa Phước Duyên (Huế), thị tịch, hưởng dương 50 tuổi, 30 hạ lạp.

– Ngày 27 tháng Giêng năm Mậu Thân, Hòa thượng Chơn Thông – Đồng Phước (1895-1968) thế danh Huỳnh Thanh Liễn, pháp danh Chơn Thông, tự Đạo Đạt, hiệu Đồng Phước, sinh tại xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì Tổ đình Cổ Lâm (Đại Lộc, Quảng Nam), viên tịch, thọ 72 tuổi.

– Ngày 09 tháng 2 năm Mậu Thân, Hòa thượng Thanh Quý – Chơn Thiệt (1887-1968) thế danh Nguyễn Văn Kỉnh, pháp danh Thanh Quý, tự Cứu Cánh, hiệu Chơn Thiệt, quê ở làng Cư Chánh, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 41, trụ trì chùa Từ Hiếu (Huế), viên tịch, thọ 81 tuổi, 58 hạ lạp.

– Ngày 29 tháng 2 năm Mậu Thân, Hòa thượng Nhật Quang – Huệ Tâm (?-1968), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Long Sơn (Tân Uyên, Bình Dương), viên tịch.

– Ngày 03 tháng 3, Hòa thượng Hồng Tuyên – Chánh Giáo (1887-1968) thế danh Đặng Giới, pháp danh Hồng Tuyên, tự Chánh Giáo, hiệu Từ Thông, quê ở Đức Phổ, xã Đức Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Tổ khai sơn chùa Phổ Minh (Quảng Bình), viên tịch, thọ 81 tuổi.

– Ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân, Thiền sư Thích Thanh Từ (1924?) về Pháp Lạc Thất (Núi Lớn – Vũng Tàu)  nhập thất tu thiền.

– Ngày 14 tháng 7, Phật học viện Hải Đức, Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa mở đại giới đàn Phước Huệ, Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1891-1973) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Hành Thiện – Phúc Hộ (làm Đàn đầu thay thế), Hòa thượng Thiện Hòa làm Yết ma, Hòa thượng Mật Nguyện, Hòa thượng Thiện Hoa làm Giáo thọ, Hòa thượng Trí Thủ làm Đàn chủ, Hòa thượng Thiện Siêu làm Tuyên luật sư, Hòa thượng Huyền Tân làm Đệ nhất tôn chứng, Hòa thượng Trí Nghiêm làm Đệ nhị tôn chứng, Hòa thượng Diệu Hoằng làm Đệ tam tôn chứng, Hòa thượng Đạo Quang làm Đệ tứ tôn chứng, Hòa thượng Giác Tánh làm Đệ ngũ tôn chứng, Hòa thượng Trí Thành làm Đệ lục tôn chứng, Hòa thượng Trí Hữu làm Đệ thất tôn chứng (BNSGĐTVN).

– Ngày 02 tháng 8, Hòa thượng Trừng Liên – Quang Diệp (1915-1968) thế danh Nguyễn Hữu La, pháp danh Trừng Liên, tự Quang Diệp, hiệu Chơn Tánh, quê ở huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên – Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, Tổ khai sơn chùa Từ Phong Lan Nhã (Thừa Thiên – Huế), thị tịch, trụ thế 53 năm, 30 hạ lạp.

– Ngày 25 tháng 8 (nhằm ngày 02 – 7 – Mậu Thân), Hòa thượng Thị Niệm – Thiện Giai (1889-1968), thế danh Võ Ngọc Hồ, pháp danh Thị Niệm, hiệu Thiện Giai, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì chùa Phước Sa (Quy Nhơn, Bình Định), viên tịch, thọ 80 tuổi.

– Ngày 07 tháng 8 năm Mậu Thân, Hòa thượng Đồng Lưu – Thiện Phương (1906-1968), thế danh Bùi Văn Lưu, pháp danh Đồng Lưu, sinh tại tỉnh Thái Bình, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, trụ trì chùa Phước An (Thủ Dầu Một, Bình Dương), viên tịch, thọ 63 tuổi.

– Tháng 9, chùa Long Khánh, Qui Nhơn, tỉnh Bình Định mở Đại giới đàn, Hòa thượng Hành Thiện – Phúc Hộ (1904-1985) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Kế Châu làm Chánh chủ đàn, Hòa thượng Huệ Chiếu, Hòa thượng Tâm Hoàn làm Hóa chủ, Hòa thượng Giác Tánh, Hòa thượng Mật Nguyện làm Giáo thọ (BNSGĐTVN).

– Ngày 29 tháng 9 năm Mậu Thân, Đại đức Nhựt Chiếu – Huệ Quang (1930-1968), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Linh Sơn (Đức Hòa, Long An), thị tịch, trụ thế 39 năm.

– Ngày 22 tháng 10, Hòa thượng Tâm Thọ – Thiện Hỷ (1919-1968) họ Trần, pháp danh Tâm Thọ, tự Thiện Hỷ, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Tây Thiên (Huế), thị tịch, trụ thế 50 năm, 20 hạ lạp.

– Ngày 09 tháng 11, Hòa thượng Bổn Đức – Thành Đạo (1906-1977) được cử giữ chức Tổng vụ trưởng Hoằng pháp của GHPG Cổ truyền Việt Nam, văn phòng đặt tại chùa Phật Ấn (nay tại quận 1, Tp. HCM).

– Ngày 14 tháng Chạp năm Mậu Thân, Hòa thượng Thiện Khánh (1904-1968), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì chùa Thiên Phước (Thủ Đức, Gia Định), viên tịch, thọ 65 tuổi.

– Ngày 15 tháng Chạp năm Mậu Thân, Hòa thượng Huệ Hương – Linh Thắng (1906-1968), pháp húy Thị Tòng, tự Huệ Hương, hiệu Linh Thắng, sinh tại phường Trần Quang Diệu, TP. Quy Nhơn, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, Tổ khai sơn chùa Thiên Long (Quy Nhơn, Bình Định), viên tịch, thọ 63 tuổi.

– Hòa thượng Giác Trang – Hải Tràng (1884-1972) được Hội đồng viện Tăng Thống cung cử vào ngôi vị Phó Tăng Thống GHPGVNTN. Cũng năm này, ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn Phật học viện Hải Tràng ở chùa Phổ Quang, quận Phú Nhuận, tỉnh Gia Định.

– Hòa thượng Thanh Giới – Thiện Tường (1917-1984) được cử tham gia phái đoàn PGVN đi thăm các nước Phật giáo như Singapore, Đài Loan, Hồng Kông và Nhật Bản. Cũng năm này, ngày 16 tháng 7, ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho đại giới đàn miền Vĩnh Nghiêm tại Việt Nam Quốc tự, quận 10, Sài Gòn.

– Hòa thượng Như Lợi – Huyền Đạt (1903-1994) được tăng ni tín đồ suy cử làm Viện chủ Tổ đình Sắc tứ Thiên Ấn nay thuộc xã Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, và giữ trọng trách Thượng thủ Hội đồng Trưởng lão dòng Lâm Tế Tổ đình Thiên Ấn.

– Thượng tọa Hồng Phương – Trí Đức (1915-1999) sáng lập trường Trung Học Bồ-đề (Bạc Liêu).

– Hòa thượng Tâm Như – Mật Nguyện (1911-1972) được GHPGVNTN cử vào chức vụ CĐD miền Vạn Hạnh kiêm CĐD tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế.

– Đại đức Như Vạn – Trí Phước (1930-1980) được bầu làm Đặc ủy Cư sĩ kiêm Hoằng pháp của GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam.

– Hòa thượng Như Nhàn – Trí Giác (1915-2005) được thỉnh cử giữ chức vụ CĐD GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam.

– Thượng tọa Chơn Khai – Quang Lý (1918-1990) khai kỳ kiết hạ tại chùa Bửu Long (Quảng Ngãi), sau khi mãn hạ, ngài khai đàn truyền giới và được đại chúng thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu.

– Hòa thượng Như Huệ – Hoằng Thông (1894-1972) được cung thỉnh làm Hòa thượng Chứng minh đàn giới tại chùa Long Khánh (Qui Nhơn, Bình Định), do Giáo hội tỉnh Bình Định tổ chức.

– Thượng tọa Như Đăng – Trí Độ (1894-1979) tổ chức lớp chuyên nghiên cứu Duy Thức và Bách Pháp Minh Mộn luận tại Hà Nội (1968 – 1969).

– Thượng tọa Thị Huệ – Bảo An (1914-?) được cung thỉnh giữ chức vụ Đặc ủy Tăng sự GHPGVNTN tỉnh Bình Định, khóa II.

– Ni sư Như Ái – Hoằng Thâm (1924-2000) xây dựng chùa Liên Tôn II tại huyện Tuy Phước, Bình Định.

– Đại đức Hạnh Huệ – Đỗng Minh (1927-2005) được cử giữ chức Vụ trưởng Phật học vụ, thuộc Tổng vụ giáo dục GHPGVNTN.

– Ni sư Tâm Đăng – Chơn Như (1915-2005) đại trùng tu chùa Linh Sơn (Khánh Hòa) và xây dựng trường Trung Tiểu học Bồ-đề Linh Sơn, đồng thời mở Cô-Ký Nhi viện tại chùa Linh Sơn.

– Ni sư Đồng Độ – Tịnh Khiết (1920-1986) trụ trì chùa Kim Liên (nay tại quận 4, Tp. HCM), mở trường Tiểu học để giúp dân nghèo quanh vùng.

– Ni sư Hải Triều Âm (1920-2013) lên Đại Ninh (Lâm Đồng) lập tịnh thất Linh Quang, nhập thất 7 năm.

– Hòa thượng Thị Hải – Hành Sơn (1908-1989) thành lập Cô nhi viện An Hòa (Quảng Nam).

– Ni sư Như Nghiêm – Huyền Học (1920-1995) được cử làm Giám đốc điều hành giảng dạy Ni chúng thuộc hai lớp Trung đẳng Phật học chuyên khoa khóa I và II (1968-1974).

– Ni sư Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) được cung thỉnh làm Đàn chủ và Hòa thượng Đàn đầu giới đàn Ni tại chùa Từ Nghiêm (nay tại quận 10, Tp. HCM).

– Ni sư Không Luân – Thể Quán (1911-1982) được suy cử làm Đặc ủy xã hội GHPGVNTN tỉnh Thừa Thiên – Huế.

– Ni sư Nhựt Trinh – Liễu Tánh (1916-1982) được suy cử làm Vụ trưởng Ni bộ Bắc tông kiêm Trưởng ban Xã hội GHPGVNTN.

– Thượng tọa Trừng Hóa – Hưng Dụng (1915-1998) lãnh nhiệm vụ trụ trì chùa Kim Tiên tại ấp Bình An, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

– Thiền sư Đồng Thiện – Thiện Ân (1949-1970) đảm nhận chức trụ trì chùa Tân Long, quận Nhà Bè, tỉnh Gia Định.

– Đại đức Tâm Thô – Phước Quang (?-1968), thuộc thiền phái Lâm Tế Chánh tông, đời thứ 43, trụ trì chùa Bửu Thiền (Phan Thiết), thị tịch.

– Đại đức Thị Chí – Diệu Quả đại trùng tu chùa Linh Long tại phường Mũi Né, Phan Thiết.

– Thượng tọa Quảng Tịnh – Bửu Quang trùng tu chùa Sắc tứ Thiền Lâm tại làng Phú Lâm, tổng Đức Thắng, Phan Thiết.

– Hòa thượng Thiện Hưng – Quảng Công (?-1968), húy Quảng Công, tự Thiện Hưng, hiệu Huệ Nhạc, thuộc thiền phái Lâm Tế chánh tông, đời thứ 43, trụ trì chùa Bửu Long (Hàm Thuận Bắc – Bình Thuận), viên tịch.

– Thượng tọa Không Tâm – Trí Quảng (1915-1992) được kế thế trụ trì chùa Quy Thiện (Huế). Cũng năm này, ngài giảng dạy ở Phật học đường Báo Quốc và lớp Chuyên Khoa Cao đẳng Phật học Liễu Quán ở chùa Linh Quang thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế.

– Đại đức Tâm Trung – Chánh Trực (1931-1995) được bổ nhiệm giữ chức CĐD Phật giáo tỉnh Quảng Trị.

– Thượng tọa Giải Thâm – Kế Châu (1922-1996) khai Đại giới đàn tại chùa Long Khánh (Quy Nhơn) và ngài được thỉnh làm Chánh chủ đàn.

– Thượng tọa Tâm Bổn – Trí Nghiêm (1911-2003) được cung thỉnh làm Chứng minh Đạo sư của GHPGVNTN Khánh Hòa – Nha Trang.

– Đại đức Thiên Thái – Tâm Hòa (1923-2006) đảm nhận chức Chủ tịch Ủy ban Văn hóa Giáo dục kiêm Trưởng ban quản trị trường Tiểu học Bồ-đề Đà Nẵng.

– Hòa thượng Hoằng Thông – Minh Thành (1901-1979) được đề cử chức vụ CĐD GHPGVNTN tỉnh Bến Tre. Năm sau (1969), ngài được cử giữ chức Chủ tịch Phân hội Từ Nhựt.

– Đại đức Nhựt Định – Quảng Tấn (1945-1985) khai sáng chùa Linh Thiên nay tại số 507, ấp Rừng Sến, xã Mỹ Hạnh Bắc, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

– Hòa thượng Hồng Quảng – Huệ Sơn (?-1968), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Linh Nguyên (Đức Hòa – Long An), viên tịch.

– Đại đức Nhựt Tấn – Quảng Đức (1926-?) khai sáng chùa Quan Âm nay tại ấp S  Đo, thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, do Phật tử Đào Thị Cúc hiến cúng khu đất có diện tích 788m2.

– Đại đức Nhựt Thiện – Quảng Nghĩa (1924-2008) khai sáng chùa Linh Sơn nay tại số 413, ấp Rừng Dầu, xã Mỹ Hạnh Bắc, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, trên khu đất gia đình hiến cúng.

– Đại đức Chúc Bá – Thiện Trung (1954-1989) kế thế trụ trì chùa Phước An nay tại phường Phú Hòa, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

– Ni sư Diệu Khanh (1907-2001) khai sơn chùa An Lạc nay tại thôn Lạc Thiện, thị trấn Dran, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

– Hòa thượng Chơn Tảo – Nhật Minh (1908-1993) và tăng ni, Phật tử đại trùng tu chùa Linh Sơn hiện tại số 149, đường Cô Giang, quận I, Tp. HCM.

– Thượng tọa Hồng Hưởng sáng lập chùa Pháp Vương hiện tại số 3/9, đường Điện Biên Phủ, phường 15, quận Bình Thạnh, Tp. HCM.

– Thượng tọa Trí Hải – Quảng Liên (1925-2009) sáng lập chùa Hòa Quang hiện tại số 100/1C, khu phố 1, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Tp. HCM.

– Đại đức Quảng Trai – Chí Đạo (1945-2014) được bổn đạo cung thỉnh về trụ trì chùa Bửu Minh thuộc thị xã Hậu Bổn (Cheo Reo), tỉnh Phú Bổn (nay thuộc tỉnh Gia Lai).

– Hòa thượng Hồng Tín – Huệ Thành (1912-2001) được Chư sơn thiền đức suy tôn ngôi vị Tăng thống GHPG Cổ truyền Lục hòa Tăng Việt Nam (1968-1981).

01/01/1968

Năm 1968

Vào cuối thế kỷ XVII, Nhà nước Trung Hoa có sự đảo chánh, một số tướng lãnh và dân chúng nhà Minh không thần phục nhà Thanh nên bỏ nước ra đi. Họ trôi giạt xuống Nam Việt Nam, được chúa Nguyễn cho định cư. Họ ổn định cuộc sống ở đây và xem như đây là quê hương thứ hai của họ. Số người Hoa tập trung rải rác khắp nơi, nhưng nhiều nhất là khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn, Đồng Nai, Mỹ Tho, Hà Tiên… Riêng khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn (Q.5), số Hoa kiều có đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo tương đối rõ nét. Khu vực quận 5 cũng được xem là trung tâm trên mọi lĩnh vực của Hoa kiều tại thành phố, kể cả vấn đề tôn giáo.

Những ngôi tự viện ban đầu là do Hội Ngũ bang (5 nhóm người: Triều Châu, Quảng Đông, Phước Kiến, Hải Nam, Hẹ) đứng ra xây cất như chùa Ông Nghĩa An, chùa Bà Tuệ Thành, chùa Ông Bổn, Quan Âm miếu v.v.. thực tế khi mới thành lập, những cơ sở này được gọi là hội quán, dùng vào việc hội họp, đình đám, bàn việc làm ăn v.v.. Vấn đề sinh hoạt tín ngưỡng chỉ là một phần thôi. Về sau các Tăng sĩ từ Trung Hoa sang, chưa có tự viện nên tạm dừng chân tại các hội quán này. Qua thời gian, chúng biến thành chùa, từ đó trở thành nơi tín ngưỡng thuần túy, làm tiền đề cho việc phát triển PG Hoa tông sau này. Khi các hội quán được cải thành chùa thì xu hướng phát triển PG bắt đầu manh nha, Tăng sĩ Hoa tông số lượng cũng tăng lên. Từ đó, các bậc tôn túc người Hoa mới tính đến việc thành lập các ngôi tự viện để mở mang PG. Chùa Nam Phổ Đà, đường Hùng Vương, quận 6, được hai HT Thống Lương và Thanh Thuyền xây dựng vào năm 1945, được xem là ngôi chùa đầu tiên do các Tăng sĩ Hoa kiều tạo dựng. Rồi những năm tiếp theo, các ngôi chùa Hoa lần lượt mọc lên như chùa Quan Âm Trụ Trúc Lâm (Q.11) do HT Lương Giác xây năm 1951, chùa Hoa Nghiêm (Q.Bình Thạnh) do HT Thọ Dã xây năm 1952, Từ Ân thiền tự (Q.11) do HT Hoằng Tu xây năm 1955, chùa Vạn Phật (Văn phòng Ban Đại diện PG quận 5 hiện nay) do HT Diệu Hoa và HT Đức Bổn xây năm 1959, chùa Thảo Đường (Q.6) do HT Diệu Nguyên xây năm 1960…

Năm 1968, HT Siêu Trần từ Đài Loan sang, nhận thấy tiềm năng phát triển của PG Hoa tông tại Việt Nam, Ngài đã cùng HT Thanh Thuyền đi vận động để thành lập Giáo hội. Đến năm 1973, tại Đại hội ngày 20 tháng 5, hệ phái thống nhất lấy tên Giáo hội PG Hoa tông Việt Nam, trụ sở đặt tại số 195, lầu 4, đường Nguyễn Tri Phương – quận 5. Thành phần Ban Chấp hành Trung ương được suy cử  gồm: Cố vấn Ban Chấp hành: HT Hoằng Tu; Chủ tịch: Pháp sư Siêu Trần; Phó Chủ tịch: Pháp sư Thanh Thuyền; Tổng Thư ký: Thượng tọa Duy Nhật và một số vị trong Ban Thường trực gồm 10 người.

1967
01/01/1967

Năm 1967 (Đinh Mùi – PL.2511)

Năm 1967 (Đinh Mùi – PL.2511)

– Ngày 08 tháng 2 năm Đinh Mùi, Hòa thượng Trừng Thành – Vạn Ân (1886-1967), húy Trừng Thành, sinh tại thôn Vạn Lộc, xã Hòa Mỹ, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, Tổ khai sơn chùa Hương Tích (Phú Yên), viên tịch, thọ 82 tuổi, 61 hạ lạp. Sinh tiền, ngoài việc thuyết giảng giáo lý, Hòa thượng còn sáng lập và trùng tu trên 25 ngôi chùa.

– Ngày 25 tháng 3 (nhằm ngày 15 – 2 – Đinh Mùi), GHPGVNTN tổ chức Lễ trà tỳ nhục thân Cố Hòa thượng Chơn Quý – Khánh Anh (1895-1961) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì chùa Phước Hậu (Vĩnh Long), Pháp chủ GHTGNV. Sau đó, rước linh cốt về chùa Ấn Quang và chia thờ các nơi : chùa Ấn Quang (Sài Gòn), chùa Long Phước (Trà Vinh), Tháp Đa Bảo ở chùa Phước Hậu (Cần Thơ), chùa Long Phước (Vĩnh Long) (TSDTVN).

Ngày 10 tháng 4, Ni sư Hồng Hảo (?-1975) khai sơn xây dựng động đá Linh Quang Tịnh thất nay tại số 37/37A, đường Trần Xuân Độ, phường 6, TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đến ngày 28/4/1967 hoàn thành.

– Ngày 23 tháng 7, Hòa thượng Thanh Giới – Thiện Tường (1917-1984) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Chơn Tảo – Nhựt Minh làm Giáo thọ cho giới đàn tại Việt Nam Quốc tự nay thuộc phường 12, quận 10, Tp. HCM.

– Ngày 11 tháng 9, Đức Tăng thống Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) triệu tập các Trưởng giáo phái, hội đoàn sáng lập GHPGVNTN để thông báo về việc chính quyền Thiệu – Kỳ kỳ thị tôn giáo qua Sắc luật 23/67 và thành lập Ủy ban Bảo vệ Hiến chương (BNSPGGĐ-SG).

– Ngày 31 tháng 10, Thánh tử đạo Thị Hoàng – Giác Bình (1948-1967) thế danh Trần Văn Minh, pháp danh Thị Hoàng, tự Hạnh Đức, sinh tại xã Bình Đức, quận Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, tu học tại chùa Viên Giác (Quảng Ngãi), thiêu thân để bảo vệ Đạo pháp trước sân chùa Tỉnh hội Phật giáo Quảng Ngãi (LSTTTPLTCT).

– Hòa thượng Hành Thiện – Hưng Từ (1911-1991) khai sơn chùa Pháp Hội ở xã Tân An, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

– Hòa thượng Trừng Văn – Giác Nguyên (1877-1980) đứng ra lập Tịnh nghiệp đạo tràng Tây Thiên, với sự hỗ trợ và chấp thuận của Giáo hội Phật giáo Thừa Thiên và miền Vạn Hạnh.

– Thượng tọa Như Long – Huyền Tế (1905-1986) được Giáo hội cung thỉnh làm trụ trì chùa Tỉnh hội PGVNTN tại Quảng Ngãi (1967 – 1969).

– Hòa thượng Đồng Kỉnh – Tín Quả (1891-1978) khai sơn chùa Thiền Lâm (Đồng Đế, tỉnh Khánh Hòa).

– Thượng tọa Tâm Như – Mật Nguyện (1911-1972) đứng ra tổ chức lớp chuyên khoa nội điển Liễu Quán tại chùa Linh Quang (Thừa Thiên – Huế), do Ngài làm Giám đốc và chủ giảng lớp học này; Thượng tọa Tâm Hương – Mật Hiển được mời làm giáo sư.

– Hòa thượng Chơn Tá – Tôn Bảo (1895-1974) được suy tôn vào Hội đồng Viện Tăng thống GHPGVNTN. Cũng năm này, ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn xuất gia tại chùa Long Tuyền, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam.

– Đại đức Như Vạn – Trí Phước (1930-1980) đại trùng tu Tổ đình Phước Lâm ở Hội An, Quảng Nam.

– Thượng tọa Như Bình – Huyền Tịnh (1914-2003) khai sơn chùa Từ Quang ở tỉnh Quảng Ngãi.

– Đại đức Thị Duật – Liễu Không (1931-1999) kế thế trụ trì Tổ đình Thiên Bình nay ở làng Trung Lý, xã Nhơn Phong, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Thượng tọa Thị Tín – Phước Trí (1920-2002) được mời làm Giáo thọ sư Phật học viện Bảo Tịnh tỉnh Phú Yên (1967 – 1969).

– Thượng tọa Hạnh Phát – Phước Huệ (1929-1989) đảm nhận chức vụ Đặc ủy Tăng sự (Phật giáo tỉnh Khánh Hòa) (1967 – 1968).

– Đại đức Hạnh Huệ – Đỗng Minh (1927-2005) được mời giữ chức CĐD miền Khuông Việt, bao gồm các tỉnh cao nguyên Trung Phần.

– Ni sư Diệu Ninh – Như Huệ (1914-1984) hướng dẫn phái đoàn chư Ni Việt Nam sang hành hương các nước Nhật Bản, Đài Loan.

– Ni sư Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) mở trường Trung Tiểu học Kiều Đàm, gồm 14 lớp học, dạy từ Mẫu giáo đến lớp 9, có khoảng 800 học sinh.

– Bảo tháp Hòa thượng Tế Hẩu – Khánh Liên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 36, được tái lập trong khu vườn tháp chùa Bảo Tịnh nay ở số 174, đường Phan Đình Phùng, thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

– Hòa thượng Tâm Cảnh – Giác Hạnh (1880-1981) tiếp nhận chùa Tuệ Quang nay tại số 55, đường Tuệ Tĩnh, quận 11, Sài Gòn.

– Thượng tọa Trí Hải – Quảng Liên (?-2009) khai sơn Tu viện Quảng Đức nay tại số 2, đường Đặng Văn Bi, tổ 11, khu phố 6, phường Trường Thọ, quận Thủ Đức, Tp. HCM.

– Đại đức Nhựt Điện – Thiện Ký (1921-?) khai sơn chùa Từ Huệ nay tại xã Tam Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

– Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ (1904-1984) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Thiện Tường làm Giới sư cho giới đàn chùa Giác Nguyên tại phường Vĩnh Hội, quận 4, Sài Gòn.

– Ni sư Diệu Liên – Tâm Hoa (1916-?) nhận chùa Bà Cửu Tám tại thôn An Mỹ, Gia Lai. Ni sư trùng tu chánh điện chùa và đổi hiệu thành chùa An Thạnh.

Hòa thượng Hồng Diệp – Thiện Trang (1902-1975) được suy tôn làm Phó tăng trưởng Phật giáo Cổ Sơn Môn tỉnh Bình Dương (STPGBD).

– Hòa thượng Hồng Tín – Huệ Thành (1912-2001) được tôn cử chức vụ Đại Tăng trưởng GHPG Lục hòa Tăng. Cũng năm này,  ngài mở trường hạ tại Tổ đình Long Thiền (Biên Hòa – Đồng Nai), Hòa thượng làm Chủ hương kiêm Chứng minh, qui tụ đại chúng tại hạ trường trên 300 vị.

– Hòa thượng Chơn Thanh – Bích Nguyên (1900-1987) được cử về trụ trì chùa Viên Giác (chùa Làng) hiện tại Cầu Đất, xã Xuân Trường, Tp. Đà Lạt.

– Sư cô Như Định (1935-?) khai sơn Kim Quang Thiền viện (Kim Quang Ni tự) nay tại phường An H a, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

– Thượng tọa Nhật Thọ – Thiện Phước (1917-1994) về trụ trì chùa Phật Học Cần Thơ hiện tại số 11, đại lộ Hòa Bình, Tp. Cần Thơ.

1966
01/01/1966

Năm 1966 (Bính Ngọ – PL.2510)

Năm 1966 (Bính Ngọ – PL.2510)

– Ngày 15 tháng 4, Ni sư Diệu Liên thành lập Quan Âm Ni Viện nay tại khu phố Hải Tân, thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Tháng 4, Thiền sư Thích Thanh Từ (1924-?) về Núi Lớn – Vũng Tàu, chuẩn bị xây cất Pháp Lạc Thất để nhập thất tu thiền.

– Ngày 26 tháng 5 (nhằm ngày 09 – 4 – Bính Ngọ), Ni sư Tâm Đạo – Thanh Quang (1920-1966) thế danh Bùi Thị Lệ, húy Tâm Đạo, hiệu Thanh Quang, nguyên quán Vĩnh Thanh, tỉnh Nghệ An, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, tu học tại Ni viện Diệu Đức (Huế), tự thiêu thân cầu nguyện hòa bình tại chùa Diệu Đế (Huế), hưởng dương 46 tuổi, 17 hạ lạp.

– Ngày 14 tháng 4 năm Bính Ngọ, Hòa thượng Hồng Quang – Bửu Đức (1909-1966), thế danh Biện Hữu Phước, húy Hồng Quang, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 40, Tổ khai sơn chùa Phước Long (Đức Hòa, Long An), viên tịch, trụ thế 57 năm.

– Ngày 03 tháng 6 (nhằm ngày 15 – 4 – Bính Ngọ), Sư cô Nguyên Tuệ – Diệu Định (1940-1966) thế danh Đỗ Thị Cửu, pháp danh Nguyên Tuệ, tự Diệu Định, sinh tại xã Sơn Phong, quận Hiếu Nhơn, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, tu học tại chùa Bảo Quang (Đà Nẵng), vì pháp thiêu thân cúng dường Tam Bảo, hưởng dương 27 tuổi.

– Ngày 26 tháng 8, Phật học viện Huệ Nghiêm, quận Bình Chánh, tỉnh

Chợ Lớn mở giới đàn, Hòa thượng Trừng Nguyện – Đôn Hậu (1905-1992) được thỉnh làm Yết ma, Hòa thượng Trí Thủ làm Giáo thọ, Hòa thượng Thiện Tường làm Đệ nhị tôn chứng, Thượng tọa Huệ Hưng làm Đệ ngũ tôn chứng (BNSGĐTVN).

– Ngày 26 tháng 9, Hòa thượng Chơn Miên – Trí Hưng (1908-1986) được suy tôn chức vụ Phó Tăng Thống GHPGVNTN.

– Hòa thượng Ngộ Trí – Huệ Hưng (1917-1990) được cử làm Giáo sư tại Phật Học Viện Cao Đẳng Huệ Nghiêm (1966 – 1969).

– Hòa thượng Giác Hòa – Bửu Lai (1901-1990) được cử đảm nhiệm chức vụ CĐD miền Huệ Quang (gồm các tỉnh Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Mỹ Tho, Gò Công), văn ph ng được đặt tại chùa Kim Liên – Mỹ Tho.

– Hòa thượng Nguyên Đồ – Quảng Ân (1891-1974) được ông bà Phán Bổn cúng cho một miếng đất ở Mỹ Tho. Ngài cùng đồ chúng về đây xây dựng lên ngôi chùa Linh Phước thứ hai.

– Thượng tọa Thích Thiên Ân (1925-1980) được Cơ quan Văn hóa Á Châu của Liên hiệp quốc mời hợp tác giảng dạy trong chương trình trao đổi giáo sư. Mùa hè năm ấy, ngài lên đường sang Mỹ quốc, giảng dạy tại Đại học đường Nam California ở thành phố Los Angeles.

– Thượng tọa Như Long – Huyền Tế (1905-1986) vận động tín đồ đóng góp xây dựng chùa Bảo Linh tại Bàu Cả, làm nơi đào tạo tăng tài.

– Hòa thượng Như Lợi – Huyền Đạt (1903-1994) được cung thỉnh làm Đường đầu Hòa thượng tại Đại giới đàn Trúc Lâm (Tăng học đường thuộc thị trấn Sơn Tịnh – Quảng Ngãi).

– Thượng tọa Nguyên Phước – Quang Thể (1922-2005) được cung thỉnh giữ chức vụ CĐD Tỉnh Giáo hội (Phật giáo Đà Nẵng).

– Hòa thượng Như Hoàn – Giải Trác – Huệ Tràng (1896-1966), thuộc thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì Tổ đình Tam Thai (Hòa Vang, Quảng Nam), viên tịch, thọ 71 tuổi.

– Đại đức Chơn Phát – Long Tôn (1931-?) đảm nhận chức vụ CĐD GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam.

– Như Hường – Thọ Minh (1920-2000) thành lập Cô nhi viện Diệu Nhân.

– Thượng tọa Như Bình – Huyền Tịnh (1914-2003) được cung thỉnh làm Chứng minh Đạo sư của GHPGVNTN tỉnh Quảng Ngãi.

– Ni sư Tâm Đăng – Chơn Như (1915-2005) được cử làm Ủy viên Ni bộ Bắc tông kiêm Trưởng Ban Ni bộ Bắc tông GHPGVNTN tỉnh Khánh Hòa.

– Đại đức Như Hạnh – Huyền Thâm (1927-2005) được cử giữ chức PĐD kiêm Đặc ủy Thanh niên Phật tử thuộc GHPGVNTN tỉnh Gia Định (1966-1970).

– Hòa thượng Chơn Lý – Hoằng Trí (1894-1966) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì Tổ đình Tập Phước tỉnh Gia Định, viên tịch, thọ 73 tuổi.

– Đại đức Như Bổn – Hoằng Giáo (1921-1993) kế thế trụ trì Tổ đình Tập Phước tỉnh Gia Định (nay tại số 233, đường Phan Văn Trị, phường 11, quận Bình Thạnh, Tp. HCM).

– Đại đức Thành Văn – Nguyên Ngôn (1938-2005) được mời làm

Giáo thọ tại các trường Trung học Bồ-đề Sài Gòn, Chợ Lớn (1966-1969).

– Đại đức Viên Khánh – Thông Bửu (1936-2007) thành lập Ấn quán Phổ Đà Sơn và sáng lập tạp chí An Lạc, do ngài làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. Cũng năm này, ngài tổ chức lễ đặt đá trùng tu Tổ đình Quan Thế Âm nay tại quận Phú Nhuận, Tp. HCM.

– Thượng tọa Như Quả – Thiện Hoa (1918-1973) đảm nhận chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN.

– Đại đức Đồng Chí – Bảo Huệ (1935-1985) được cử làm CĐD GHPGVNTN tỉnh Long Khánh kiêm trụ trì chùa Long Thọ. Cũng năm này, ngài bị bắt đày đi Côn Đảo 3 năm.

– Hòa thượng Thị Hải – Hành Sơn (1908-1989) khai sơn chùa An Lạc tại Hội An, Quảng Nam.

– Sư cô Diệu Liên – Như Hoa (1925-2006) xây dựng trường Bồ Đề Trí Đức và Bồ Đề Nguyệt Quang.

– Ni sư Như Hường – Thọ Minh (1920-2000) thành lập Cô nhi viện Diệu Nhân bên cạnh chùa Bảo Thắng (Quảng Nam).

– Hòa thượng Trừng Kệ – Tôn Thắng (1889-1976) được suy tôn vào Hội đồng Trưởng Lão Viện Tăng thống GHPGVNTN.

– Thượng tọa Nguyên Chơn – Khế Hội (1916-?) được suy cử làm CĐD GHPGVNTN tỉnh Phú Yên và ngài đã tổ chức Phật học viện Phú Yên (1969-1975).

– Thiền sư Thị Bình – Diệu Khai (1908-1981) trùng tu chùa Viên Thông tại xóm Hành, ấp Tứ Tây, làng An Cựu, phía Tây Nam chân núi Ngự Bình (Huế).

– Thượng tọa Tâm Bổn – Trí Nghiêm (1911-2003) được suy cử giữ chức CĐD GHPGVNTN Khánh Hòa – Nha Trang.

– Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1891-1973) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Trí Thủ làm Giới sư cho giới đàn Phật học viện Hải Đức – Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

– Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ (1904-1984) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Trí Thủ làm Giáo thọ, Hòa thượng Định Quang làm Đàn chủ cho giới đàn Phật học viện Huệ Quang – chùa Huỳnh Kim, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định.

– Đại đức Hồng Phán – Quảng Tường (1936-?), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 40, khai sáng chùa Phước Hòa nay tại ấp Hòa Thuận 2, xã Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

– Đại đức Lệ Hồng – Huệ Hà (1936-2009) được cử làm CĐD. GHPGVNTN quận 5, Sài Gòn.

– Đại đức Nhựt Minh – Chí An, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, kế thế trụ trì chùa Thắng Quang nay tại ấp Nhất, xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang (1966-1975).

– Đại đức Nhuận Hiền – Phước Tịnh, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 46, xây dựng lại Linh Quang Cổ Tự tại ấp Trung, xã Dưỡng Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

– Đại đức Hồng Căn – Chí Tịnh (1913-1972) được Phật tử cung thỉnh về trụ trì chùa Phật Ân nay tại phường 7, TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

– Thượng tọa Thanh Đàm – Trí Dũng (1906-2001) chủ trì xây dựng chùa Phổ Chiếu và chùa Phổ Minh nay tại quận Gò Vấp, Tp. HCM.

– Hòa thượng Tâm Lợi – Thiện Hòa (1907-1978) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Lệ Quang – Thiện Thành làm Đàn chủ cho giới đàn chùa Giác Sanh, phường Phú Thọ Hòa, Sài Gòn. Giới đàn này có 200 giới tử thọ giới.

– Chùa Phụng Sơn ở Gia Định (nay tại số 1408, đường 3/2, phường 2, quận 11, Tp. HCM) được Thượng tọa Tâm Diệp – Phước Quang (1922?) trụ trì, mở trường Hương ba tháng. Trường Hương có 100 vị Tọa thiền thọ giới Sa-di và 120 vị Ngoại thiền thọ giới.

– Chùa Long Huê hiện ở số 131/27, đường Nguyễn Thái Sơn, quận Gò Vấp, Tp. HCM, đại trùng tu. Năm 1972, chùa lại được trùng tu lần nữa.

– Ni sư Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) khai sơn chùa Hải Vân, hiện tại số 74, đường Hạ Long, phường 1, Tp. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ni sư tiếp tục trùng tu, mở rộng chùa này vào các năm : 1969, 1972, 1974, 1990.

– Hòa thượng Thiện Hòa – Huệ Minh (?-1982) được suy tôn làm Tăng thống Cổ Sơn Môn Việt Nam.

– Đại đức Hồng Tịnh sáng lập Tu viện Viên Giác hiện tại số 160/4, đường G  Dừa, phường Tam Bình, quận Thủ Đức, Tp. HCM.

– Chùa Sắc tứ Long Huê ở xã Cai Hạt, tỉnh Gia Định (nay tại số 131/27, đường Nguyễn Thái Sơn, quận Gò Vấp, Tp. HCM) được trùng tu lớn. Chùa này lại được trùng tu lần nữa vào năm 1972.

1965
01/01/1965

Năm 1965 (Ất Tỵ – PL.2509)

Năm 1965 (Ất Tỵ – PL.2509)

– Ngày 17 tháng 3 (nhằm ngày 15 – 2 – Ất Tỵ), chánh điện chùa Quảng Hương Già Lam hiện tại số 498/11, đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp, Tp. HCM, xây dựng hoàn thành sau 5 tháng thi công và lễ an vị Phật.

– Tháng 4 năm Ất Tỵ, Chùa Phụng Sơn ở Gia Định (nay tại số 1408, đường 3/2, phường 2, quận 11, Tp. HCM) được Thượng tọa Tâm Diệp – Phước Quang (1922-?) trụ trì, mở trường Hương ba tháng. Trường Hương có 100 vị Tọa thiền thọ giới Sa-di và 250 vị Ngoại thiền thọ giới Sa-di.

– Ngày 17 tháng 7 (nhằm ngày 19 – 6 – Ất Tỵ), Tổ đình Từ Hiếu tại Cố Đô Huế, tỉnh Thừa Thiên khai Đại giới đàn Vạn Hạnh, Hòa thượng Trừng Thủy – Giác Nhiên (1878-1979) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Đôn Hậu làm Yết Ma, Hòa thượng Mật Nguyện làm Đàn chủ, Hòa Thượng Thiện Siêu khai đạo giới tử, Hòa thượng Mật Hiển làm Đệ tứ tôn chứng, Hòa thượng Giác Hạnh làm tôn chứng, Hòa thượng Hưng Dụng làm Đệ thất tôn chứng, Hòa thượng Đức Tâm làm Thư ký giới đàn. Giới đàn này có trên 100 giới tử xuất gia và 1.200 vị tại gia (BNSGĐTVN, TSDTVN).

– Ngày 30 tháng 7 năm Ất Tỵ, Đại đức Nhựt Điện – Thiện Ký (1921?) khai sơn chùa Từ Quang nay tại phường 5, Tp. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

– Ngày 11 tháng 9 năm Ất Tỵ, Hòa thượng Không Hoa – Huệ Chiếu (1898-1965) thuộc Tông Lâm Tế, đời thứ 41, trụ trì chùa Thập Tháp Di Đà (Bình Định) viên tịch, thọ 68 tuổi.

– Ngày 09 tháng 11 năm Ất Tỵ, Hòa thượng Như Ân – Trí Nguyện (1886-1965) họ Đặng, pháp danh Như Ân, tự Giải Nghĩa, hiệu Trí Nguyện, sinh tại Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì Tổ đình Vạn Đức (Hội An, Quảng Nam), viên tịch, thọ 80 tuổi.

– Đại đức Nguyên Minh – Viên Quang (1921-1991) nhận làm trụ trì chùa Thiền Lâm là chùa Tỉnh hội Phật giáo Bình Thuận.

– Đại đức Thích Trừng San (1922-1991) cầu pháp với Hòa thượng Tâm Như – Trí Thủ, được ban pháp hiệu Hải Tuệ và truyền kệ phú pháp như sau : “Hải tánh nan tư nghì, thừa đương nhân tự tri, không hoa do nhãn ế, sanh, Phật tất giai phi” (TSDTVN).

– Thượng tọa Tâm Chuẩn – Diệu Quang (1917-1996) được Giáo hội suy cử trụ trì chùa Bảo Tịnh (thị trấn Tuy Hòa) và chùa Ân Quang, thị trấn Phú Lâm, Hòa Thành, Phú Yên. Cũng trong thời gian này, ngài kiêm nhiệm chức vụ CĐD Phật giáo quận Hiếu Xương (huyện Tuy Hòa  ngày nay).

– Thượng tọa Hồng Phương – Trí Đức (1915-1999) lập ký nhi viện và trường mẫu giáo Vĩnh Hòa (Bạc Liêu).

– Đại đức Nhựt Sanh – Minh Thành (1937-2000) xây dựng Niệm Phật đường Pháp Vân tại phường Trương Minh Giảng, quận Ba (chùa Pháp Vân sau này). Đồng thời, ngài thành lập trường tiểu học Bồ Đề Pháp Vân và làm Hiệu trưởng.

– Thượng tọa Tâm Như – Trí Thủ (1909-11984) hành hương chiêm bái các danh lam Phật tích ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông.

– Thiền sư Như Bình – Trí Tánh (1902-1970) kế thế trụ trì Tổ đình Vạn Đức ở Hội An, Quảng Nam.

– Đại đức Chơn Khai – Quang Lý (1918-1990) khai sơn chùa Thiên Sơn và chùa Bửu Quang tại huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

– Thượng tọa Thị Huệ – Bảo An (1914-?) được mời làm CĐD GHPGVNTN huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

– Như Ái – Hoằng Thâm (1924-2000) được cử giữ chức vụ PĐD GHPGVNTN huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định (1965 – 1975).

– Thượng tọa Nhựt Sáu – Từ Nhơn (1926-2013) được bổ nhiệm trụ trì Việt Nam Quốc Tự nay thuộc quận 10, Tp. HCM.

– Hòa thượng Đạo Thông – Trí Thắng (1891-1975) mở ph ng Đông Y tại chùa Thiên Hưng (Phan Rang, Ninh Thuận) để chữa bệnh cho dân nghèo.

– Hòa thượng Như Trạch – Giải Anh – Bảo Đảnh (1911-1965) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Hưng Long (Tp. HCM), thị tịch, trụ thế 54 năm.

– Thượng tọa Như Vinh – Pháp Ý (1914-1989) kế thế trụ trì chùa Hưng Long nay thuộc phường 4, quận 10, Tp. HCM.

– Đại đức Viên Khánh – Thông Bửu (1936-2007) sáng lập tập san Sử Liệu Thức, do ngài làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút.

– Thượng tọa Như Trạm – Tịch Chiếu (1912-?) được cử làm CĐD GHPGVNTN tỉnh Bình Dương.

– Thượng tọa Như Mẫn – Hoàn Phú (1920-2007) được cử giữ chức CĐD GHPGVNTN liên quận Tam Bình, Trà Ôn  (1965-1973).

– Đại đức Đồng Giác – Tịnh Giác (1942-2005) đảm nhận trụ trì chùa Quang Minh tại Liên Chiểu.

– Ni sư Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) được cung thỉnh làm Đàn chủ và Hòa thượng Đàn đầu giới đàn Ni tại chùa Từ Nghiêm (nay thuộc quận 10, TP. HCM).

– Ni sư Hồng Tịnh – Giác Nhẫn (1919-2003) nhận lãnh trụ trì chùa Sắc tứ Huệ Lâm nay tại quận 8, Tp. HCM.

– Đại đức Tâm Lượng – Từ Mẫn (1932-2007) được cử làm PĐD GHPGVNTN Đà Nẵng, kiêm Trưởng ban quản trị trường Trung Học Tư Thục Bồ-đề Đà Nẵng và giảng dạy giáo lý cho cấp Trung học.

– Thượng tọa Quảng Nhơn – Ấn Tâm (1912-?) khai sơn chùa Phổ Minh nay tọa lạc xã Hàm Kiệm, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

– Thiền sư Tâm Ưng – Đảnh Lễ (1918-1968) khai sơn chùa Phước Hải tại làng Văn Xá, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

– Thượng tọa Nguyên Bình – Minh Cảnh (1906-1986) được cử giữ chức Đặc ủy Tăng sự GHTG Tuyên Đức (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng).

– Thiền sư Giải Thâm – Kế Châu (1922-1996) được Sơn môn suy cử kế thế trụ trì Tổ đình Thập Tháp nay thuộc thôn Vạn Thuận, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Đại đức Huyền Luận – Tâm Hướng (1923-1997) kế nhiệm trụ trì chùa Vạn Phước ở tỉnh Thừa Thiên – Huế.

– Thượng tọa Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được thỉnh làm Tuyên luật sư, khai đạo giới tử cho giới đàn chùa Từ Hiếu – Huế. Ngoài ra, năm 1968, ngài khai đạo giới tử cho giới đàn Phật học viện Hải Đức – Nha Trang; năm 1970, ngài làm Tuyên luật sư, khai đạo giới tử cho giới đàn Vĩnh Gia – Đà Nẵng.

– Hòa thượng Hoằng Thông – Minh Thành (1901-1979) khai sơn chùa Phật Nhựt xã Tiên Thủy (Bến Tre).

– Thượng tọa Thanh Giới – Thiện Tường (1917-1984) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Vạn Thọ, phường Tân Định, quận Nhất, Sài Gòn.

– Hòa thượng Hồng Anh – Ngộ Lý được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Liên Tông, quận Nhất, Sài Gòn.

– Hòa thượng Chơn Tá – Tôn Bảo (1895-1974) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Long Tuyền, Cẩm Kim, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam.

– Hòa thượng Quảng Nhu – Huệ Thắng (1899-1970) được suy tôn vào ban Cố vấn tối cao GHPGVNTN tỉnh Bình Dương.

– Thượng tọa Nguyên Bình – Minh Cảnh (1905-1986) được suy cử làm Đặc ủy Tăng sự GHTG tỉnh Tuyên Đức.

– Thượng tọa Như Niệm trùng tu chùa Pháp Hoa, hiện tại số 229/24B, đường Thích Quảng Đức, quận Phú Nhuận, Tp. HCM. Năm 1990, ngài xây tháp Đa Bảo cao 32m; đại trùng tu chánh điện vào năm 1993, 1994 với quy mô hiện đại.

– Thượng tọa Tâm Lợi – Thiện Hòa (1907-1978) được bầu làm Tổng Vụ trưởng Tổng vụ Tài chánh Kiến thiết GHPGVNTN. Cũng năm này, Thượng tọa sáng lập chùa Đại Hạnh hiện tại số 268, đường Lý Thái Tổ, phường 1, quận 3, Tp. HCM.

– Thượng tọa Nhất Hạnh sáng lập chùa Pháp Vân hiện tại số 01, đường 37, tổ 22, phường 18, quận Tân Bình, Tp. HCM.

– Đồng Chánh sáng lập Tịnh thất Vạn Liên hiện tại số 92/4, đường Tô Ngọc Vân, khu phố 5, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, Tp. HCM.

– Đại đức Quảng Động – Phước Thành (1918-2014) mở trường Tiểu học Tư thục Bồ Đề Pháp Vân trong khuôn viên chùa Thiên Phước, nay thuộc xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định  (1965-1977).

– Đại đức Trí Hải – Quảng Liên (1925-2009) tham dự Đại hội thành lập GHTG Thế giới tại Colombo (Tích Lan) và được cử làm Ủy viên Giáo dục Phật giáo Thế giới.

– Thượng tọa Hồng Tín – Huệ Thành (1912-2001) được cung thỉnh làm Chứng minh kiêm Pháp sư cho trường Hạ chùa Phụng Sơn nay thuộc phường 2, quận 11, Tp.HCM. Trường Hạ này có trên 100 vị Tăng về tu học.

1964
01/01/1964

Năm 1964 (Giáp Thìn – PL.2508)

Năm 1964 (Giáp Thìn – PL.2508)

– Ngày 19 tháng 02 năm Giáp Thìn, Ni sư Như Khánh khai sáng chùa Ân Thọ nay tại số 20/49, khu phố Bình Phú, phường 5, TP. Tân An, tỉnh Long An, do Phật tử Nguyễn Thị Phi hiến cúng khoảng 1 hecta đất để xây dựng chùa.

– Ngày 24 tháng 4 (nhằm ngày 03 – 3 – Giáp Thìn), Hòa thượng Phổ Quảng – Thiện T ng (1891-1964) thế danh Nguyễn Văn Thung, pháp danh Thiện T ng, húy Hồng T ng, hiệu Phổ Quảng, thuộc dòng thiền Lâm Tế, đời thứ 40, nguyên Đại Tăng trưởng Giáo hội Lục hòa Tăng, hoằng hóa ở chùa Trường Thạnh (Sài Gòn), viên tịch, thọ 74 tuổi, 50 tuổi đạo.

– Tháng 4, Hòa thượng Như Chánh – Huyền Tấn (1911-1984) được Hội đồng Viện Hóa Đạo công cử vào cương vị CĐD  GHPGVNTN tỉnh Quảng Ngãi.

– Ngày 21 tháng 6, Thượng tọa Trừng Hóa – Hưng Dụng (1915-1998) được chư tôn đức trong môn phái Báo Quốc cung cử kế nhiệm trụ trì Tổ đình Kim Tiên (Huế).

Ngày 21 tháng 6 năm Giáp Thìn, Hòa thượng Trừng Gia – Hưng Mãn (1901-1964) thế danh Đỗ Thông (tức Đỗ Trọng Tường), pháp danh Trừng Gia, tự Tư Tường, hiệu Hưng Mãn, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì chùa Kim Tiên (Huế) viên tịch, thọ 64 tuổi, 41 tuổi đạo.

– Ngày 25 tháng 7 năm Giáp Thìn, Hòa thượng Chơn Đạo – Chánh Thiện (1889-1964), thế danh Võ Văn Dư, húy Chơn Đạo, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 40, Tổ sáng lập chùa Thuận Phước (Cần Đước, Long An), viên tịch, trụ thế 75 năm.

– Ngày 24 tháng 10 (nhằm ngày 19 – 9 – Giáp Thìn), Lễ đặt đá xây dựng chánh điện chùa Quảng Hương Già Lam hiện tại số 498/11, đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp, Tp. HCM.

– Ngày 08 tháng 10 năm Giáp Thìn, Hòa thượng Hưng Thạnh (1894-1964) thế danh Trần Đăng Phong, hiệu Hưng Thạnh, sinh tại xã Duy Xuyên, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì chùa Phước Điền, viên tịch, thọ 70 tuổi.

– Ngày 11 tháng 10 năm Giáp Thìn, Hòa thượng Chơn Tân – Thiện Khoa (1901-1964), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì chùa Thiên Tôn (Thuận An, Bình Dương), viên tịch, thọ 64 tuổi.

– Tháng 10, Hòa thượng Thích Thế Long (1909-1985) được suy cử vào BTS TƯ. GHPGVNTN tại Đại hội kỳ III.

– Ngày 03 tháng 11, Đức Tăng thống Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) kêu gọi Phật tử bình tĩnh “giữ sức Quảng Đức”, không bạo động mặc dù Phật giáo đang bị sức mạnh đe dọa (BNSPGGĐ-SG).

– Ngày 13 tháng 12, Đức Tăng thống Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) và các Thượng tọa Trí Quang, Tâm Châu tuyệt thực 48 tiếng đồng hồ (BNSPGGĐ-SG).

– Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) được Đại hội PGVN suy tôn lên ngôi vị Tăng Thống GHPGVNTN. Hòa thượng thế danh là Nguyễn Văn Kỉnh, sinh tại làng Dưỡng Mông Thượng, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1905, ngài xuất gia tại chùa Tường Vân (Thừa Thiên – Huế), và sau này (1920) đắc pháp với Hòa thượng Bổn sư Thanh Thái – Phước Chỉ, được ban pháp hiệu Tịnh Khiết, ấn chứng và phú pháp kệ. Đến năm ngài 44 tuổi thì kế thế trụ trì chùa Tường Vân. Năm 1938, Hòa thượng được cung thỉnh làm Chứng minh Đạo sư sáng lập An Nam Phật Học Hội. Năm 1947, ngài được suy tôn chức vụ Tòng Lâm Pháp Chủ Trung Việt. Năm 1951, Hòa thượng tiếp tục được suy tôn làm Hội chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam. Năm 1963, ngài lãnh đạo cuộc đấu tranh bảo vệ tín ngưỡng, phản đối chính sách kỳ thị Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm (TSDTVN).

– Hòa thượng Giác Trang – Hải Tràng (1884-1972), được tôn cử vào Hội đồng Trưởng lão viện Tăng Thống GHPGVNTN. Cũng năm này, được sự chấp thuận của Viện Hóa Đạo, ngài chỉ đạo cho Hòa thượng Thiện Thông (trụ trì chùa Phổ Quang) thành lập Phật học viện Phổ Quang nay thuộc quận Phú Nhuận, Tp. HCM.

– Thượng tọa Huệ Long – Tâm Hoàn (1924-1981) được Đại hội toàn tỉnh suy cử chức PĐD Giáo Hội tỉnh Bình Định.

– Thượng tọa Thanh Giới – Thiện Tường (1917-1984) được cử giữ chức Tổng Vụ Tài Chánh Kiến thiết của GHPGVNTN, liên tiếp ba nhiệm kỳ (1964-1973).

– Hòa thượng Hành Thiện – Phúc Hộ (1904-1985) được cung thỉnh giữ chức CĐD GHPGVNTN tỉnh Phú Yên liên tiếp trong ba nhiệm kỳ (1964 – 1970).

– Hòa thượng Hồng Hạnh – Vĩnh Đạt (1911-1987) được tăng ni và Phật tử tỉnh Sa Đéc cung thỉnh vào ngôi vị CĐD Tỉnh Giáo Hội (Bến Tre) trực thuộc GHPGVNTN.

– Hòa thượng Nguyên Lưu – Giác Tánh (1911-1987) được Viện Hóa Đạo công cử làm CĐD miền Liễu Quán và là thành viên của Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống của GHPGVNTN.

– Hòa thượng Giác Hòa – Bửu Lai (1901-1990) được cử làm Giáo sư Phật học viện Phước Hòa (Trà Vinh) kiêm trụ trì chùa này.

– Hòa thượng Hành Thiện – Hưng Từ (1911-1991) được suy tôn vào Hội Đồng Trưởng Lão Viện Tăng Thống GHPGVNTN (1964-1978).

– Hòa thượng Trừng Nguyện – Đôn Hậu (1905-1992) được cử làm CĐD miền Vạn Hạnh thuộc GHPGVNTN.

– Thượng tọa Thích Thiên Ân (1925-1980) được cử làm Ủy viên Phật học vụ thuộc Tổng vụ Tăng sự GHPGVNTN.

– Hòa thượng Nguyên Đồ – Quảng Ân (1891-1974) được suy tôn làm Tăng trưởng Tỉnh Giáo hội (Phật giáo tỉnh Định Tường), Thượng tọa Quảng Châu – Hoằng Thông được bầu làm Tăng Giám.

– Hòa thượng Như Lợi – Huyền Đạt (1903-1994) được đề cử làm Đặc ủy Tăng sự GHPGVNTN tỉnh Quảng Ngãi (1964 – 1965).

– Thượng tọa Nguyên Chơn – Minh Tánh (1924-1995) được tăng ni, Phật tử suy cử làm CĐD Phật giáo tỉnh Long An.

– Thượng tọa Tâm Chuẩn – Diệu Quang (1917-1996) đảm nhận trụ trì chùa Bảo Tịnh, thị xã Tuy Hòa, Phú Yên.

– Hòa thượng Trừng Châu – Huyền Quý (1897-1999) được đề cử làm CĐD Phật giáo tỉnh Gò Công.

– Thượng tọa Hồng Phương – Trí Đức (1915-1999) được suy cử làm CĐD GHPGVNTN tỉnh Bạc Liêu.

– Thượng tọa Thích Thiện Tín (1921-1999) được bầu làm CĐD GHPGVNTN tỉnh Bến Tre.

– Thượng tọa Nhựt Kiến – Định Quang (1924-1999) được GHPGVNTN cử đảm nhiệm nhiều chức vụ : Phó Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hoằng pháp; Phó Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tài chánh Kiến thiết; Đặc ủy Tăng sự tỉnh Gia Định; CĐD GHPGVNTN tỉnh Gia Định.

– Thượng tọa Tăng Đức Bổn (1917-2000) thành lập Ban từ thiện Cứu tế chùa Phụng Sơn Sài Gòn.

– Đại đức Nhựt Sanh – Minh Thành (1937-2000) được cử làm CĐD Phật giáo phường Yên Đỗ, quận Ba. Tháng 4 năm này, ngài cùng BĐD Phật giáo quận Ba (Tp. HCM) tiến hành xây dựng Niệm Phật đường Minh Đạo (chùa Minh Đạo sau này) tại phường Yên Đỗ và ngài trụ trì ngôi tam bảo này.

– Thượng tọa Tâm Như – Trí Thủ (1909-11984) được suy cử làm Viện trưởng viện Cao Đẳng Phật Học đặt tại chùa Pháp Hội.

– Thượng tọa Tâm Như – Mật Nguyện (1911-1972) được cử giữ chức vụ PĐD miền Vạn Hạnh kiêm Tỉnh Giáo hội Thừa Thiên.

– Thượng tọa Trừng Chiếu – Từ Mãn (1918-2007) được GHPGVNTN tái bổ nhiệm trụ trì chùa Linh Sơn – Đà Lạt kiêm Trưởng Ban quản trị Trường Bồ Đề, Đà Lạt.

– Hòa thượng Nguyên Phước – Quang Thể (1922-2005) được cử giữ chức PĐD GHPGVNTN tỉnh Đà Nẵng.

– Thượng tọa Như Quang – Trí Minh (1904-1971) được mời làm Cố vấn cho GHPG Quảng Nam.

– Thượng tọa Hương Sơn – Trí Hữu (1912-1975) được Viện hóa đạo GHPGVNTN cử làm CĐD miền Liễu Quán.

– Đại đức Như Vạn – Trí Phước (1930-1980) được bầu làm Đặc ủy Cư sĩ kiêm CĐD GHPGVNTN quận Hiếu Nhơn, Quảng Nam.

– Đại đức Chơn Ngọc – Long Trí (1928-1998) được mời làm PĐD đặc trách Ngoại vụ kiêm Chánh thư ký và Đặc ủy thanh niên GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam.

– Đại đức Thích Long Tôn (1931-?) được cử giữ chức vụ Đặc ủy Tăng sự GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam.

– Đại đức Chơn Khai – Quang Lý (1918-1990) đảm nhận trụ trì chùa Thiên Bút (Quảng Ngãi).

– Hòa thượng Chơn Sử – Khánh Tín (1896-1992) được cung thỉnh vào Hội đồng Trưởng lão Viện tăng thống GHPGVNTN.

– Thượng tọa Như Bình – Huyền Tịnh (1914-2003) được thỉnh cử làm thành viên TW. GHPGVNTN.

– Thượng tọa Như An – Huyền Quang (1920-2008) được cung thỉnh vào chức vụ Tổng thư ký Viện hóa đạo kiêm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Cư sĩ GHPGVNTN. Cũng năm này, ngài đến thủ đô Thái Lan thăm viếng và tiếp xúc với một số chùa Việt Nam nhân chuyến hành hương (LSTTTPLTCT, CTTĐPGTH).

– Thượng tọa Thị Huệ – Bảo An (1914-?) đại trùng tu chùa Hưng Khánh (Bình Đình) quy mô và khang trang.

– Hòa thượng Thị Chí – Phúc Hộ (1904-1985) được cung thỉnh giữ chức vụ CĐD GHPGVNTN tỉnh Phú Yên.

– Thượng tọa Nhựt Sáu – Từ Nhơn (1926-2013) được suy cử giữ chức Ủy viên Tài chánh kiêm Phó Tổng vụ Tăng sự GHPGVNTN. Cũng năm này, ngài được giao chức Tổng thủ bổn Viện hóa đạo.

– Thượng tọa Thị Tín – Phước Trí (1920-2002) được cử đảm nhận chức Đặc ủy Tăng sự GHPGVNTN tỉnh Phú Yên.

– Thượng tọa Tâm Thanh – Tịch Tràng (1909-1976) được cử làm CĐD GHPGVNTN quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

– Đại đức Hạnh Phát – Phước Huệ (1929-1989) về làm trụ trì chùa Phổ Hiền, đồng thời đảm trách cương vị CĐD Thị hội Phật giáo Cam Ranh.

– Ni sư Tâm Đăng – Chơn Như (1915-2005) phát nguyện chích lưỡi lấy máu để viết Tâm Kinh Bát Nhã và Phẩm Phổ Môn trong Kinh Pháp Hoa tại chùa Hoa Nghiêm, Sài Gòn. Cũng vào năm này, Ni sư kiến lập chùa Tịnh Đức tại đồi Trại Thủy, Mã V ng, Nha Trang.

– Hòa thượng Đạo Thông – Trí Thắng (1891-1975) được cung thỉnh giữ chức Phó Tăng thống kiêm Giám luật Tịnh Độ tông Việt Nam.

– Thượng tọa Như Thọ – Huyền Tân (1911-1979) được cử giữ chức CĐD Tỉnh giáo hội Ninh Thuận và làm Cố vấn đạo hạnh cho gia đình Phật tử ở đây.

– Đại đức Như Hạnh – Huyền Thâm (1927-2005) xây dựng chùa Pháp Vân tại quận Bình Thạnh, Sài Gòn. Cũng năm này, ngài được cử làm Thư ký của GHPGVNTN tỉnh Gia Định.

– Thượng tọa Như Thiện – Hoàn Quan (1928-2005) được mời làm

Giáo thọ sư tại các trường Phật học như : Phật học viện Huệ Nghiêm, Huỳnh Kim, Hải Tràng, Dược Sư, Từ Thuyền, Bồ-đề Lan Nhã,…(từ năm 1964 – 1975). Cũng năm 1964, ngài khai sáng chùa Khánh Vân ở quận 11, Sài Gòn.

– Thượng tọa Như Khiêm – Bửu Thanh (1912-1979) kế thế trụ trì Tổ đình Thiên Tôn tại thị trấn An Thanh, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.

– Thượng tọa Như Quả – Thiện Hoa (1918-1973) được suy cử chức vụ Đệ nhất Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, kế đến nhận chức trụ trì Việt Nam Quốc Tự ở Sài Gòn.

– Đại đức Đồng Chí – Bảo Huệ (1935-1985) được thỉnh cử làm CĐD Phật giáo quận Hoài Đức, tỉnh Bình Tuy.

– Đại đức Đồng Viên – Viên Đức (1932-1980) khai sơn chùa Dược Sư tại TP. Buôn Mê Thuột.

– Thượng tọa Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012) được mời giữ chức Phó Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn, Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Văn Hóa và Giáo Dục GHPGVNTN (1964 – 1975).

– Thượng tọa Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được cử làm PĐD Phật giáo miền Vạn Hạnh, điều hành và giảng dạy lớp Cao đẳng Phật học chuyên khoa Liễu Quán tại chùa Linh Quang. Cũng năm này, ngài được mời làm Phó Giám viện Phật học viện Báo Quốc, PĐD GHPGVNTN tỉnh Thừa Thiên (1964-1974).

– Sư cô Nhật Liên – Trí Phát (1922-1986) thành lập Ni viện Diệu Quang tại huyện Bình Chánh, Chợ Lớn.

– Ni sư Như Nghiêm – Huyền Học (1920-1995) được suy cử làm Vụ trưởng Ni bộ Bắc tông GHPGVNTN.

– Ni sư Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) khởi công xây dựng chùa Hải Vân tại Bãi Dứa, Vũng Tàu.

– Ni sư Hồng Tịnh – Giác Nhẫn (1919-2003) được đề cử giữ chức Chánh thư ký Ni bộ Bắc tông kiêm Giám học Phật học Ni viện Từ Nghiêm nay tại quận 10, Tp. HCM.

– Hòa thượng Trừng Kệ – Tôn Thắng (1889-1976) được tiến cử làm Chứng minh Đạo sư GHPGVNTN thị xã Đà Nẵng.

– Đại đức Tâm Lượng – Từ Mẫn (1932-2007) được cử làm Đặc ủy Pháp sự kiêm Giám đốc Trung tâm Văn hóa Phật giáo Đà Nẵng.

– Hòa thượng Nguyên Hương – Tường Vân (1899-1983) đảm nhận chức Đặc ủy Tăng sự GHPGVNTN tỉnh Bình Thuận.

– Thượng tọa Tâm Thị – Thiện Minh (1922-1978) được bầu làm Phó viện trưởng Viện Hóa Đạo kiêm Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Thanh Niên GHPGVNTN.

– Thượng tọa Tâm Tuệ – Thanh Trí (1919-1984) được mời làm Đặc ủy Tài chánh kiến thiết GHPGVNTN tỉnh Thừa Thiên và TP. Huế.

– Thượng tọa Nguyên Minh – Đức Thiệu (1911-1993) được GHPG Trung Phần cử làm CĐD Hội Phật giáo tỉnh Kom Tum.

– Đại đức Tâm Trung – Chánh Trực (1931-1995) được cử giữ chức vụ Đặc ủy Thanh niên của BĐD Phật giáo tỉnh Thừa Thiên.

– Đại đức Nguyên Chơn – Khế Hội (1921-1999) được bầu làm Phó BĐD Phật giáo tỉnh Phú Yên.

– Thượng tọa Trí Hải – Quảng Liên (?-2009) được suy cử giữ chức Tổng vụ trưởng Tổng vụ Pháp sự (về Văn Hóa – Giáo Dục – Xã Hội) GHPGVNTN. Đồng thời, ngài sáng lập và xây dựng hệ thống trường Bồ Đề cả nước và giữ nhiệm vụ Hiệu trưởng Giám đốc Trung học Bồ Đề Sài Gòn – Chợ Lớn.

– Chùa Việt Nam Quốc tự, Sài Gòn mở Đại giới đàn Quảng Đức, Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1891-1973), Hòa thượng Giác Trang – Hải Tràng được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu; Hòa thượng Thiện Hoa làm Giáo thọ, Hòa thượng Thiện Hòa làm Yết Ma, Thượng tọa Thanh Kiểm, Thượng tọa Huệ Hưng làm Tôn chứng (BNSGĐTVN).

– Hòa thượng Hành Thiện – Phúc Hộ (1904-1985) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Tâm Như – Trí Thủ làm Giới sư cho Đại giới đàn tại Phật học viện Hải Đức – Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

– Đại đức Nhựt Hiển – Quảng Phát (1944-?) khai sáng chùa Quan Âm nay tại 377, ấp Rừng Dầu, xã Mỹ Hạnh Bắc, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, trên khu đất của gia đình hiến cúng.

– Đại đức Thích Thông Quang (1931-2008) thành lập Thiền viện Chơn Tánh nay tại số 33/12, đường Trần Xuân Độ, thôn 3, phường 6, TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Thượng tọa Như Khiêm – Bửu Thanh (1912-1979) kế thế trụ trì chùa Thiên Tôn nay tại thị xã An Thạnh, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.

– Hòa thượng Phước Quang (?-1964), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì Phù Cừ Am Tự (Hà Tiên, Kiên Giang), viên tịch.

– Đại đức Quảng Lăng – Thiện Huê (1923-2002) được Hội Phật tử Bắc Việt cung thỉnh về trụ trì chùa Đại Giác nay tại số 112, đường Nguyễn Văn Trỗi, phường 8, quận Phú Nhuận, Tp. HCM.

– Hòa thượng Tâm Lợi – Thiện Hòa (1907-1978) sáng lập Phật học viện Huệ Nghiêm ở Bình Chánh nay tại An Dưỡng Địa, khu phố 2, thị trấn An Lạc, huyện Bình Chánh, Tp. HCM (TSDTVN).

– Đại đức Như Thiện – Hoàn Quan (1928-2005) khai sáng chùa Khánh Vân hiện tại số 205, đường Quân Sự, phường 9, quận 11, Tp. HCM.

– Thượng tọa Tâm Khai sáng lập chùa Diệu Pháp hiện tại số 188, đường Nơ Trang Long, phường 13, quận Bình Thạnh, Tp. HCM.

– Đại đức Nhật Thanh – Thiện Thanh (1935-1995) được bổ nhiệm làm Tổng vụ Tăng sự GHPGVNTN, phụ trách ngành Tăng tịch.

– Đại đức Tâm Cần – Chơn Ngộ (1913-2013) được suy cử giữ chức Đặc ủy Tăng sự BĐD Phật giáo tỉnh Quảng Tín và Phó BĐD Phật giáo thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

– Đại đức Quảng Phước – Thiện Nhơn (1931-2013) được thỉnh cử làm CĐD GHPG tỉnh Gailai – Kontum. Cũng trong thời gian này, ngài thành lập và làm Giám đốc các trường Bồ Đề tại Pleiku (1964-1975).

– Đại đức Chân Từ – Thanh Kiểm (1920-2000) được GHPGVNTN cử làm Vụ trưởng phiên dịch, thuộc Tổng vụ Hoằng pháp kiêm Giáo sư Viện Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn (1964 – 1973).

– Nhị vị sư cô Nhật Pháp và Nhật Tâm kiến tạo chùa Thiền Quang nay tại số 403/1, đường Trương Công Định, phường 13, quận Tân Bình, Tp. HCM, và thỉnh Ni sư Tâm Ý – Hồng Chí (1913-2007) về trụ trì vào ngày mùng Một tết năm Giáp Thìn. Cũng vào tháng 10 năm này, Ni sư cùng chư tôn đức Tăng tham dự Đại hội Phật giáo Thế giới tại Ấn Độ, đồng thời rước di cốt của Hòa thượng Pháp chủ Huệ Quang về nước.

1963
01/01/1963

Năm 1963

Năm 1963, vì thấy chế độ tàn bạo độc tài, âm mưu tiêu diệt Phật-giáo của Ngô Triều, nên Bồ Tát Thích Quảng Đức phát nguyện thiêu thân để cứu nguy cho Dân tộc và Đạo pháp.

01/01/1963

Năm 1963

Cuộc cách mạng ngày 1/11/1963 đã chấm dứt chế độ tàn bạo độc tài của Ngô Triều. Phật-giáo thoát khỏi cơn đại nạn. Sau đó 2 tháng, một Đại Hội Phật-giáo Việt-Nam được tổ chức trọng thể từ ngày 30/12/1963 đến ngày 1/1/1964 tại chùa Xá Lợi Sài gòn, gồm cả Tăng Ni Phật tử Nam tôn và Bắc Tôn, để thống nhất thành một Giáo Hội, gọi là “Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất”.

01/01/1963

Năm 1963

Ngày 20/4 nhuần năm Quý Mão (11/6/1963), sau buổi lễ cầu siêu tại chùa Phật Bửu, hàng ngàn Tăng Ni đang diễn hành trên các đường phố để đòi chính phủ thực thi 5 nguyện vọng chân chính của Phật-giáo và đòi phải chấm dứt chính sách kỳ thị tôn giáo. Khi đến ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt, Bồ Tát Thích Quảng Đức từ trên xe ung dung bước xuống, đến ngồi kiết già tại giữa ngã tư, rồi tự tay mình quẹt lửa châm vào y hậu. Sau khi ngọn lửa bắt xăng bốc cháy cao phủ kín cả thân người trên 15 phút, Bồ Tát vẫn ngồi kiết già lưng thẳng như tượng đồng đen, tay còn bắt Ấn Tam Muội. Đến lúc lửa hạ ngọn, Bồ Tát gật đầu 3 lần như cuối chào vĩnh biệt, rồi ngã ngửa xuống.
Trước giờ thị tịch, Bồ Tát thốt ra những lời tâm huyết như sau:
“Trước khi tôi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng gởi lời cho Tổng thống Ngô Đình Diệm, nên lấy lòng Từ Bi Bác Ái mà đối xử với quốc dân và thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo, để giữ vững nước nhà muôn thuở.”
Và Bồ Tát không quên nhắn nhủ Tăng Ni và Phật tử như sau:
“Tôi thiết tha kêu gọi chư Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni và Phật tử nên đoàn kết nhất trí, hy sinh để bảo tồn Phật Pháp.”
Kim thân của Bồ Tát Quảng Đức quàn lại chùa Xá Lợi 5 ngày. Đến ngày 16/6/1963, Tất cả Tăng Ni và Phật tử trong Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật-giáo đưa Ngài về an dưỡng địa, cử hành trọng thể lễ Trà tỳ.
Sau khi hỏa thiêu suốt ngày, xương thịt đều tiêu hết nhưng trái tim Bồ Tát vẫn còn y nguyên, mặc dù đã thiêu bằng lửa điện trên 6 tiếng đồng hồ. Hiện nay trái tim Bồ Tát tôn thờ tại chùa Ấn Quang trụ sở tạm của Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất.
Sự thị tịch của Bồ Tát, có 2 điều huyền diệu:
1. Khi lửa cháy phủ người mà Ngài vẫn ngồi như tượng đồng đen, tay bắt ấn tam muội, chân ngồi kiết già, không hề lay chuyển.
2. Khi trà tỳ, xương thịt cháy hết, trái tim vẫn còn y nguyên. Sự huyền diệu này làm cho Tăng Ni và Phật tử trong ngoài nước đều vô cùng kính phục.
Linh cốt Bồ Tát, được tôn thờ tại các chùa như sau:
3. Việt Nam Quốc Tự, Trụ sở Viện Hóa-Đạo.
4. Chùa Ấn Quang, trụ sở Giáo Hội Tăng già toàn quốc.
5. Tháp Đa Bảo, chùa Phước Hậu, Trà Ôn.
6. Chùa Từ Nghiêm, trụ sở Ni Bộ Bắc Tông, …
7.Chùa Quán Thế Âm (Phú Nhuận) nơi di tích cuối cùng của Bồ Tát QUẢNG ĐỨC.

01/01/1963

Năm 1963

Năm 1963, chùa Từ Đàm là trung tâm chánh của phong trào Phật giáo tranh đấu chống chánh sách kỳ thị tôn giáo của chánh phủ Ngô Đình Diệm.
Hiện nay chùa Từ Đàm là trụ sở của tỉnh Hội Phật Giáo Thừa Thiên. Chùa Từ Đàm hiện nay được xây dựng mới hoàn toàn, không còn nguyên dạng lúc ban đầu. Kiến trúc chùa Từ Đàm dung hòa giữa nghệ thuật kiến trúc cổ và hiện đại, xây dựng bằng vật liệu nặng (xi măng, cốt sắt…) nhưng có lối kiến trúc cổ với nóc chùa có hai từng mái, lợp ngói ống, trên nóc chạm trổ rồng vờn hỏa châu.

01/01/1963

Năm 1963 (Quý Mão – PL.2507)

Năm 1963 (Quý Mão – PL.2507)

– Ngày 05 tháng Giêng năm Quý Mão, Hòa thượng Như Hòa – Tâm Ấn (1907-1963) húy Như Hòa, hiệu Tâm Ấn, sinh tại thôn Hưng Nghĩa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì Tổ đình Hưng Khánh (Bình Định), viên tịch, hưởng dương 57 tuổi.

– Ngày 19 tháng 2 năm Quí Mão, Hòa thượng Hồng Bích – Vĩnh Tràng (1881-1963) thuộc Tông Lâm Tế, đời thứ 40, trụ trì chùa Phước Hưng (Sa-Đéc, Đồng Tháp), viên tịch, thọ 83 tuổi.

– Ngày 22 tháng 3 năm Quí Mão, Hòa thượng Hồng Thanh – Thiện Thới (1887-1963), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Thạnh Hòa (Cần Giuộc, Long An), viên tịch, thọ 77 tuổi.

– Ngày 23 tháng 2 năm Quí Mão, Hòa thượng Hồng Khả – Huệ Quang (1890-1963) húy Hồng Khả, sinh tại Rạch Doi, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Tổ khai sơn chùa Giác Nguyên (Cần Giuộc – Long An), viên tịch, thọ 73 tuổi, 53 hạ lạp.

– Ngày 10 tháng 4, Thượng tọa Tâm Trí – Minh Châu, sau 13 năm du học ở Tích Lan (tốt nghiệp thủ khoa cử nhân Pali và tiến sĩ Phật học) về nước.

– Ngày 15 tháng 4 năm Quý Mão, Hòa thượng Ngộ Tánh – Phước Huệ (1875-1963) thế danh Nguyễn Văn Cự, pháp danh Ngộ Tánh, tự Hưng Long, hiệu Phước Huệ, sinh tại làng Trung Kiên, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 39, trụ trì chùa Hải Đức (Huế), viên tịch, thọ 89 tuổi, 69 hạ lạp.

– Ngày 17 tháng 5 năm Quý Mão, Hòa thượng Nhật Phổ – Trí Minh (1907-1963), thế danh Huỳnh Văn Hộ, húy Nhật Phổ, sinh tại làng Tân Hội (Bình Dương), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Long Thắng (Tân Uyên, Bình Dương), viên tịch, trụ thế 56 năm.

– Ngày 25 tháng 5, Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) triệu tập một cuộc gặp mặt giữa các tập đoàn thuộc Tổng Hội PGVN và đại diện các tổ chức và môn phái Phật giáo khác như Giáo Hội Nguyên Thủy, Thiền Tịnh, Đạo Tràng, Giáo Hội Theravada.v.v…để thảo luận về kế hoạch bảo vệ Phật giáo. Một Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo được thành lập để chỉ đạo cho cuộc vận động Phật giáo đồ do Thiền sư Tâm Châu đứng đầu làm chủ tịch dưới quyền lãnh đạo tối cao của đại lão Hòa thượng Tịnh Khiết (VNPGSL).

– Ngày 30 tháng 5, trong thời kỳ Pháp nạn, Hòa thượng Thích Bửu Lai (1901-1990) và một số Hòa thượng khác bị bắt giam tại trại Nguyễn Văn Phú, Bình Đông – Chợ Lớn (TSDTVN).

– Ngày 11 tháng 6 (nhằm ngày 20 – 4 – Quý Mão), Hòa thượng  Hạnh Pháp – Quảng Đức (1897-1963) thế danh Lâm Văn Tuất, sinh tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, nguyên trụ trì chùa Phước Hòa ở Bàn Cờ (1953), thiêu thân cúng dường và bảo vệ Đạo Pháp tại ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu và CMT8). Khi còn tại thế, ngài xuất gia thọ giáo với Hòa thượng Như Đạt – Minh Lý được ban pháp danh Thị Thủy, tự Hạnh Pháp, hiệu Quảng Đức, nối dòng thiền Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42. Hòa thượng từng giữ chức vụ Phó trị sự và Trưởng ban Nghi lễ GHTGNV, đã kiến tạo và trùng tu tất cả 14 ngôi chùa.

– Ngày 14 tháng 6, Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) Hội chủ Tổng hội PGVN, từ Huế vô Sài Gòn để họp giải quyết những bất đồng của các Ủy ban…

– Ngày 17 tháng 6, Thể theo lời yêu cầu của Tòa Đô chánh Sài Gòn, Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) Hội chủ Tổng hội PGVN, ra Thông bạch kêu gọi Phật giáo đồ toàn quốc “chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp quốc gia và thành tâm cầu nguyện cho bản Thông cáo chung được Chính phủ Diệm thi hành đúng đắn” (BNSPGGĐ-SG).

– Ngày 26 tháng 6, Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) Hội chủ Tổng hội PGVN, gởi thư cho Tổng thống Ngô Đình Diệm nêu rõ những trường hợp vi phạm Thông cáo chung đã ký và yêu cầu Tổng thống chứng tỏ thiện chí và quyền lực của chính mình bằng cách ra lệnh chấm dứt tình trạng vi phạm (BNSPGGĐ-SG).

– Ngày 16 tháng 8, Hòa thượng Tâm Nguyện – Tiêu Diêu (1892-1963) thế danh Đoàn Mễ, pháp danh Tâm Nguyện, hiệu Tiêu Diêu, sinh tại làng An Truyền, quận Hòa Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, tự thiêu tại chùa Từ Đàm (Huế), thọ 71 tuổi.

– Ngày 20 tháng 8, trong thời kỳ Pháp nạn của Phật giáo, Hòa thượng Trừng Nguyện – Đôn Hậu (1905-1992) bị bắt tại chùa Diệu Đế (Thừa Thiên – Huế) và bị đưa đi giam giữ (TSDTVN).

– Ngày 24 tháng 8, Một phái đoàn Tăng Ni và báo giới tới thăm Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) tại Bệnh viện Cộng Hòa. Cả sư bà Diệu Huệ cũng bị đưa về đây (BNSPGGĐ-SG).

– Ngày 28 tháng 8 năm Quý Mão, Hòa thượng Nhuận Tấn – Bảo Đạo (1886-1963), húy Nhuận Tấn, sinh tại Biên Hòa (Đồng Nai), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 46, trụ trì chùa Phước Tường (Lái Thiêu – Bình Dương), viên tịch, trụ thế 77 năm.

– Ngày 5 tháng 10, Đại đức Nguyên Diệu – Quảng Hương (1926-1963) thế danh Nguyễn Ngọc Kỳ, pháp danh Nguyên Diệu, hiệu Bảo Châu, sinh tại xã An Ninh, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, thuộc Tông Lâm Tế Liễu Quán, đời thứ 44, tự thiêu tại chợ Bến Thành (Sài Gòn), hưởng dương 37 tuổi, 14 hạ lạp.

– Ngày 27 tháng 10, tại chùa Ấn Quang, Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) tiếp phái đoàn của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc cử qua 7 người.

– Ngày 31 tháng 12, các đoàn thể Phật giáo trong đó có Tổng Hội PGVN khai mạc Đại Hội PGVNTN tại chùa Xá-lợi. Đại hội này đi đến quyết nghị thống nhất Phật giáo trong một giáo hội duy nhất gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, suy tôn Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) làm tăng thống lãnh đạo một viện Tăng Thống và bầu Thiền sư Tâm Châu làm viện trưởng viện Hóa Đạo (VNPGSL).

– Đại đức Như Vạn – Trí Phước (1930-1980) được bầu làm Ủy viên Đặc trách các huyện thị (tỉnh Quảng Nam).

– Ni sư Như Huyền – Hồng Từ (1917-1987) được mời giữ chức vụ Đặc ủy Xã hội kiêm Thủ quỹ BĐD GHPG tỉnh Quảng Ngãi.

– Hòa thượng Tâm Trí – Viên Giác (1911-1976) được tiến cử giữ chức Thư ký Tổng Vụ Hoằng Pháp trực thuộc Viện Hóa Đạo.

– Thượng tọa Huệ Long – Tâm Hoàn (1924-1981) được cử giữ chức Phó Giám Viện và Giáo thọ tại hai Phật học viện Phước Huệ và Tổ Đình Thập Tháp. Cũng năm này, ngài được cung thỉnh  làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Long Khánh tại thị xã Qui Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ (1904-1984) khai mở Phật học đường Chánh Giác tại chùa Chánh Giác (Gia Định) do ngài làm Giám đốc kiêm trụ trì. Cũng năm này, Hòa thượng kế thế trụ trì chùa Đông Hưng tại Thủ Thiêm, Sài Gòn.

– Hòa thượng Nguyên Lưu – Giác Tánh (1911-1987) được suy cử làm Tổng thư ký cho hai tổ chức GHTG và Tổng Hội Phật Giáo.

– Thượng tọa Thị Huệ – Bảo An (1914-?) được sơn môn cử làm trụ trì chùa Hưng Khánh (Bình Định).

– Ni sư Như Ái – Hoằng Thâm (1924-2000) đảm nhận trụ trì chùa Hương Quang ở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

– Đại đức Viên Khánh – Thông Bửu (1936-2007) kế thế trụ trì chùa Quán Thế Âm nay thuộc quận Phú Nhuận, Tp. HCM.

– Ni sư Đồng Độ – Tịnh Khiết (1920-1986) được Hòa thượng Thích Hành Trụ giao chùa Kim Liên nay tại quận 4, Tp. HCM, cho Ni sư làm trụ trì.

– Ni sư Nhựt Kỉnh – Trí Thuần (1911-2002) được đề cử làm trụ trì chùa Dược Sư (nay thuộc quận Bình Thạnh, TP. HCM) cùng Ban giám đốc quản lý, điều hành Ni trường Dược Sư.

– Hòa thượng Quảng Nhơn – Ấn Tâm (1912-?) khai sơn chùa Bửu Hùng nay tại thôn Hiệp Phước, xã Tân Thuận, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

– Hòa thượng Thích Phước Trí (1920-?) đảm nhiệm chức vụ Đặc ủy giáo dục Tăng Ni kiêm Ủy viên kiểm soát của GHTG tỉnh Phú Yên.

– Đại đức Thiên Hòa – Quang Phú (1921-1975) được cử giữ chức CĐD miền Khuông Việt, phụ trách các tỉnh Cao Nguyên và Nam Trung Bộ.

– Thượng tọa Tâm Trí – Viên Giác (1912-1976) được tiến cử giữ chức Thư ký Tổng vụ Hoằng Pháp trực thuộc Viện Hóa Đạo GHPGVNTN.

– Thượng tọa Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được bầu làm Hội trưởng Tỉnh hội Phật học Thừa Thiên.

– Sư cô Tâm Huyền – Chơn Thông (1934-1990) mở trường Sơ học Diệu Viên (Huế) để dạy con em Phật tử.

– Hòa thượng Như Thanh – Bửu Chí được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ, Thượng Tọa Giác Hạnh, Thượng Tọa Giác Viên làm Giới sư cho giới đàn chùa Chánh Giác tại quận Bình Thạnh, tỉnh Gia Định.

– Hòa thượng Trừng Thành – Vạn Ân (1886-1967) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Hương Tích, tại ấp Thạnh Phú, xã Hòa Mỹ Tây, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

– Hòa thượng Chơn Tá – Tôn Bảo (1895-1974) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn xuất gia chùa Long Tuyền, Cẩm Kim, tỉnh Quảng Nam.

– Hòa thượng Hoằng Thông – Minh Thành (1901-1979) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn tại chùa Tiên Linh nay thuộc huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, có khoảng 100 giới tử về thọ giới.

– Thượng tọa Hồng Quang – Bửu Đức (1909-1966) khai sơn chùa Tân Phước nay tại Ô 5, khu B, thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

– Chùa Khải Phước nay tại ấp ½, xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An, trùng tu. Năm 2008, chùa này lại được trùng tu.

– Hòa thượng Thích Minh Mẫn (Lê Văn Nhất), thuộc thiền phái Lâm Tế,  sáng lập chùa Minh Phước nay tại số 66/11, đường Hạ Long, Tp. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Chùa Minh Tịnh nay tại số 35, đường Hàm Nghi, phường Ngô Mây, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định mở giới đàn, Hòa thượng Chơn Phước – Huệ Pháp (1887-1975) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu.

– Đại đức Thị Châu – Từ Hàng (1912-1998) đại trùng tu chùa Bình An nay tại thôn Bình Thạnh, xã Nhơn Bình, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Đại đức Như Lai – Thanh Tịnh (1908-1972) khai sơn chùa An Long thuộc thôn An Thạnh, xã Phước Hậu, huyện Tuy Phước nay là khu vực 5, phường Nhơn Phú, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Thượng tọa Quảng Ninh – Từ Nghiêm (1908-1979) kế thế trụ trì chùa Phước Tường nay tại làng An Thạnh, Lái Thiêu – Bình Dương.

– Chùa Phụng Sơn ở Gia Định (nay tại số 1408, đường 3/2, phường 2, quận 11, Tp. HCM) được Viện khảo cổ cúng dường một trăm ngàn đồng để Thượng tọa Tâm Diệp – Phước Quang (1922-?) trụ trì trùng tu chánh điện chùa.

– Hòa thượng Vĩnh Lưu tổ chức trùng tu chùa Kim Cang, hiện tại số 129/4, đường Phan Đình Phùng, TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Chùa nay do Thiền sư Tế Duyên khai sơn vào năm 1739.

– Hòa thượng Thiện Hòa – Huệ Minh (?-1982) được suy tôn làm Phó Tăng thống Cổ Sơn Môn Việt Nam.

– Hòa thượng Chơn Khương – Trí Thới (1878?-1963), thế danh Đặng Văn Vị, hiệu Chơn Khương, thuộc thiền phái Lâm Tế, trụ trì chùa Long Quang (Tp. Cần Thơ), viên tịch.

– Ni sư Nhựt Định – Huyền Huệ (1924-2015) được tông môn mời về trụ trì Tổ đình Hải Ấn nay thuộc phường Tân Sơn Nhì, quận Tân Phú, Tp. HCM.

– Thượng tọa Chơn Miên – Trí Hưng (1908-1986) sáng lập chùa Thiền Lâm hiện tại số 570/2, đường Hùng Vương, phường 13, quận 6, Tp. HCM.

– Đại đức Nguyên Chơn – Khế Hội (1921-1999) được suy cử làm CĐD Phật giáo tỉnh hội Phú Yên.

– Thượng tọa Quảng Động – Phước Thành (1918-2014) được suy cử làm CĐD GHPG huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (1963-1981).

– Đại đức Hạnh Nhơn – Đỗng Quán (1925-2009) được suy cử làm Giám đốc Trường Trung học tư thục Bồ Đề Nguyên Thiều Diêu Trì nay tại thị trấn Diêu Trì, huyện Phước Tuy, tỉnh Bình Định.

01/01/1963

Năm 1963

Cuộc cách mạng ngày 1/11/1963 đã chấm dứt chế độ tàn bạo độc tài của Ngô Triều. Phật-giáo thoát khỏi cơn đại nạn. Sau đó 2 tháng, một Đại Hội Phật-giáo Việt-Nam được tổ chức trọng thể từ ngày 30/12/1963 đến ngày 1/1/1964 tại chùa Xá Lợi Sài gòn, gồm cả Tăng Ni Phật tử Nam tôn và Bắc Tôn, để thống nhất thành một Giáo Hội, gọi là “Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất”.

01/01/1963

Năm 1963

Năm 1963, Phật-giáo-Nam bị đại nạn. Ngô triều triệt hạ cờ Phật-giáo, chủ trương tiêu diệt Phật-giáo và đàn áp dân chúng. Lúc bấy giờ toàn thể Tăng, Ni và đồng bào Phật tử toàn quốc, cả Nam Tôn và Bắc Tôn đồng đứng dậy tranh đấu mãnh liệt, để bảo vệ Phật-giáo và cứu nguy Dân tộc.
Đến lúc căng thẳng, tình hình quá đen tối, Bồ Tát Quảng Đức đem thân làm đuốc, đốt lửa từ bi soi sáng cho Dân tộc và Đạo pháp,phá tan mây mù vô minh hắc ám của chế độ độc tài nhà Ngô, nêu gương oai hùng bất khuất của Dân tộc Việt Nam nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng, làm chấn động thế giới, cả quốc tế đều kính phục
Ngọn đuốc từ bi và oai hùng của Bồ Tát Quảng Đức mở đầu cho một loạt những ngọn đuốc thiêng khác, tiếp tục thắp lên từ năm 1963 cho đến bây giờ.

1962
01/01/1962

Năm 1962 (Nhâm Dần – PL.2506)

Năm 1962 (Nhâm Dần – PL.2506)

– Ngày 20 tháng 2, Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) Hội chủ Tổng hội PGVN, gởi thư kèm theo hồ sơ chứng minh những điều xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng và chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Diệm…(BNSPGGĐ-SG).

– Ngày 23 tháng 2, Hòa thượng Chơn Định – Huệ Quang (1890-1962), thế danh Lê Văn Khá, húy Chơn Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Tổ khai sáng  chùa Giác Nguyên (Cần Giuộc, Long An), viên tịch, thọ 73 tuổi.

– Ngày 04 tháng 3 năm Nhâm Dần, Hòa thượng Trừng Không – Tịnh Phổ (1880-1962) thế danh Mai Phước Thạnh, pháp danh Trừng Không, tự Pháp Thông, hiệu Tịnh Phổ, nguyên quán làng An Cựu, thôn Tứ Tây, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên – Huế, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ ở chùa Bảo Vân (Huế), viên tịch, thọ 83 tuổi.

– Ngày 19 tháng 3 năm Nhâm Dần, Hòa thượng Trừng Phong – Phước Nhàn (1886-1962) thế danh Trương Văn Ninh, pháp danh Trừng Phong, tự Phước Nhàn, sinh tại làng Phú Bình, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, thuộc dòng Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì Tổ đình Linh Sơn Diên Thọ (Bình Thuận), viên tịch, thọ 77 tuổi.

– Ngày 26 tháng 3 năm Nhâm Dần, Hòa thượng Chơn Tâm – Viên Minh (1888-1962) thế danh Trần Văn Thiện, pháp danh Chơn Tâm, tự Đạo Tánh, hiệu Viên Minh, sinh tại làng Ái Nghĩa, xã Lộc An, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, Tổ khai sơn chùa Sùng Đức (Phan Rang), viên tịch, thọ 75 tuổi.

– Ngày 12 tháng 6, Hòa thượng Chơn Miên – Trí Hưng (1908-1986) được suy tôn chức Phó Tăng Thống Quản Tăng Trung ương GHPG Cổ sơn môn Việt Nam.

– Ngày 06 tháng 7 năm Nhâm Dần, Hòa thượng  Chơn Chứng – Thiện Quả (1881-1962), thế danh Dương Văn Y, pháp danh Chơn Chứng, tự Đạo Tâm, hiệu Thiện Quả, sinh tại xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, thuộc dòng thiền Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, Tăng cang Tổ đình Chúc Thánh (Quảng Nam), viên tịch, thọ 82 tuổi.

– Ngày 31 tháng 7, Hòa thượng Tâm Lợi – Thiện Hòa (1907-1978) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ làm Tuyên luật sư, Hòa thượng Hoàn Tuyên – Thiện Hoa làm Giáo thọ, Thượng Tọa Ngộ Trí – Huệ Hưng làm Yết Ma cho giới đàn của Phật học đường Nam Việt (chùa Ấn Quang) tại thôn Vườn Lài, tỉnh Chợ Lớn (BNSGĐTVN).

– Ngày 16 tháng 9 năm Nhâm Dần, Hòa thượng Chơn Trừng – Đạo Thanh (1895-1962) thế danh Nguyễn Công Lực, pháp danh Chơn Trừng, tự Đạo Thanh, hiệu Hưng Duyên, sinh tại xã Giáng La, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, Tổ khai sơn chùa Pháp Hoa (Phú Nhuận, TP. HCM), viên tịch, thọ 67 tuổi, 47 hạ lạp.

Ngày 15 tháng 10 năm Nhâm Dần, Hòa thượng Đạt Hội (1891-1962), thế danh Lê Văn Hướng, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, trụ trì am Tỉnh Ngộ (Long An), viên tịch, thọ 72 tuổi.

– Ngày 01 tháng 12, Khai mạc Đại hội Phật giáo toàn quốc kỳ IV dưới quyền chủ tọa của Hòa thượng Hội chủ Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973).

– Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) đã ký cùng lúc hai văn thư gởi Tổng thống Ngô Đình Diệm và Quốc Hội để phản đối chính sách kỳ thị tôn giáo, kêu gọi tăng tín đồ đoàn kết nhất trí và cùng với chư Tôn đức khác lãnh đạo cuộc đấu tranh lịch sử này (TSDTVN).

– Thượng tọa Ngộ Trí – Huệ Hưng (1917-1990) xây dựng  Thiền viện Tập Thành ở Bà Chiểu (Sài Gòn).

– Hòa thượng Giác Hòa – Bửu Lai (1901-1990) được mời làm Giám viện Phật học đường Nam Việt (chùa Ấn Quang) nay tại quận 10, Tp. HCM.

– Hòa thượng Chơn Tảo – Nhựt Minh (1908-1993) nhận trọng trách mới làm Chủ tịch đoàn Như Lai Sứ Giả, tuyển chọn tăng tài bổ nhiệm trụ trì các tự viện và dẫn đầu Ban Hoằng Pháp đi thuyết giảng khắp các tỉnh Nam, Trung.

– Chùa Giác Lâm ở Gia Định mở Đại giới đàn, Hòa thượng Như Lý – Thiên Trường (1876-1970) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu.

– Hòa thượng Trừng Châu – Huyền Quý (1897-1999) được ông chủ Sáng hiến cúng cho ngài ngôi từ đường ở Gò Công. Ngài nhận lãnh và kiến tạo thành chùa Liên Hoa.

– Thượng tọa Hồng Phương – Trí Đức (1915-1999) được suy cử làm Trị sự trưởng GHTG quận Vĩnh Lợi (thuộc tỉnh Sóc Trăng).

– Tỳ-kheo Nhựt Sanh – Minh Thành (1937-2000) được phân công đi thuyết giảng giáo lý ở các trường Bồ-đề, các lớp sơ đẳng Phật học ở Sài Gòn – Chợ Lớn và các tỉnh miền Tây Nam Bộ.

– Thượng tọa Tâm Như – Trí Thủ (1909-1984) dẫn đầu phái đoàn Phật giáo Miền Nam tham dự Đại lễ thế giới Phật lịch 2500 ngày Đức Phật nhập Niết-bàn tại thủ đô Vientain Lào. Cũng năm này, Thượng tọa được cử làm trụ trì chùa Tỉnh Hội Đà Nẵng (LSTTTPLTCT, TSDTVN).

– Hòa thượng Nguyên Phước – Quang Thể (1922-2005) được bổ nhiệm trụ trì chùa Tỉnh hội Phan Thiết, Bình Thuận.

– Thiền sư Như Truyện – Trí Nhãn (1909-2004) kế thế trụ trì Tổ đình Chúc Thánh ở Hội An, Quảng Nam.

– Thiền sư Như Ân – Trí Nguyện (1886-1965) kế thế trụ trì Tổ đình Vạn Đức ở Hội An, Quảng Nam.

– Đại đức Chơn Phát – Long Tôn (1931-?) đảm nhiệm chức vụ Trị sự trưởng GHTG Quảng Nam.

– Ni sư Như Hường – Thọ Minh (1920-2000) được GHTG Quảng Nam – Đà Nẵng bổ nhiệm trụ trì chùa Bảo Thắng (Quảng Nam). Cũng năm này, Ni sư thành lập trường tiểu học Bồ Đề Diệu Nghiêm.

– Hòa thượng Chơn Định – Đạo Chí – Phước Huệ (1900-1962), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì Tổ đình Viên Quang (Quảng Ngãi), viên tịch, thọ 63 tuổi.

– Đại đức Như Tràng – An Tường (1926-?), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, kế thế trụ trì Tổ đình Viên Quang (Quảng Ngãi).

– Hòa thượng Chơn Phước – Huệ Pháp (1887-1975) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới tại giới đàn chùa Minh Tịnh (Quy Nhơn).

– Hòa thượng Như An – Huyền Quang (1920-2008) được thỉnh cử làm Phó Hội trưởng Hội Phật học Trung phần kiêm Hội trưởng Hội Phật giáo Thừa Thiên, Huế.

– Đại đức Thị Tín – Phước Trí (1920-2002) kế thế trụ trì Tổ đình Triều Tôn nay tại thôn Triều Sơn, xã Xuân Thọ 2, huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

– Đại đức Hạnh Phát – Phước Huệ (1929-1989) thành lập khuôn hội Phước Sơn ở Đại Lãnh và khuôn hội Khải Lương ngoài Hải Đảo.

– Thiền sư Thích Thanh Từ (1924-?), Vụ trưởng Phật học vụ, trình kế hoạch, chương trình đào tạo Trung Đẳng Chuyên Khoa và được Giáo hội chuẩn thuận.

– Lễ khánh thành chùa Từ Nghiêm (TP. HCM), trụ sở Ni bộ Nam Việt, do Ni sư Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) làm Viện chủ. Cũng năm này, Ni sư Nhật Phước – Như Huy (1922-2000) được cử giữ chức Giám thị kiêm Giáo thọ Ni trường chùa Từ Nghiêm (1962-1969).

– Thiền sư Tâm Luật – Huệ Lãng (?-1962) thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, trụ trì chùa Long Khánh (Qui Nhơn – Bình Định) viên tịch.

Lễ khánh thành Linh Phong Ni Tự nay tại số 72, đường Hoàng Hoa Thám, Tp. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, chùa do Ni sư Diệu Hòa – Từ Hương (1917-2006) khai sơn 1959.

– Thượng tọa Tâm Như – Mật Nguyện (1911-1972) tái thiết chùa Linh Quang nay tại TP. Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

– Thượng tọa Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được đảm trách chức vụ Hội trưởng Hội Phật học Thừa Thiên và giảng dạy cho Phật học đường Báo Quốc, Ni viện Diệu Đức nay tại Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

– Hòa thượng Tâm Cảnh – Giác Hạnh (1880-1981) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Tâm Như – Mật Nguyện, Hòa thượng Tâm Hương – Mật Hiển, Hòa thượng Tâm Phật – Thiện Siêu làm Giới sư cho giới đàn chùa Vạn Phước tại cố đô Huế, tỉnh Thừa Thiên.

– Hòa thượng Chơn Phước – Huệ Pháp (1887-1975) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Minh Tịnh, Qui Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Hòa thượng Chơn Miên – Trí Hưng (1908-1986) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Sắc tứ Từ Lâm, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

– Hòa thượng Chơn Tá – Tôn Bảo (1895-1974) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn xuất gia chùa Long Tuyền, Cẩm Kim, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam.

– Ni sư Nguyên Thanh – Đàm Hương (1912-1990) khai sơn Ni viện Diệu Quang nay tại TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

– Thượng tọa Trí Hải – Quảng Liên (?-2009) khai sơn chùa Liên Hải tại Thủ Đức (Tp. HCM).

– Hòa thượng Hoằng Thông – Minh Thành (1901-1979) được GHTGNV đề cử giữ chức vụ CĐD Phật giáo quận Hàm Long.

– Ni trưởng Minh Thông (1918-2012) khai sáng chùa Phật Hóa nay tại khu phố 3, thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, trên khu đất do chính quyền địa phương và dân làng hiến cúng.

– Ni sư Diệu Liên – Tâm Hoa (1916-?) được cung cử chức vụ Trưởng ban Ni bộ tỉnh Bình Định.

– Thượng tọa Nhựt Lượng (1912-1962), thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 41, trụ trì chùa Tân Hưng (Dĩ An – Bình Dương), viên tịch, trụ thế 50 năm.

– Đại đức Thích Thiện Bảo (1920-?) và Phật tử địa phương sáng lập chùa Đại Giác nay tại thôn 1, phường Lộc Châu, thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

– Đại đức Bổn Châu (1922-1995) được cử về trụ trì chùa Sắc tứ Tam Bảo nay tại phường Vĩnh Lạc, thị xã Rạch Giá,  tỉnh Kiên Giang.

– Hòa thượng Như Truyện – Trí Nhãn (1909-2004) được môn phong suy cử kế thừa trụ trì Tổ đình Chúc Thánh hiện tại đường Hai Bà Trưng, TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam.

– Thượng tọa Lệ Quang – Thiện Thành (1903-1986) được cử làm Giám Đốc Phật học đường Sơ đẳng đặt tại chùa Giác Sanh, nay tại số 103, đường Âu Cơ, phường 14, quận 11, Tp. HCM (1962-1975).

– Thiền sư Pháp Hải xây dựng chùa Pháp Hải hiện tại số 195, đường Trần Phú, phường 4, thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

– Hòa thượng Chân Pháp (?-1962), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, trụ trì chùa Long Phước (Bạc Liêu), viên tịch.

– Đại đức Hồng Hạnh – Vĩnh Đạt (?-1987) kế thế trụ trì chùa Phước Hưng  hiện tại số 74/5, đường Hùng Vương, phường 1, Tp. Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

– Đại đức Quảng Động – Phước Thành (1918-2014) trùng tu Tổ đình Thiên Phước nay thuộc xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Công trình trùng tu gồm : xây cất hậu Tổ, nhà Đông, nhà Tây, nhà chúng, nhà trù.

– Thượng tọa Ngộ Trí –  Huệ Hưng (1917-1990) xây dựng Thiền viện Tập Thành ở Bà Chiểu (nay thuộc Tp. HCM).

1961
01/01/1961

Năm 1961 (Tân Sửu – PL.2505)

Năm 1961 (Tân Sửu – PL.2505)

– Ngày 04 tháng 3, Lễ khánh thành Tổ đình Thiên Ấn ở xã Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, sau gần 2 năm trùng tu tái thiết. Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết, Hội chủ GHTG Trung Phần, quang lâm chứng minh, cắt băng khánh thành. Bấy giờ, Tổ đình do Thượng tọa Như Chánh – Huyền Tấn (1911-1984) làm trụ trì.

– Ngày 16 tháng 4 (nhằm ngày 30 – 1 – Tân Sửu), Hòa thượng  Chơn Quý – Khánh Anh (1895-1961) thế danh Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, tự Đạo Trân, hiệu Khánh Anh, sinh tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì chùa Phước Hậu (Cần Thơ), Pháp chủ GHTGNV, viên tịch, thọ 66 tuổi, 45 năm hành đạo. Những tác phẩm của Hòa thượng : Hoa Nghiêm Nguyên Nhân luận, Nhị Khóa Hiệp Giải, 25 Bài Thuyết Pháp của Thái Hư Đại Sư, Tại Gia cư sĩ luật, Duy Thức Triết Học, Qui Nguyên Trực Chỉ, Khánh Anh Văn Sao (3 tập) (TSDTVN).

– Ngày 06 tháng 7, Thượng tọa Chơn Miên – Trí Hưng (1908-1986) khai giới đàn tại chùa Sắc tứ Từ Lâm nay tại xã Tư Hiền, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, 3 ngày đêm. Tại giới đàn này, ngài được tấn phong Hòa thượng (53 tuổi, 27 hạ lạp).

– Ngày 08 tháng 7 năm Tân Sửu, Hòa thượng Hồng Thông – Trí Châu (1909-1961), sinh tại làng Thới H a, Tân Uyên, Thủ Dầu Một, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Long Sơn (Tân Uyên, Bình Dương), thị tịch, hưởng dương 53 tuổi.

– Ngày 25 tháng 7 năm Tân Sửu, Ni sư Như Lợi (1908-1961), thế danh Lý Thị Có, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 39,  Tổ khai sáng chùa Chánh Phước (Long An), viên tịch, trụ thế 55 năm.

– Ngày 26 tháng 9 năm Tân Sửu, Hòa thượng Chơn Vinh – Bích Truyền (1911-1961), pháp danh Chơn Vinh, tự Chánh Khương, hiệu Bích Truyền, quê ở Phan Thiết, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 43, trụ trì chùa Phật Quang (Bình Thuận), thị tịch, trụ thế 50 năm.

– Ngày 16 tháng 10 năm Tân Sửu, Đại đức Nguyên Tạ – Hoằng Chiếu (?-1961), thế danh Đặng Văn Tạ, húy Nguyên Tạ, quê ở tỉnh Tây Ninh, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 44, thị tịch.

– Hòa thượng Nguyên Lưu – Giác Tánh (1911-1987) được công cử làm Phó BTS GHTG Trung Phần.

– Đại đức Quảng Hương (1926-1963) được cử làm trụ trì chùa Khải Đoan kiêm giảng sư tại Tỉnh Hội Phật giáo Ban Mê Thuột.

– Hòa thượng Hành Đạo – Phước Ninh (1915-1994) trùng tu Tổ đình Bảo Sơn thuộc thôn Phong Thăng, xã An Định, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, thành ngôi bảo tự uy nghiêm tráng lệ.

– Đại đức Tâm Thật – Thiện Châu (1931-1998) được Giáo hội giới thiệu du học tại Viện Đại học Phật giáo Nalanda, bang Bihar, Ấn Độ.

– Hòa thượng Trừng Châu – Huyền Quý (1897-1999) được GHTGNV cử vào Giảng sư Đoàn đi giảng dạy ở các nơi : chùa Phật Học – Biên Hòa; chùa Phổ Quang – Phú Nhuận; chùa Thanh Trước – Gò Công; chùa Thới H a, chùa Giác Thiện – An Nhơn; chùa Thiên Phước – Gò Vấp.

– Thượng tọa Hồng Phương – Trí Đức (1915-1999) theo di chúc của Bổn sư, ngài được cử làm trưởng tử, kế thế tông môn, trụ trì chùa Vĩnh Hòa (Bạc Liêu).

– Đại đức Nhựt Kiến – Định Quang (1924-1999) khởi công xây dựng lại chùa Huỳnh Kim nay thuộc quận Gò Vấp, Tp. HCM.

– Thượng tọa Tâm Nhất – Mật Thể (1912-1961) thế danh Nguyễn Hữu Thể, pháp danh Tâm Nhất, tự Mật Thể, sinh ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thuộc Tông Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, thị tịch, hưởng dương 48 tuổi. Các tác phẩm của ngài như : Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, Phật Học Dị Giản, Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, Phật Giáo Khái Luận, Phật Giáo Yếu Lược, Cải Tổ Sơn Môn Huế, Xuân Đạo Lý, Mật Thể Văn Sao (do Lệ Như sưu tập).

– Hòa thượng Nguyên Phước – Quang Thể (1922-2005) khai sơn xây dựng chùa Thọ Quang ở xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

– Thượng tọa Hương Sơn – Trí Hữu (1912-1975) được cung thỉnh vào chức vụ Trị sự trưởng GHTG Quảng Nam – Đà Nẵng.

– Đại đức Chơn Phát – Long Tôn (1931-?) kế thế trụ trì chùa Long Tuyền (Quảng Nam).

– Hòa thượng Đồng Kỉnh – Tín Quả (1891-1978) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới Sa-di tại chùa Thiên Bửu Hạ, Ninh Hòa – Khánh Hòa.

– Hòa thượng Đạo Thông – Trí Thắng (1891-1975) được thỉnh làm Chứng minh Đạo sư cho BĐD Cổ sơn môn Trung Phần.

– Đại đức Như Quả – Thiện Hoa (1918-1973) kế thế trụ trì chùa Phước Hậu nay tại ấp Đông Hậu, xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

– Ni sư Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) được cung thỉnh làm Đàn chủ và Hòa thượng Đàn đầu giới đàn Ni tại chùa Từ Nghiêm nay thuộc quận 10, Tp. HCM.

– Ni sư Tâm Nguyệt – Thể Yến (1908-1989) mở Ký nhi viện Diệu Đức (Huế), do Ni sư làm Giám đốc.

– Thượng tọa Hành Thiện – Hưng Từ (1911-1991) khai sơn chùa Linh Sơn nay tại xã Lạc Tánh, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

– Thiền sư Nguyên Chí – Hải Huệ sáng lập chùa Nghĩa Phú nay tại thôn Đông Phước, thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

– Chùa Từ Đàm ở Thuận Hóa – Huế đại trùng tu, mở rộng quy mô, xây lại chánh điện, nhà Tổ, phương trượng, tăng xá với kết cấu bê tông cốt thép. Chùa này do Thượng tọa Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) làm trụ trì.

– Thượng tọa Tâm Như – Mật Nguyện (1911-1972) khai giới đàn tại chùa Linh Quang (Thừa Thiên – Huế).

– Thượng tọa Thanh Giới – Thiện Tường (1917-1984) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Giác Nguyên, phường Khánh Hội, Sài Gòn.

– Thượng tọa Như Quả – Thiện Hoa (1918-1973) được cung thỉnh làm Giới sư cho giới đàn chùa Ấn Quang tại thôn Vườn Lài, tỉnh Chợ Lớn. Trong số giới tử tại đây có ngài Trí Quảng thọ giới Tỳ-kheo.

– Hòa thượng Giác Trang – Hải Tràng (1884-1972) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Thượng tọa Thanh Giới – Thiện Tường làm Giới sư, Thượng tọa Ngộ Trí – Huệ Hưng làm Giáo thọ cho giới đàn chùa Vạn Thọ, phường Tân Định, Sài Gòn.

– Chùa Bửu Phong tại núi Bửu Long, tỉnh Biên Hòa mở Trường Kỳ giới đàn, Hòa thượng Thiện An được thỉnh làm Yết Ma cho giới đàn này.

– Hòa thượng Giác Trang – Hải Tràng (1884-1972) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Thượng tọa Thanh Giới – Thiện Tường làm Giới sư cho đại giới đàn chùa Phổ Quang thuộc quận Phú Nhận, tỉnh Gia Định.

– Hòa thượng Chơn Trí – Pháp Hải (1895-1961), thế danh Nguyễn Văn An, người Sa Đéc, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 39, trụ trì Tổ đình Long Phước (Vĩnh Long), viên tịch, thọ 67 tuổi.

– Thượng tọa Phát Huệ (1917-2008) được cung thỉnh làm Trị sự trưởng GHTGNV tỉnh Vĩnh Long.

– Thượng tọa Thích Đổng Hiển (?-1973) kế thế trụ trì chùa Long Sơn nay tại thôn Lâm Tuyền, thị trấn Dran, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

– Hòa thượng Thiền Quang (?-1961), thế danh Trần Văn Vạn, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, hoằng hóa ở Phù Cừ Am tự và chùa Hưng Long (Kiên Giang), viên tịch.

– Đại đức Quảng Đức – Bổn Chánh, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 45, kế thế trụ trì chùa Phước Thạnh tại thị trấn Cái Bè – Tiền Giang (1961-1970).

– Đại đức Quảng Cần – Trung Đức (1915-1975) kế thế trụ trì Khánh Quới Cổ Tự nay tại xã Tân Bình, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

– Đại đức Tâm Vân – Trí Ngọc, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, kế thế trụ trì chùa Kim Tiên, nay tại khu 7, thị trấn Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (1961-1976).

– Thượng tọa Trí Hải – Quảng Liên (?-2009) thành lập chùa Liên Hải nay ở số 11/37, đường Tân Hòa, phường Hiệp Phú, quận 6, Tp. HCM.

– Đại đức Tâm Cần – Chơn Ngộ (1913-2013) được Hòa thượng Tôn Thắng cử làm trụ trì chùa Tịnh Độ nay tại thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

1960
01/01/1960

Năm 1960 (Canh Tý – PL.2504)

Năm 1960 (Canh Tý – PL.2504)

– Ngày 08 tháng Giêng năm Canh Tý, Hòa thượng Chơn Phụng – Thiện Tánh (1896-1960), thế danh Nguyễn Văn Mi, húy Chơn Phụng, sinh  tại làng Phú Hòa, Thủ Dầu Một, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì chùa An Lạc (Thủ Dầu Một, Bình Dương), viên tịch, thọ 65 tuổi.

– Ngày 19 tháng Giêng năm Canh Tý, Hòa thượng Quảng Đống – Thiện Hồng (1891-1960), húy Quảng Đống, sinh tại làng Chánh Hiệp, Thủ Dầu Một, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 45, trụ trì chùa Đức Sơn (Thủ Dầu Một, Bình Dương), viên tịch, thọ 70 tuổi.

– Ngày 07 tháng 2 năm Canh Tý, Lễ khánh thành chùa Thới Bình nay tại ấp Phước Thới, xã Phước Lại, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

– Ngày 11 tháng 4, Hòa thượng Chơn Miên – Trí Hưng (1908-1986) tổ chức khánh thành chùa Sắc tứ Từ Lâm (Quảng Ngãi).

– Ngày 16 tháng 8 năm Canh Tý, Hòa thượng Nhựt Đổng – Thiện Phát (1887-1960), thế danh Lê Công Sơn, húy Nhựt Đổng, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, Tổ khai sáng chùa Hưng Long (Cần Đước, Long An), viên tịch, thọ 64 tuổi.

– Thượng tọa Tâm Hoàn – Huệ Long (1924-1981) được cử giữ chức Phó Đốc giáo Phật học viện Nguyên Thiều ở Bình Định.

– Hòa thượng Nhuận Huê – Thiện Hương (1903-1971) được Hội đồng Trưởng lão Giáo hội suy cử ngôi vị Đệ nhất Phó Tăng giám Trung Ương Giáo hội Lục hòa Tăng.

– Đại đức Thích Thiên Ân (1925-1980) du học ở Nhật Bản, đậu Tiến sĩ Văn Chương, sau đó trở về nước. Ngài được thỉnh giảng ở các trường đại học.

– Hòa thượng Nguyên Hương – Tường Vân (1899-1983) cùng với chư Hòa thượng : Phước Nhàn, Phước Như, Vĩnh Thọ tạo lập T ng Lâm Vạn Thiện (Phan Thiết) để làm cơ sở tu học cho chư tăng. Hòa thượng Tường Vân được chư sơn cử giữ chức Đệ nhất trụ trì Tòng Lâm này.

– Hòa thượng Trừng Châu – Huyền Quý (1897-1999) được cung thỉnh làm trụ trì chùa Thái Bình, Gò Công.

– Đại đức Thích Thiện Tín (1921-1999) trùng tu chùa Hội Phước ở Tân Thạch, Bến Tre.

– Thượng tọa Tăng Đức Bổn (1917-2000) hợp cùng Hòa thượng Diệu Hoa kiến tạo chùa Vạn Phật tại An Đông – Chợ Lớn để hoằng hóa đạo pháp vùng này.

– Hòa thượng Đồng Kỉnh – Tín Quả (1891-1978) khai sơn chùa Long Hoa ở Vạn Thắng (Vạn Ninh).

– Thượng tọa Tâm Như – Trí Thủ (1909-1984) được Ban Quản Trị ủy thác cho ngài vào Sài Gòn mua một sở đất tại xã Hạnh Thông, quận Gò Vấp, xây dựng tu viện Quảng Hương Già Lam.

– Thượng tọa Tâm Như – Mật Nguyện (1911-1972) đại trùng tu chùa Linh Quang ở tỉnh Thừa Thiên – Huế.

– Phật giáo Thừa Thiên dựng bia tháp của Đại sư Quảng Tuyên, thuộc thiền phái Lâm Tế, trụ trì chùa Bảo Sơn (hay Kim Sơn), trên đồi Lưu Bảo, nay thuộc xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.

– Hòa thượng Tâm Lai – Phước Hậu, thuộc dòng thiền Tế thượng Chánh tông, đời thứ 43, khai sơn chùa Thiên Linh nay ở số 279/22D, đường Bình Tiên, phường 8, quận 6, TP. HCM.

– Thiền sư Như Vạn – Trí Phước (1930-1980) kế thế trụ trì Tổ đình Phước Lâm ở Hội An, Quảng Nam.

– Thiền sư Như Nhàn – Trí Giác (1915-2005) kế thế trụ trì Tổ đình Tam Thai núi Ngũ Hành, huyện Hòa Vang, Quảng Nam.

– Đại đức Diệu Hòa – Phước Tạng (1923-1997) kế thế trụ trì Tổ đình Quang Lộc ở thôn Phước Long, xã Tư H a, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

– Thượng tọa Chơn Sử – Khánh Tín (1896-1992) được GHTG tỉnh Quảng Ngãi cung thỉnh làm Chứng minh Đạo sư của Hội.

– Ni sư Như Huyền – Hồng Từ (1917-1987) khai sơn chùa Tịnh Nghiêm ở phủ Tư Nghĩa, Quảng Ngãi.

– Ni trưởng Thị Hương – Diệu Hoa (1925-1995) trùng tu chùa Long Quang nay tại xã Cát Tường, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

– Đại đức Hạnh Phát – Phước Huệ (1929-1989) được cử làm Chánh hội trưởng Chi hội Phật giáo Vạn Ninh (1960-1962).

– Thiền sư Hành Pháp – Quảng Đức (1897-1963) đại trùng tu chùa Quán Thế Âm nay thuộc quận Phú Nhuận, Tp. HCM.

– Đại đức Như Thiện – Hoàn Quan (1928-2005) được mời làm Đốc giáo trường Phật học Phước Hòa tại Trà Vinh.

– Ni sư Đồng Chánh – Tịnh Như (1923-1986) khai sơn Linh Thứu Ni viện tại Mỹ Tho (1960-1962).

– Thượng tọa Chơn Trung – Minh Đức (1902-1985) được Tổng hội Phật giáo Trung Phần bổ nhiệm trụ trì chùa Linh Phước (Đà Lạt).

Thiền sư Thích Thanh Từ (1924-?) được cử giữ chức Vụ trưởng Phật học vụ thuộc Ban Hoằng pháp GHTGNV. Cuối năm này, Thiền sư về an trú tại Thiền Duyệt Thất gần Phương Bối Am của Thiền sư Nhất Hạnh, thuộc Buôn B” su Danglu, nay là Đại Lào, Bảo Lộc, Lâm Đồng.

– Ni sư Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) khởi công xây dựng chùa Phổ Đà (Vũng Tàu).

– Ni sư Trừng Thành – Hướng Đạo (1905-1974) trụ trì chùa Diệu Viên (Huế), thành lập Dưỡng Lão đường để giúp các cụ già neo đơn an dưỡng và tu niệm (HTCNVN).

– Sư cô Tâm Ngọc – Thể Thanh (1923-1988) được mời làm Giáo thọ của các Ni viện Diệu Đức, Diệu Viên (Huế), Diệu Quang (Nha Trang) và Phổ Hiền (Cam Ranh) (từ năm 1960 – 1970).

– Ni sư Trừng Hảo – Diệu Không (1905-1997) tổ chức một lớp học ngắn hạn cho Ni chúng tại Qui Nhơn và thỉnh Hòa thượng Như An – Huyền Quang đến giảng dạy cách thức làm trụ trì và giảng sư Ni.

– Đại đức Tâm Trì – Viên Mãn (1922-2001) lập thảo am (sau này là chùa Kỳ Viên) tại thôn An Thổ, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, để tu hành.

– Chư vị Trưởng lão Hòa thượng : Trừng Phong – Phước Nhàn, Phước Như, Vĩnh Thọ, Nguyên Hương – Tường Vân, Ấn Tâm chứng minh khai sơn T ng Lâm Vạn Thiện tự nay thuộc phường Phú Thủy, Tp. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

– Ni sư Nhựt Trinh – Liễu Tánh (1916-1982) được suy cử làm Trưởng ban Hoằng pháp của Ni bộ Nam Việt.

– Hòa thượng Thị Bình – Diệu Khai (1908-1981) trùng tu thượng điện chùa Viên Thông dưới chân núi Ngự Bình, huyện Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế. Hòa thượng tiếp tục trùng tu : dãy nhà Tây (1964),  dãy nhà Đông (1972), nhà hậu (1986).

– Thượng tọa Nguyên Tuyết – Như Ý (1908-1985) trùng tu chùa Tra Am ở Thuận Hóa – Huế, xây dựng lại chánh điện nguy nga.

– Thượng tọa Nguyên Minh – Đức Thiệu (1911-1993) được GHPG Trung Phần bổ nhiệm trụ trì kiêm Hoằng pháp tại chùa Tỉnh hội Phật giáo Phan Thiết.

Thượng tọa Hương Sơn – Trí Hữu (1913-1975) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Linh Ứng, núi Non Nước, quận Ngũ Hành Sơn, tỉnh Quảng Nam.

– Thượng tọa Tâm Trí – Viên Giác (1912-1976) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Giác Hải tại Vạn Giã, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

– Đại đức Trí Thắng – Đồng Huy (1919-2010) được Hòa thượng Tâm Lợi – Thiện Hòa cử về trụ trì chùa Đại Tòng Lâm (Bà Rịa – Vũng Tàu) để lo khai khẩn và kiến thiết (1960-1963).

– Ni sư Quảng Định – Như Lý (1930-2008) và đệ tử là Sư cô Như Vân được mời về hộ trì Tam Bảo chùa Long Hoa nay tọa lạc ấp Cầu Tràm, xã Long Trạch, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.

– Thượng tọa Nhựt Long – Thiện Căn (1902-2004) khai sơn chùa Hòa Bình, hiện tọa lạc tại khu phố 3, thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, trên khu đất rộng 625m2.

– Đại đức Nhựt Thừa – Thiện Thanh (1918-1996) khai sơn chùa Thiền Quang hiện tại số 123, ấp Phụng Thớt, xã Nhơn Ninh, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An, trên khu đất của gia đình hiến cúng.

– Đại đức Hồng Lương – Tâm Hồng (1914-1976) khai sáng chùa Tân Long nay tại ấp 2, xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, trên khu đất gia đình hiến cúng.

– Sư cô Nhật Hóa – Diệu Giáo (1924-2007) thành lập chùa Đức Quang nay tại số 403, ấp Bình Hữu 2, xã Đức Hòa thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, trên khu đất gia đình hiến cúng.

– Đại đức Nhuận Cần – Thiện Phú (1921-1977) kế thế trụ trì chùa Đức Sơn tại làng Hiệp Thành, Thủ Dầu Một (Bình Dương).

– Đại đức Đồng Nghĩa – Thiện Hoài (1921-1990) kế thế trụ trì chùa An Lạc (chùa Mục Đồng) nay tại xã Phú Hòa, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

– Đại đức Nguyên Trí – Tịnh Trí, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, kế thế trụ trì chùa Phước Lâm nay tại xã Phú Nhuận, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (1960-1968).

– Hòa thượng Quảng Cẩn – Hoằng Văn (1892-1960), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 45, trụ trì chùa Khánh Quới (Cai Lậy, Tiền Giang), viên tịch, thọ 69 tuổi.

– Thượng tọa Thanh Đàm – Trí Dũng (1906-2001) hưng công xây dựng chùa Phổ Minh nay tại quận Gò Vấp, Tp. HCM.

– Thượng tọa Tâm Diệp – Phước Quang trùng tu chùa Phụng Sơn ở Gia Định nay tại số 1408, đường 3/2, phường 2, quận 11, Tp. HCM.

– Hòa thượng Diệu Nguyên người Trung Hoa, sáng lập Thảo Đường Thiền tự hiện tại số 335/42, đường Hùng Vương, quận 6, Tp. HCM.

– Đại đức Nhật Thọ – Thiện Phước (1917-1994) được GHTGNV bổ nhiệm trụ trì chùa Xá Lợi hiện tại số 89, đường Bà Huyện Thanh Quan, quận 3, Tp. HCM (Nội san  Xuân Thế Kỷ, Lớp Cao đẳng Phật học Chuyên khoa tỉnh Cần Thơ Khóa I, 1998-2001).

– Chùa Huê Nghiêm hiện ở số 20/8, đường Đặng Văn Bi, thị trấn Thủ Đức, Tp. HCM, được Hòa thượng Lệ Phương – Thiện Bửu trùng tu. Chùa này tiếp tục trùng tu vào những năm : 1969, 1990.

– Thượng tọa Tâm Lợi – Thiện Hòa (1907-1978) sáng lập Phật học viện Giác Sanh, đặt tại chùa Giác Sanh, Phú Thọ (nay ở số 103, đường Âu Cơ, phường 14, quận 11, Tp. HCM). Cũng năm này, Thượng tọa Lệ Quang – Thiện Thành (1903-1986) được GHTGNV bổ nhiệm trụ trì chùa Giác Sanh.

– Thượng tọa Huệ Hải sáng lập chùa Từ Quang hiện tại số 68/5, đường Xuân Hiệp, khu phố 1, phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, Tp. HCM.

– Đại đức Hồng Trung – Huệ Hải (1919-2008) khai sáng chùa Từ Quang hiện tại số 68/5, đường Xuân Hiệp, khu phố 1, phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, Tp. HCM, do Phật tử Hà Vi Hưng – Minh Đức, Ôn Thị Đệ – Diệu Hạnh hiến cúng đất. Đến năm 1966, chùa xây dựng hoàn tất, tổ chức lễ khánh thành trọng thể.

– Đại đức Trí Hải – Quảng Liên (1925-2009) trình luận án Tốt nghiệp chuyên ngành nghiên cứu về vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa,…Đông Nam Á, và được công nhận học vị Tiến sĩ (phatgiaophuyen.com).

– Thượng tọa Hồng Tín – Huệ Thành (1912-2001) được Chư sơn thiền đức suy cử làm Tăng giám TƯ GHPG Lục hòa Tăng Việt Nam.

1959
01/01/1959

Năm 1959 (Kỷ Hợi – PL.2503)

Năm 1959 (Kỷ Hợi – PL.2503)

– Ngày 10 tháng 12 năm Mậu Tuất, Hòa thượng Ấn Ngân – Tín Thành (1885-1959), húy Ấn Ngân, tự Tổ Diệm, hiệu Tín Thành, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 39, trụ trì chùa Hội Phước (Khánh Hòa), viên tịch, thọ 75 tuổi.

– Ngày 06 tháng 8, Thượng tọa Như Chánh – Huyền Tấn (1911-1984) tổ chức lễ đặt đá trùng tu Tổ đình Thiên Ấn ở xã Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

– Ngày 07 tháng 9, Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) được suy tôn làm Hội chủ Tổng hội PGVN.

– Ngày 10 tháng 9, Thượng tọa Tâm Như – Mật Nguyện (1911-1972) được cử giữ chức vụ Trị sự Phó Giáo Hội kiêm Trưởng Ban Nghi lễ GHTG.

– Ngày 09 tháng 11, Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) Hội chủ Tổng hội PGVN từ Huế vào Sài Gòn. Hòa thượng đã triệu tập 3 phiên họp Hội đồng quản trị vào 3 chủ nhật (ngày 15, ngày 22 và ngày 29 – 11) để xem xét dự án của các Ủy viên Hoằng pháp, Nghi lễ và Giáo dục.

– Ngày 21 tháng 11 năm Kỷ Hợi, Hòa thượng Hồng Tôi – Thiện Tường (1890-1959) thế danh Nguyễn Văn Tôi, pháp danh Hồng Tôi, hiệu Thiện Tường, sinh tại Ngã Bảy, Phụng Hiệp (tỉnh Cần Thơ), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Tổ khai sơn chùa An Sơn (Châu Đốc, An Giang), viên tịch, thọ 70 tuổi, 35 hạ lạp.

– Ngày 18 tháng 12 năm Kỷ Hợi, Hòa thượng Lệ Minh – Hoằng Mẫn (1885-1959), thế danh Võ Văn Ơn, húy Lệ Minh, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 42, trụ trì chùa Hưng Phú (Long An), viên tịch, thọ 74 tuổi.

– Hòa thượng Giác Trang – Hải Tràng (1884-1972) kết hợp với BTS GHTGNV mở khóa kiết hạ tại chùa Thanh Trước ở Gò Công.

– Hòa thượng Tâm Hoàn – Huệ Long (1924-1981) được bầu vào chức Phó Hội trưởng Hội Phật Giáo tỉnh Bình Định.

– Hòa thượng Thị Chí – Phúc Hộ (1904-1985) vẫn giữ chức Hội Trưởng của GHTG và Phật Học Phú Yên để lèo lái con thuyền chánh pháp qua cơn sóng gió (1959 – 1963).

– Hòa thượng Thích Bửu Lai (1901-1990) được cử giữ chức vụ Tổng Thư Ký kiêm Thủ quỹ GHTGNV.

– Đại đức Hải Tuệ – Trừng San (1922-1991) được Phật học viện Trung Phần đề cử vào trụ trì chùa Thiên Bình, xã Hòa Tân, Cam Ranh, Khánh Hòa.

– Đại đức Nguyên Chơn – Minh Tánh (1924-1995) nhận làm trụ trì chùa Nguyên Thủy nay tại thị xã Tân An, tỉnh Long An. Nơi đây, ngài mở lớp dạy gia giáo, mở trường tư thục Bồ-đề, Tăng ni Phật tử theo học rất đông.

– Đại đức Nhựt Kiến – Định Quang (1924-1999) được ông Nguyễn Văn Sắc và bổn đạo cung thỉnh về trụ trì chùa Huỳnh Kim, là ngôi chùa của gia tộc họ Nguyễn.

– Hòa thượng Chơn Thông – Đồng Phước (1895-1968) trùng tu Tổ đình Cổ Lâm thuộc thôn Hà Nha, xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

– Đại đức Trí Phước – Như Vạn (1930-1980) được GHTG Quảng Nam và Tông môn cử làm trụ trì Tổ đình Phước Lâm nay ở Tp. Hội An, tỉnh Quảng Nam.

– Thượng tọa Như Nhàn – Trí Giác (1915-2005) được GHTG Quảng Nam bổ nhiệm trụ trì Tổ đình Tam Thai (Quảng Nam).

– Thượng tọa Chơn Khai – Quang Lý (1918-1990) được cung thỉnh làm Đệ nhất tôn chứng tại giới đàn chùa Nghĩa Phương, Nha Trang.

– Hòa thượng Chơn Phước – Huệ Pháp (1887-1975) được Hội Phật giáo Cổ truyền Lục Hòa Tăng và Lục Hòa Phật tử thỉnh làm Chứng minh Đạo sư Trung Phần.

– Hòa thượng Đồng Kỉnh – Tín Quả (1891-1978) được cung thỉnh làm Chứng minh Đạo sư GHTG tỉnh Khánh Hòa (1959-1962).

– Thượng tọa Như Thọ – Huyền Tân (1911-1979) đại trùng tu Tổ đình Thiền Lâm (Ninh Sơn, Ninh Thuận), đến năm 1961 thì hoàn tất, và ngài viết văn bia ghi lại tích Tổ khai sơn Liễu Minh – Đức Tạng. Chùa Thiền Lâm sau khi trùng tu trở thành một già-lam nguy nga.

– Thiền sư Hành Pháp – Quảng Đức (1897-1963) đến trụ trì chùa Quán Thế Âm nay thuộc quận Phú Nhuận, Tp. HCM.

– Ni sư Diệu Ninh – Như Huệ (1914-1984) được mời giữ chức Quản lý chùa Từ Nghiêm (Sài Gòn, Gia Định).

– Ni sư Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) cùng quí Ni sư trong Quản trị Ni bộ Nam Việt tổ chức Lễ đặt đá xây dựng chùa Từ Nghiêm nay thuộc phường 4, quận 10, Tp. HCM, để làm trụ sở Ni bộ Nam Việt.

– Ni sư Trừng Thành – Hướng Đạo (1905-1974) trụ trì chùa Diệu Viên (Huế), mở bệnh xá khám bệnh, bốc thuốc cho người nghèo.

– Ni sư Nhựt Trinh – Liễu Tánh (1916-1982) được suy cử làm Trưởng ban Hoằng pháp Ni bộ.

– Lễ khánh thành Tổ đình Cổ Lâm tại xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, sau gần 5 năm trùng tu. Buổi lễ dưới sự chứng minh của Tăng cang Chơn Chứng – Thiện Quả (1881-1962).

– Đại đức Nguyên Phước – Quang Thể (1922-2005) khai sơn chùa Thọ Quang nay tại xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Đến năm 1962, chùa xây dựng hoàn thành.

– Ni sư Từ Hương – Diệu Hòa (1917-2006) khai sơn Linh Phong Ni Tự tại Đà Lạt.

– Hòa thượng Trừng Phong – Phước Nhàn (1887-1962) khai sơn chùa Phước Trí tại Gi  Định, Hiệp Nghĩa, Phong Điền.

– Thượng tọa Nguyên Châu – Chơn Quang trùng tu chùa Tây Long tại xã Hòa Thắng, tỉnh Phú Yên.

– Đại đức Tâm Thị – Thiện Minh (1922-1978) được cử làm Trị sự trưởng Tổng hội Phật giáo Trung Phần.

– Thượng tọa Nguyên Minh – Đức Thiệu (1911-1993) xây dựng chùa Hồng Từ làm cơ sở Phật giáo tỉnh hội Kom Tum và ngài trụ trì chùa này.

– Hòa thượng Chơn Phước – Huệ Pháp (1887-1975) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Nghĩa Phương tại Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

– Thượng tọa Thanh Giới – Thiện Tường (1917-1984) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Vạn Thọ tại Tân Định, Sài Gòn.

– Hòa thượng Trừng Kệ – Tôn Thắng (1889-1976) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Phổ Thiên (Phổ Đà) tại thị xã Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam.

– Hòa thượng Thích Nguyên Thái (?-1959), thế danh Trần Hữu Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 43, Tổ khai sáng chùa Long Sơn (Đơn Dương, Lâm Đồng), viên tịch, thọ 63 tuổi.

– Thượng tọa Thanh Đàm – Trí Dũng (1906-2001) tái thiết toàn bộ chùa Phổ Quang nay tại quận Tân Bình, Tp. HCM.

– Thượng tọa Chơn Tảo – Nhựt Minh (1908-1993) khai sáng chùa Phật Tích Tòng Lâm, hiện tại ấp Thanh Nguyên, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

– Thượng tọa Thiện Hỷ trùng tu chánh điện chùa Đại Giác ở Cù lao Phố, ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, tỉnh Đồng Nai, đến ngày 12 – 2 – 1961 lễ lạc thành. Năm 1967, ngài tiếp tục xây nhà thờ Tổ của chùa này.

– Đại đức Diệu Hòa và Đại đức Tăng Đức Bổn (1917-2000) sáng lập chùa Vạn Phật ở Chợ Lớn nay tại số 66/14, đường Nghĩa Thục, phường 5, quận 5, Tp. HCM.

– Đại đức Quảng Động – Phước Thành (1918-2014) khai sơn chùa Phổ Đà Quan Âm tại thôn Vạn Ninh, xã Mỹ Tài, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

01/01/1959

Năm 1959

Năm 1959, Thượng Tọa Thích Huyền Quang sáng lập Tu Viện Nguyên Thiều tại tỉnh Bình Định, sau cúng cho Giáo Hội Bình Định, dưới hệ thống của Giáo Hội Trung Phần. Trung tâm Tu Viện có tôn trí kim thân Phật Tổ Lộ Thiên rất uy nghiêm, cao 7 thước (cả tòa ngồi 2 thước). Kiến tạo năm 1964. Hiện nay Tu Viện Nguyên Thiều được phát triển như thế là do công lao của Thượng Tọa Huyền Quang và chư Tăng Bình Định xây dựng vào năm 1959.

01/01/1959

Năm 1959

Ngày 31/3/1959, nhằm mùng 1 tháng 3 Đinh Dậu, một đại hội Giáo Hội Tăng già toàn quốc lần thứ 2 được triệu tập tại chùa Ấn Quang Sài gòn. Đại hội suy tôn Hòa Thượng Khánh Anh làm Thượng Thủ, Thượng Tọa Thiện Hòa là Trị sự Trưởng, trụ sở đặt tại chùa Ấn Quang Sài gòn. Giáo Hội Tăng già tòan quốc ngưng hoạt động vào cuối năm 1963, để trao nhiệm vụ lại cho Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống nhất.

1958
01/01/1958

Năm 1958 (Mậu Tuất – PL.2502)

Năm 1958 (Mậu Tuất – PL.2502)

– Tháng 3, Hòa thượng Thanh Thiện – Đức Nhuận (1897-1993) được bầu làm Phó Hội trưởng Hội Phật giáo Thống Nhất Việt Nam (ở miền Bắc), ngài đảm nhiệm chức vụ này liên tục qua bốn kỳ Đại hội, từ năm 1979 ngài làm quyền Hội trưởng cho đến năm 1981.

– Ngày 10 tháng 3 năm Mậu Tuất, Lễ khánh thành chùa Hải Hội tại làng Mân Quang, Sơn Trà, Đà Nẵng. Chùa này do Hòa thượng Như Niệm – Bảo Toàn (1899-1970) khai sơn.

– Ngày 30 tháng 3 năm Mậu Tuất, Thượng tọa Hồng Thành – Huệ An (1901-1958), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 42, trụ trì chùa Bửu Linh (Thủ Thừa – Long An), viên tịch, trụ thế 58 năm.

– Ngày 08 tháng 4 năm Mậu Tuất, Thượng tọa Thanh Đàm – Trí Dũng (1906-2001) khởi công xây dựng chùa Nam Thiên Nhất Trụ (chùa Một Cột) hiện tại số 511, đường Nguyễn Du, thị trấn Thủ Đức, Tp. HCM. Chùa có diện tích độ một héc-ta, kiến trúc kiểu dáng chùa giống như chùa Một Cột ở Hà Nội.

– Ngày 03 tháng 9 năm Mậu Tuất, Hòa thượng Hải Ấn – Chánh Thành (?-1958) thuộc Tông Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 40, trụ trì chùa Sắc Tứ Minh Thiện (Diên Khánh, Khánh Hòa) viên tịch.

– Ngày 06 tháng 9 năm Mậu Tuất, Ni sư Nguyên Lợi – Diệu Duyên (1899-1958), thế danh Phạm Thị Lời, húy Nguyên Lợi, thuộc dòng Tế Thượng – Chánh Tông, đời thứ 42, Tổ sáng lập chùa Linh Bửu (Tân Trụ, Long An), viên tịch, thọ 60 tuổi.

– Hòa thượng Trừng Thủy – Giác Nhiên (1877-1979) đảm nhiệm chức vụ Chánh Hội Trưởng Tổng Trị Sự Hội Phật Giáo Trung Phần, trong suốt 4 niên khóa  (1958-1962).

Thượng tọa Ngộ Trí – Huệ Hưng (1917-1990) được cử làm Giáo thọ giảng dạy tại Phật học đường Phước Hòa (Trà Vinh).

– Hòa thượng Tâm Hương – Mật Hiển (1907-1992) Trị sự trưởng GHTG Trung Việt, cùng với các Hòa thượng Thiện Hoa, Thiện Minh, Tâm Châu, Đại diện PGVN tham dự Hội nghị Hòa Bình Thế Giới tại Nhật Bản.

– Hòa thượng Nguyên Hương – Tường Vân (1899-1983) được đồ chúng cung thỉnh trụ trì chùa Liên Thành – Phú Long.

– Đại đức Nguyên Tánh – Đức Tâm (1828-1988) được GHTG Thừa Thiên giao trách nhiệm Phó trụ trì Quốc Tự Diệu Đế – Huế.

– Hòa thượng Trừng Châu – Huyền Quý (1897-1999) được GHTGNV bổ nhiệm về làm trụ trì chùa Phật Học – Cần Thơ, sau đó về làm trụ trì chùa Xá-lợi – Sài Gòn (mỗi khóa trụ trì là 3 tháng).

– Thiền sư Chân Đạo – Chánh Thống (1901-1968) được mời vào Bình Định dạy ở chùa Thập Tháp cho các học tăng.

– Thượng tọa Trừng Chiếu – Từ Mãn (1918-2007) đặt đá xây dựng chùa Hoa Nghiêm (huyện Cưmgar, Daklak), chùa Nam Thiên (xã Hòa Thuận, Daklak).

– Thượng tọa Thích Diệu Nguyên (người Trung Quốc), thuộc thiền phái Tào Động, xây dựng Thảo Đường Thiền Tự nay ở số 335/42, Hùng Vương, quận 6, TP. HCM.

– Hòa thượng Chơn Miên – Trí Hưng (1908-1986) được suy cử chức Tăng trưởng Tỉnh hội Phật giáo Cổ Sơn Môn.

– Thượng tọa Như Nhàn – Trí Giác (1915-2005) được bầu làm Trị sự trưởng GHTG Quảng Nam.

– Thượng tọa Thị Sa – Bình Chánh (1916-1985) trùng tu Tổ đình Sơn Long ở núi Trường Úc, thôn Thuận Nghi, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Ninh, trấn Bình Định.

– Thiền sư Trí An – Đồng Thiện (1922-2001) cùng Hòa thượng Như An – Huyền Quang (1920-2008) và chư tôn túc thành lập Tu viện Nguyên Thiều (Bình Định). Sau đó, mở Phật học viện Nguyên Thiều, do Hòa thượng Huyền Quang làm  Giám viện.

– Thiền sư Chơn Bích – Trí Huy (1917-1970) khai sơn chùa Pháp Hoa tại tỉnh Đaknong.

– Thiền sư Thích Thanh Từ (1924-?) đảm nhận chức vụ Hội trưởng Hội Phật học (Trà Vinh) kiêm giảng sư Phật học đường Lưỡng Xuyên (Trà Vinh) và Phật học đường Phước Hòa.

– Ni sư Từ Hương – Diệu Hòa (1917-2006) xây dựng Ký Nhi viện Nhị Trưng tại Đà Lạt.

– Chùa Cảnh Thái tại thôn Đông Mỹ, xã Hòa Vinh, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, trùng tu. Chùa này do Thiền sư Trừng Thành – Vạn Ân (1886-1967) khai sơn.

– Thiền sư Hồng Nam – Huyền Không (1906-1983) được Sơn môn và Giáo hội cử giữ chức trụ trì chùa Quốc Ân ở Thuận Hóa – Huế.

– Thượng tọa Nguyên Minh – Đức Thiệu (1911-1993) khai sơn chùa Bửu Minh (huyện Cheo Reo), xây dựng chùa Bửu Tịnh tại huyện Ayonpa và thành lập Phật giáo huyện này.

– Thiền sư Giải Thâm – Kế Châu (1922-1996) được cử làm Giám đốc Phật học đường thuộc GHTG Bình Định.

– Hòa thượng Trừng Nguyên – Đôn Hậu (1905-1992) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Tâm Hương – Mật Hiển, Hòa thượng Hương Sơn – Trí Hữu làm Giới sư cho giới đàn chùa Linh Ứng tại núi Non Nước, quận Ngũ Hành Sơn, tỉnh Quảng Nam.

– Hòa thượng Ngộ Tánh – Phước Huệ (1875-1963) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Thiên Bửu thuộc thôn Điềm Tịnh, xã Ninh Phụng, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

– Đại đức Hồng Thạnh – Huệ Khương (1915-1994) sáng lập chùa Phật Quang nay tại số 96, ấp Xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, do Phật tử Trần Thị Bến hiến cúng khu đất 10.000 m2.

– Đại đức Từ Năng – Giác Nguyên (1911-1988) kế thế trụ trì chùa Bạch Sa nay tại số 35, đường Biên Cương, phố Ngô Mây, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Đại đức Tâm Hoàn – Huệ Long (1924-1981) nhận lời thỉnh cầu của Phật tử khuôn hội Phương Mai, ngài chứng minh khai sơn và đặt tên chùa Hương Mai (nay tại thôn Hải Nam, xã Nhơn Hải, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định), đồng thời quy y tập thể cho đồng bào địa phương.

– Đại đức Thích Huệ Thông (1935-?) kế thế trụ trì chùa Núi Châu Thới nay thuộc xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

– Thượng tọa Nhật Tinh – Trí Tấn (1906-1995) được Giáo hội suy cử làm Tăng giám tỉnh Biên Hòa thuộc GHPG Cổ truyền, Giáo hội Lục hòa Tăng Việt Nam.

– Thượng tọa Nguyên Bình – Minh Cảnh (1905-1986) khai sơn chùa Nguyên Thỉ ở tỉnh Long An.

– Đại đức Thiện Tấn (?-1999) khai sơn xây dựng chùa An Phước nay tại phường An Hòa, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Chùa này được trùng tu vào những năm : 1989, 2000, 2001.

– Thượng tọa Lệ Quang – Thiện Thành (1903-1986) được GHTGNV bổ nhiệm về làm trụ trì chùa Hội Phật học Nam Việt tỉnh Bạc Liêu.

– Thượng tọa Thanh Vân sáng lập Thiền viện Pháp Hoa hiện tại số 29, đường Tăng Bạt Hổ, phường 11, quận Bình Thạnh, Tp. HCM.

1957
01/01/1957

Năm 1957

Từ kỳ nhập hạ 1957, ngài Thiện Hoa mở khóa huấn luyện trụ trì ở hai trú xứ chùa Pháp Hội và chùa Dược Sư. Từ đó trở đi, hàng năm đều mở hai khóa trụ trì vào mùa kiết hạ và kiết đông. Khóa Tăng thu nhận 30 vị, khóa Ni 50 vị. Mục đích khóa này là cung cấp toàn diện kiến thức về diễn giảng, về nghi lễ của Giáo hội cho đông đảo Tăng Ni từng xuất thân lớp sơ đẳng Phật học đường, hay những vị Tăng Ni từ khi đi tu xuất gia, nhưng chưa có cơ hội học qua trường lớp giáo lý. Những vị tốt nghiệp khóa trụ trì này được Giáo hội bổ nhiệm đi trụ trì các chùa do Hội Phật học mới xây cất ở các nơi, hay các chùa do chủ chùa cúng lại cho Giáo hội, như chùa Giác Sanh ở Phú Thọ, Ni sư già yếu mà chùa thì cất và lưu truyền trên 100 năm, nay Ni sư cúng lại cho Giáo hội quản cố. Giáo hội đã cử Thầy Thiện Thành, tốt nghiệp khóa trụ trì đầu tiên đến trụ trì, và Ngài trụ nơi ấy đến khi viên tịch. Cũng có nhiều vị xuất thân từ khóa huấn luyện trụ trì, về sau thành giảng sư nổi tiếng. Chương trình học bao gồm phương pháp diễn giảng, tổ chức hành chánh, nghi thức truyền Tam quy Ngũ giới, Bát quan trai, nghi lễ theo Giáo hội tức đơn giản không như xưa, tán tụng trống đẩu quá nhiều, giáo lý, lịch sử Phật Tổ đều được giảng, cả đến bộ Lăng Nghiêm, Duy Ma Cật cũng được giảng tóm tắt. Giáo sư gồm ngài Thiện Hoa là chủ giảng, còn có quý ngài Thiện Hòa, Huệ Hưng, Thiền Định. Học viên mãn khóa trở về trú xứ, rồi khóa hai lại trở lên dự học, hai năm là 4 khóa tốt nghiệp.

Năm 1959, khóa huấn luyện trụ trì được dời về chùa Tuyền Lâm, đường Lục Tỉnh, đổi tên là khóa Như Lai sứ giả. Mấy khóa huấn luyện ấy đã cung cấp đủ nhu cầu, sau đó không còn mở tiếp. Khóa Như Lai sứ giả khi mới nghe tên này, nhiều người thấy nó lớn quá, nhưng ngài Thiện Hoa nói, tại sao lại ngần ngại. Chúng ta là Tăng sĩ, người hành Như Lai sự, tác Như Lai sứ là đúng rồi. Chí hướng chúng ta là hoằng truyền giáo pháp Phật Tổ, làm cho ánh sáng trí huệ Phật pháp rực sáng giữa cuộc đời đầy đau khổ, như thế chúng ta là trưởng tử Như Lai, phải hành Như Lai sự, tác Như Lai sứ thì đó là hạnh nguyện sung mãn rồi. Từ đó, ngài viết câu châm ngôn cho học viên ghi lòng rằng: “Con nguyện hiến thân cho đạo pháp, nơi đâu đạo pháp cần, chúng sanh cần thì con đến. Chẳng kể gian lao, không từ khó nhọc”.

01/01/1957

Năm 1957 (Đinh Dậu – PL.2501)

Năm 1957 (Đinh Dậu – PL.2501)

– Ngày 20 tháng 2, Sư cô Hồng Tịnh – Giác Nhẫn (1919-2003) đảm nhận làm Trưởng bộ Tịch thuộc Ban Quản trị Ni bộ Nam Việt khóa I.

– Ngày 31 tháng 3 (nhằm ngày 01 – 3 – Đinh Dậu), Hòa thượng  Chơn Quý – Khánh Anh (1895-1961) được suy tôn lên ngôi vị Pháp chủ GHTGNV. Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, sinh tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1916, ngài xuất gia cầu đạo với Hòa thượng Bổn sư Ấn Tịnh – Hoằng Thanh tại chùa Cảnh Tiên (Quảng Ngãi), năm 1917, về nhập chúng tu học ở chùa Quang Lộc. Năm 1931, ngài được mời làm trụ trì chùa Long An (Cần Thơ), đến năm 1941, thì về trụ trì chùa Phước Hậu (Trà Ôn, Cần Thơ). Hòa thượng đã từng hợp tác cùng chư tôn đức thành lập : Hội Lưỡng Xuyên Phật Học, là Thành viên Chứng minh của Hội Phật học Nam Việt, đồng thời làm Pháp sư giảng dạy tại các trường Phật học : chùa Giác Hoa (Bạc Liêu), chùa Thiên Phước (Tân An), chùa Phước Hậu, chùa Long Hòa (Trà Vinh).

– Ngày 03 tháng 4 năm Đinh Dậu, Hòa thượng Hồng Dần – Bửu Ngươn (1902-1957), thế danh Phạm Văn Dần, húy Hồng Dần, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Giác Thiện (Cần Giuộc, Long An), viên tịch, trụ thế 56 năm.

– Ngày 07 tháng 7 năm Đinh Dậu, Hòa thượng Chơn Phước – Huệ Pháp (1887-1975) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Nghĩa Phương tại Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

– Ngày 15 tháng 7 năm Đinh Dậu, Hòa thượng Như Niệm – Bảo Toàn (1899-1970) đặt đá đầu tiên khai sơn chùa Hải Hội tại làng Mân Quang, Sơn Trà, Đà Nẵng.

– Ngày 24 tháng 9, Thiền sư Tâm Hoàn – Huệ Long (1924-1981) trùng tu chùa Long Khánh nay tại số 141, đường Trần Cao Vân, Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Ngày 11 tháng 11, Tòa đại biểu chính phủ tại Trung Nguyên, Trung Phần đã thực hiện công văn số 211 nội dung : Giao chùa Thiên Ấn về GHTG tỉnh Quảng Ngãi quản lý và trùng tu, do Thượng tọa Như Chánh – Huyền Tấn (1911-1984) trụ trì.

– Đại đức Tâm Như – Mật Nguyện (1911-1972) khai sáng chùa Từ Hàng Quan Âm tại quận Nam Hòa, thuộc tỉnh Thừa Thiên.

Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ (1904-1984) làm Trưởng đoàn Phật giáo Việt Nam tham dự Hội nghị Phật giáo Thế giới kỳ 4 tại Nam Vang.

– Hòa thượng Thanh Thiện – Đức Nhuận (1897-1993) là một thành viên trong Phái đoàn Đại biểu PGVN đến yết kiến Chủ tịch nước Hồ Chí Minh và Phó chủ tịch Tôn Đức Thắng tại Phủ chủ tịch. Cũng năm này, ngài được bầu làm Trưởng Ban Đại diện Phật giáo Thủ Đô.

– Hòa thượng Trừng Thủy – Giác Nhiên (1877-1979) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Trừng Thành – Vạn Ân làm Yết Ma, Hòa thượng Tâm Như – Trí Thủ làm Đàn chủ, Hòa thượng Như Thọ – Huyền Tân làm tôn chứng cho Đại giới đàn do Phật học viện Trung Phần tổ chức tại chùa Hải Đức (Nha Trang – Khánh Hòa). Ngài Trừng San (1922-1991) cũng thọ giới Cụ túc ở giới đàn này (BNSGĐTVN).

– Thượng tọa Hành Đạo – Phước Ninh (1915-1994) được đề cử trụ trì Tổ đình Bảo Sơn, thôn Phong Thăng, xã An Định, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

– Thượng tọa Hồng Đạo – Bửu Ý (1917-1996) được suy cử làm Phó Tổng thư ký GHPG Lục hòa Tăng Việt Nam (sau được bầu làm Tổng thư ký). Văn ph ng Giáo hội đặt tại chùa Phật Ấn, nhà in và trường học Lục Hòa đặt tại chùa Giác Viên ở Gia Định, nay thuộc quận 11, Tp. HCM.

– Hòa thượng Trừng Châu – Huyền Quý (1897-1999) vận động thành lập Giáo hội Tăng-già tỉnh Gò Công và được chư sơn thiền đức cử làm Trị sự Trưởng Giáo hội Tăng-già tỉnh Gò Công.

– Thượng tọa Hoằng Tu (1913-1999) xây dựng Từ Ân Thiền Tự ở Chợ Lớn, nay tại số 28-30, đường Hùng Vương, phường 16, quận 11, Tp. HCM.

– Đại đức Nhựt Trí – Thiện Tín (1921-1999) được Phật tử Trần Kim Tính thỉnh cầu về trụ trì chùa Phật Quang ở thị xã Bến Tre.

– Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1891-1973) đại diện PGVN dự lễ kỷ niệm Phật nhập Niết-bàn tại Bangkok – Thái Lan. Cùng đi với ngài có thị giả Thích Đức Nghiệp.

– Đại đức Hương Sơn – Trí Hữu (1912-1975) về trụ trì Tổ đình Linh Ứng tại Ngũ Hành Sơn, Quảng Nam.

– Thượng tọa Diên Chánh kế thế trụ trì Tổ đình Quang Lộc ở thôn Phước Long, xã Tư Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi (1957-1960).

– Thượng tọa Như Bình – Huyền Tịnh (1914-2003) được suy cử làm trụ trì chùa Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Quảng Ngãi.

– Thiền sư Giải Minh – Huyền Ngộ (?-1969) trùng tu Tổ đình Thắng Quang ở xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Thượng tọa Thị Niệm – Phước Ninh (1915-1994) được đề cử làm trụ trì Tổ đình Bảo Sơn tại thôn Phong Thăng, xã An Định, huyện Tuy An, Phú Yên.

– Thượng tọa Như Thọ – Huyền Tân (1911-1979) được cung thỉnh làm trụ trì chùa Sùng Ân (Ninh Thuận).

– Thượng tọa Như Quả – Thiện Hoa (1918-1973) chủ xướng mở những khóa huấn luyện trụ trì, lấy tên Như Lai Sứ Giả. Tăng giới đặt tại chùa Pháp Hội, Ni giới đặt tại chùa Dược Sư.

– Đại đức Như Mẫn – Hoàn Phú (1920-2007) đảm nhận chức vụ trụ trì chùa Phật Học Cần Thơ.

– Đại đức Tâm Nhẫn – Chí Tín (1922-2013) được cử làm trụ trì chùa Sắc tứ Long Sơn nay tại số 20, đường 23 tháng 10, Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

– Đại đức Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được cử làm Đốc giáo Phật học đường Trung Việt tại chùa Hải Đức (Nha Trang).

– Đại đức Tâm Bổn – Trí Nghiêm (1911-2003) được suy cử giữ chức Hội trưởng Hội Phật học Thừa Thiên – Huế.

– Ni sư Diệu Ninh – Như Huệ (1914-1984) được cử làm Phó Ban quản trị Ni bộ Trung ương kiêm Thủ bổn. Cũng năm này, Ni sư đảm nhiệm quản lý Ni trường Dược Sư.

– Sư cô Diệu Liên – Như Hoa (1925-2006) mở lớp giảng dạy Phật pháp cho Ni chúng tại Vạn Thạnh Ni tự (Nha Trang).

– Sư cô Hồng Mãnh – Như Thiền (1911-1994) lên núi Cấm (Châu Đốc, An Giang) chuyên tu thiền định.

– Ni sư  Kiều Nga – Như Nghĩa (1907-1989) được suy cử chức vụ Cố vấn Thường vụ cho Ni bộ Bắc tông.

– Ni sư Nhựt Trinh – Liễu Tánh (1916-1982) mở trường Sơ Đẳng Phật học tại Phật Bửu Ni tự (Tiền Giang) có hơn 40 vị theo học.

Thiền sư Đồng Chơn – Thông Niệm (1914-1990) đảm nhận trụ trì chùa Bát Nhã tại thị xã Đà Nẵng.

– Ni sư Từ Hương – Diệu Hòa (1917-2006) được Ni bộ miền Trung cung thỉnh làm trưởng Ni bộ tỉnh Tuyên Đức (Lâm Đồng).

– Thiền sư Tâm Kiên – Thiện Trì (thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43) sáng lập chùa Ân Quang nay tại thôn Phước Lộc, xã Hòa Thành, thị trấn Phú Lâm, tỉnh Phú Yên.

– Đại đức Nguyên Minh – Đức Thiệu (1911-1993) nhận chức CĐD Hội Phật giáo tỉnh Pleiku và trụ trì chùa Bửu Thắng.

– Hòa thượng Thanh Giới – Thiện Tường (1917-1984) và Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ được cung thỉnh làm Giới sư cho giới đàn chùa Giác Nguyên, phường Vĩnh Hội, Sài Gòn.

– Hòa thượng Thanh Giới – Thiện Tường (1917-1984) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Vạn Thọ tại phường ĐaKao – Tân Định, Sài Gòn.

– Hòa thượng Hành Pháp – Quảng Đức (1897-1963) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Thiên Bửu Thượng, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

– Đại đức Như Chưởng – Pháp Tú (1918-?) trùng tu chùa Bình Long nay tại thị trấn Lái Thiêu, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.

– Đại đức Trừng Chiếu – Từ Mãn (1918-2007) được Tổng hội Phật giáo Trung Việt bổ nhiệm trụ trì chùa Sắc Tứ Khải Đoan nay tại số 117, đường Phan Bội Châu, phường Thống Nhất, Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đak Lăk.

– Đại đức Xương Chung – Huệ Định, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 42, kế thế trụ trì chùa Thắng Quang nay tại ấp Nhất, xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang (1957-1965).

– Thượng tọa Hồng Quang thành lập chùa Long Viên hiện tại số 441/1, đường Phan Xích Long, phường 2, quận Phú Nhuận, Tp. HCM.

– Đại đức Quảng Động – Phước Thành (1918-2014) trùng tu Đại hùng bảo điện chùa Thiên Phước nay thuộc xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Sang năm sau (1958), ngài đúc Đại hồng chung, Báo chúng chung,…và nhiều pháp khí khác,…tạc tượng Phật, sơn son thếp vàng kim thân Phật Tổ, chạm khắc long vị, liễn đối,…

Sư cô Tâm Ý – Hồng Chí (1913-2007) được mời về trụ trì chùa Huỳnh Long ở Cai Lậy (Tiền Giang). Đến năm 1958, sư cô đại trùng tu chùa này.

– Khoảng năm 1957 – 1958, Đại đức Quảng Thọ – Lệ Hương (1902-1985) khai sơn chùa Đức Quang tại thôn Trung Đức, xã Đức Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

01/01/1957

Năm 1957

Năm 1957, chính quyền Sài Gòn chấp thuận cho PG Nam tông người Việt thành lập một Giáo hội mang tên Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam. HT Bửu Chơn được suy tôn lên ngôi Tăng thống. Trụ sở Trung ương đặt tại chùa Kỳ Viên (610 Nguyễn Đình Chiểu, Q.3 ngày nay).

1956
01/01/1956

Năm 1956

Năm 1956, Giáo Hội Tăng Già Việt Nam thành lập Ni bộ Nam Việt tại chùa Từ Nghiêm, Chợ Lớn, coi sóc hết cả Ni bộ Nam phần, lập chi nhánh Giáo Hội Tăng Già Việt Nam Cao Miên (Campuchia), tổ chức Đại hội hai năm một kỳ bầu Ban Trị sự Trung ương, vạch chương trình Phật sự, phúc trình mọi Phật sự trong hoạt động kết quả hai năm. Mỗi lần Đại hội đều có những yếu tố mới, công việc nội bộ hoàn chỉnh, tổ chức có quy củ.

01/01/1956

Năm 1955 (Ất Mùi – PL.2499)

Năm 1955 (Ất Mùi – PL.2499)

– Ngày 23 tháng 1 năm Ất Mùi, Hòa thượng Tánh Trực – Huệ Chánh (?-1955), thế danh Lê Văn Trực, húy Tánh Trực, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 43, Tổ khai sáng chùa Tam Bửu (Cần Đước, Long An), viên tịch, thọ 61 tuổi.

– Ngày 02 tháng 2 năm Ất Mùi, Hòa thượng Tánh Kế – Quảng Ân (1891-1955), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 40, trụ trì chùa Phước Linh (Cần Đước, Long An), viên tịch, thọ 65 tuổi.

– Ngày 15 tháng 3 năm Ất Mùi, Đại đức Chơn Huệ – Chánh Trí (1918-2016) được Hòa thượng Bổn sư Ngộ Tánh – Phước Huệ ban pháp hiệu là Bích Viên, đồng thời phú pháp kệ như sau : “Chánh pháp phó Bích Viên, Dự Phật hữu nhân duyên, Kiên trì giới định tuệ, Thế thế vĩnh lưu truyền” (Giác Ngộ Online).

– Ngày 10, 11, 12 tháng 5 năm Ất Mùi, Hòa thượng Huệ Quang (1888-1956) Pháp chủ GHTGNV hướng dẫn phái đoàn về Bến Tre cùng môn đồ pháp quyến Tổ đình Tuyên Linh làm lễ trà tỳ linh cốt Hòa thượng Như Trí – Khánh Hòa (1877-1947). Sau đó, tro xá lợi được Giáo hội phân chia tôn thờ các nơi như : Tổ đình Tuyên Linh (Bến Tre), chùa Long Phước (Trà Vinh), chùa Ấn Quang (Chợ Lớn, Sài Gòn) (TSDTVN).

– Ngày 23 tháng 4, Đại đức Narada sang Việt Nam dâng cúng Xá-lợi cho chùa Nam Phổ Đà (phái thiền Lâm Tế, Hoa Tông) và chùa Khmer ở Sài Gòn.

– Ngày 27 tháng 5 năm Ất Mùi, Hòa thượng Hồng Thông – Thiện Huệ (1888-1955), thế danh Lương Văn Thông, húy Hồng Thông, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Giác Tánh (Cần Giuộc, Long An), viên tịch, thọ 68 tuổi.

– Ngày 06 tháng 7 (nhằm ngày 19 – 6 – Ất Mùi), chùa Báo Quốc tại cố đô Huế, tỉnh Thừa Thiên, mở giới đàn, Hòa thượng Trừng Thủy – Giác Nhiên (1878-1979) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Trí Thủ làm Giới sư cho giới đàn này.

– Ngày 07 tháng 7, Tỳ-kheo Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012) một trong những thanh niên tu sĩ xuất dương du học tại Colombo, rời kinh đô Tích Lan đáp tàu thủy sang thăm Miến Điện, chiêm bái các Phật tích rồi về nước.

– Ngày 02 tháng 10 năm Ất Mùi, Hòa thượng Như Điền – Huệ Chấn (1886-1955) thế danh Nguyễn Văn Trà, pháp danh Như Điền, tự Giải Trà, hiệu Huệ Chấn, sinh tại xã Ngân Hà, tổng Thanh Quýt Trung, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Hưng Long (TP. HCM), viên tịch, thọ 70 tuổi.

– Ngày 30 tháng 10 năm Ất Mùi, Hòa thượng Bửu Quảng – Giác Phước (1897-1955) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 42, trụ trì chùa Long Phước (Bến Lức – Long An), viên tịch, trụ thế 58 năm.

– Ngày 10 tháng 11 năm Ất Mùi, Hòa thượng Trừng Thông – Huệ Thành (1888-1955), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 42, trụ trì chùa Phụng Sơn ở Gia Định, viên tịch, thọ 68 tuổi.

– Ngày 17 tháng 11, Thiền sư Minh Đường – Chơn Giác (?-1955), pháp danh Trừng Trung, sinh tại làng Hải Tân, Phan Rí Cửa, Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, Tổ khai sơn chùa Phổ Đà (Bình Thuận), thị tịch, hưởng dương 31 tuổi.

– Ngày 23 tháng 11 năm Ất Mùi, Thượng tọa Thích Thiện Xưa (1922-1955), thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, trụ trì chùa Bửu Long (Bến Lức, Long An), thị tịch, hưởng dương 37 tuổi.

– Ngày 25 tháng 11 năm Ất Mùi (1955 ?), Thượng tọa Nhựt Ích – Thiện Tấn (?-1955 ?), thế danh Trương Văn Cơ, húy Nhựt Ích, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 41, Tổ khai sáng Tịnh thất Quan Âm (Cần Đước, Long An), viên tịch.

– Thượng tọa Hành Thiện – Hưng Từ (1911-1991) được suy cử làm Trị sự trưởng GHTG tỉnh Khánh Hòa, liên tiếp hai nhiệm kỳ.

– Hòa thượng Chơn Tảo – Nhựt Minh (1908-1993) được cung thỉnh vào ngôi vị Hòa thượng Đàn đầu cho Đại giới đàn tại chùa Phước Hòa, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Giới tử tăng ni hơn 100 vị và 1000 Phật tử thọ ân pháp vũ của Ngài.

– Hòa thượng Thanh Thiện – Đức Nhuận (1897-1993) được các bậc cao tăng là Hòa thượng Tuệ Tạng và Hòa thượng Mật Ứng mời ngài trở về chùa Quán Sứ – Hà Nội nhận chức Phó hội trưởng Hội Phật giáo Việt Nam. Trong thời gian này, ngài được thỉnh về trụ trì chùa Tàu (Phổ Giác tự) ở quận Đóng Đa – Hà Nội.

– Cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền (1905-1973) được cử làm Hội trưởng Hội Phật Học Nam Việt. Đây là Hội Phật học do ông vận động thành lập. Ban đầu hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, rồi dời đến chùa Phước Hòa, sau chuyển về chùa Xá Lợi (nay tại quận 3, Tp. HCM).

– Thượng tọa Như Chánh – Huyền Tấn (1911-1984) được sơn môn cử làm trụ trì Tổ đình Thiên Ấn ở núi Thiên Ấn, nay thuộc xã Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

– Thiền sư Hồng Phước – Trí Đức (1911?) về trụ trì chùa Huê Nghiêm nay tại huyện Thủ Đức, Tp. HCM.

– Hòa thượng Nguyên Phước – Quang Thể (1922-2005) được suy cử làm Phó trị sự GHTG tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, và được bổ nhiệm trụ trì chùa Tỉnh hội Phật giáo Đà Nẵng.

– Hòa thượng Chơn Miên – Trí Hưng (1908-1986) trùng tu Tổ đình Thiên Ấn ở núi Thiên Ấn, nay thuộc xã Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

– Hòa thượng Chơn Quý – Khánh Anh (1895-1961) được cung thỉnh làm Chứng minh Đạo sư cho Hội Phật học Nam Việt.

– Thượng tọa Như Bình – Huyền Tịnh (1914-2003) cùng Hòa thượng Thích Huyền Tôn thành lập GHTG và Hội Phật học tỉnh Quảng Ngãi (1955 – 1957). Thượng tọa Huyền Tịnh liên tục mấy nhiệm kỳ làm Trị sự trưởng GHTG và kiêm Hội trưởng Hội Phật giáo tỉnh Quảng Ngãi (LSTTTPLTCT).

– Hòa thượng Chơn Phước – Huệ Pháp (1887-1975) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu tại giới đàn chùa Nghĩa Phương, Nha Trang.

– Đại đức Như An – Huyền Quang (1920-2008) được thỉnh cử làm Giám đốc Phật học đường Long Sơn, Nha Trang (1955 – 1957).

– Sư cô Thị Hương – Diệu Hoa (1925-1995) khai sơn chùa Long Quang tại xã Cát Tường, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

– Đại đức Như Trạch – Bảo Đảnh (1911-1965) kế thế trụ trì chùa Hưng Long nay thuộc quận 10, Tp. HCM.

– Đại đức Tâm Trì – Viên Mãn (1922-2001) về trụ trì chùa Tịnh Độ (Tam Kỳ, Quảng Nam).

– Hòa thượng Hải Tràng – Phổ Hóa (?-1955), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 40, trụ trì chùa Phước Lâm (Phan Thiết), viên tịch.

– Sư cô Nguyên Ấn – Tịnh Ngọc và Quảng Đắc – Tịnh Liên khai sáng Diệu Tịnh Ni tự nay tại thị trấn Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

– Chùa Tây An tại núi Sam, tỉnh Châu Đốc, khai đại giới đàn, Hòa thượng Như Mật – Bửu Thọ (1893-1972) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu.

– Hòa thượng Chơn Tảo – Nhật Minh (1908-1993) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Phước Hòa nay tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

– Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Trừng Nguyên – Đôn Hậu, Hòa thượng Chơn Quý – Khánh Anh làm Giới sư cho giới đàn tại Phật học đường Nam Việt (chùa Ấn Quang), thôn Vườn Lài, tỉnh Chợ Lớn.

– Hòa thượng Như Thọ – Huyền Tân (1911-1979) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Thiền Lâm, thôn Đắc Nhơn, xã Nhơn Sơn, huyện Ninh Nhơn, tỉnh Ninh Thuận.

– Đại đức Nhựt Tám – Huệ Thành (1924-2007) sáng lập chùa Phước Linh nay tại số 613, ấp 4, xã Phước Đông, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, trên khu đất của gia đình hiến cúng.

– Thượng tọa Chơn Tân – Thiện Khoa (1901-1964) xây dựng lại chùa Thiên Tôn nay tại thị trấn An Thạnh, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.

– Thượng tọa Hồng Tín – Huệ Thành (1912-2001) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho đại giới đàn trường Hương – trường Kỳ chùa Phước Tường tại quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định. Cũng năm này, ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới tại giới đàn chùa Thanh Long ở xã Bình Trước, tỉnh Biên Hòa (Đồng Nai).

– Thượng tọa Giai Minh (?-1955), Tổ khai sơn chùa Hưng Long (Phú Quốc, Kiên Giang), thị tịch.

– Đại đức Minh Úc xây dựng lại chùa Hưng Long nay tại ấp Suối Đá, xã Dương Tơ, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang và đổi hiệu là chùa Hùng Long. Vì chùa Hưng Long này bị giặc Pháp đốt phá vào năm 1945.

– Đại đức Kiểu Viên – Trí Long (?-1987) kế thế trụ trì chùa Vĩnh Tràng nay ở đường Nguyễn Trung Trực, xã Mỹ Phong, TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

– Thượng tọa Nhật Thiện sáng lập chùa Định Thành hiện tại số 629/38, đường Cách Mạng Tháng Tám, phường 15, quận 10, Tp. HCM.

– Thượng tọa Thanh Minh sáng lập Thiền viện Thanh Minh hiện tại số 90, đường Trần Huy Liệu, phường 15, quận Phú Nhuận, Tp. HCM.

– Thượng tọa Hồng Tịnh sáng lập chùa Viên Giác hiện tại số 193, đường Bùi Thị Xuân, phường 1, quận Tân Bình, Tp. HCM.

– Tỳ-kheo Tuấn Đức – Quảng Thạc (1925-1995) được cử về trụ trì chùa Giác Hoa ở Gia Định.

– Ni sư Đồng Chánh sáng lập Ni viện Vạn Hạnh hiện tại số 25/4, đường Tô Ngọc Vân, khu phố 5, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, Tp. HCM.

01/01/1956

Năm 1956 (Bính Thân – PL.2500)

Năm 1956 (Bính Thân – PL.2500)

– Ngày 13 tháng Giêng năm Bính Thân, Hòa thượng Ngộ Giác – Chánh Quả (1885-1956) thế danh Phạm Văn Ngưu, pháp danh Chánh Quả, hiệu Ngộ Giác, sinh tại làng Tân Hòa, tỉnh Vĩnh Long, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 40, trụ trì chùa Kim Huê (Sa Đéc, Đồng Tháp), viên tịch, thọ 76 tuổi, 40 hạ lạp.

– Ngày 14, 15 tháng 2 năm Bính Thân, Lễ khánh thành chùa Thiên Tôn nay tại thị trấn An Thạnh, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương, chùa này do Thượng tọa Chơn Tân – Thiện Khoa (1901-1964) trụ trì.

– Ngày 01 tháng 3, Thượng tọa Như Chánh – Huyền Tấn (1911-1984) tổ chức trọng thể lễ cung nghinh tượng Phật và pháp khí bị di tản từ chùa Khánh Vân về Tổ đình Thiên Ấn ở núi Thiên Ấn, nay thuộc xã Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

– Ngày 01 tháng 4, Đại hội kỳ II của Tổng Hội PGVN được triệu tập tại chùa Phước Hòa, Sài Gòn. Đại hội suy tôn Thiền sư Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) làm Hội chủ (VNPGSL).

– Ngày 06, 07 tháng 10, tại Đại hội Ni bộ lâm thời ở chùa Huê Lâm (Sài Gòn), Ni sư Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) được đề cử làm Trưởng ban Quản trị Ni bộ Nam Việt.

– Ngày 10 tháng 11, Hòa thượng Thiện Hải – Huệ Quang (1888-1956) thế danh Nguyễn Văn Ân, pháp danh Thiện Hải, húy Ngộ Cảnh, hiệu Huệ Quang, sinh tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, thuộc Tông Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 39, Phó hội chủ Tổng Hội PGVN, viên tịch tại Ấn Độ, thọ 68 tuổi, 37 năm hoằng hóa.

– Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) cùng với Hòa thượng Huệ Quang lãnh đạo phái đoàn PGVN tham dự Đại Hội Phật Giáo Thế Giới tổ chức tại Tích Lan và chiêm bái Phật tích ở Ấn Độ.

– Hòa thượng Giác Trang – Hải Tràng (1884-1972) cùng Hòa thượng Thiện Tường, Hòa thượng Hành Trụ khai hạ tại chùa Giác Nguyên ở Sài Gòn, để đào tạo tăng tài.

– Thượng tọa Tâm Trí – Viên Giác (1911-1976) cùng chư Tôn đức trong Giáo hội, sử dụng chùa Hải Đức làm cơ sở Phật Học Viện Trung Phần, đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo Tăng tài cho Phật giáo mai sau.

– Hòa thượng Trừng Thủy – Giác Nhiên (1877-1979) được Giáo Hội Phật Giáo Trung Phần cung thỉnh vào chức vụ Viện Trưởng Phật Học Viện Hải Đức-Nha Trang. Cũng năm này, ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Giới Đàn Hộ Quốc tại chùa Hải Đức (Nha Trang).

– Thượng tọa Tâm Hoàn – Huệ Long (1924-1981) được cử giữ chức Phó Giám đốc Phật học đường Nha Trang (1956 – 1957).

– Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ (1904-1984) được cung thỉnh làm Chứng minh Đạo sư Hội Phật Học Nam Việt tại chùa Xá Lợi, Sài Gòn (1956 – 1984).

– Hòa thượng Trừng Nguyện – Đôn Hậu (1905-1992) thành lập và làm Chủ nhiệm Liên Hoa văn tập.

– Hòa thượng Tâm Hương – Mật Hiển (1907-1992) Trị sự trưởng GHTG Trung Việt, tham dự Đại lễ Phật đản tại Đông Hồi, trong dịp này ngài đã chiêm bái các Thánh tích tại Miến Điện, Thái Lan, Ai Lao và Cao Miên.

– Hòa thượng Chơn Tảo – Nhựt Minh (1908-1993) xây dựng chùa Đại Giác tại tỉnh Sóc Trăng, để làm văn ph ng liên lạc cho Phật giáo ba tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau.

– Hòa thượng Thanh Thiện – Đức Nhuận (1897-1993) được bầu làm Phó Ban Đại diện Phật giáo Thủ Đô.

– Thượng tọa Hồng Đạo – Bửu Ý (1917-1996) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đường đầu cho Đại giới đàn tại chùa Linh Nguyên (Đức Hòa, Long An).

– Hòa thượng Ấn Ngân – Tín Thành (1885-1959) khai sơn chùa Phước Điền ở xóm Xưởng (gần chùa Hải Đức, Nha Trang).

– Năm 1956 – 1957, Hòa thượng Chơn Tá – Tôn Bảo (1895-1974) được suy tôn làm Trị sự sơn môn GHTG Quảng Nam – Đà Nẵng và Chứng minh đạo sư cho Giáo hội Đà Nẵng.

– Thượng tọa Như Nhàn – Trí Giác (1915-2005) được thỉnh làm Hội trưởng Hội Phật học Quảng Nam.

– Thượng tọa Thị Niệm – Phước Ninh (1915-1994) được chư tôn đức đề cử giữ chức Hội trưởng Phật giáo huyện Tuy An, Phú Yên (1956 – 1963).

– Hòa thượng Đồng Kỉnh – Tín Quả (1891-1978) được suy tôn chức vụ Thượng thủ GHTG tỉnh Khánh Hòa (1956-1959).

– Đại đức Như Hương – Huyền Tâm (1920-1991) được Hội Phật học tỉnh Ninh Thuận cung thỉnh làm trụ trì chùa Sùng Ân trụ sở của Giáo hội.

– Đại đức Như Hạnh – Huyền Thâm (1927-2005) được cử làm trụ trì chùa Tỉnh hội Phật học Giác Tâm, Phú Nhuận, Sài Gòn (1956-1963).

– Ni sư Đồng Chánh – Tịnh Như (1923-1986) mở lớp Sơ đẳng Gia giáo Phật học tại chùa Sắc tứ Linh Thứu nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (1956-1958).

– Thượng tọa Như Quả Thiện Hoa (1918-1973) được cử giữ chức vụ Ủy viên Hoằng pháp của Tổng Hội PGVN, cùng với Thượng tọa Nhất Hạnh xuất bản nguyệt san “Phật giáo Việt Nam”. Ngài tổ chức phát thanh Phật giáo hàng tuần trên đài phát thanh Sài Gòn.

– Đại đức Tâm Bổn – Trí Nghiêm (1911-2003) chủ trương xây dựng Trường Bồ-đề Tuy Hòa và Cô Nhi viện Phước Điền (Tuy Hòa, Phú Yên).

– Ni sư Hồng Tích – Diệu Kim (1908-1976) đảm nhiệm cương vị Cố vấn tối cao Ni bộ Phật giáo Nam Việt.

– Sư cô Tâm Quang – Đàm Minh (1912-1992) được Ni bộ đề cử trụ trì chùa Bảo Thắng (Quảng Nam).

– Ni sư Nhựt Trinh – Liễu Tánh (1916-1982) được cung thỉnh làm Thiền chủ trường Hương tại chùa Tăng Già (nay là chùa Kim Liên) tại Khánh Hội, Sài Gòn, có 125 vị Ni tu học.

– Hòa thượng Ngộ Tánh – Phước Huệ (1875-1963) cúng dường chùa Hải Đức tại Nha Trang cho GHTG Trung Việt lập Phật học viện đào tạo Tăng tài, Văn bản đề ngày 27-7 và ngày 29-09 là lễ bàn giao.

– Đại đức Chơn Giác – Long Hải (1919-2002) được cử làm trụ trì chùa Nghĩa Trũng (Điện Bàn – Quảng Nam).

– Thiền sư Tâm Lượng – Từ Mẫn (1932-2007) được Bổn sư là Hòa thượng Trừng Kệ – Tôn Thắng ban pháp hiệu Chơn Giác, nối pháp đời thứ 43, dòng thiền Lâm Tế – Liễu Quán và phú pháp kệ như sau :

“Độ nhơn đắc độ tiên tự độ

Tâm Lượng tam thiên quảng vô biên

Từ tế chúng sanh đồng chí mẫn

Chơn Giác quang minh hiện thân tiền” (HTCTĐXQ).

– Hòa thượng Hồng Phẩm – Phước Quả được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Trường Kỳ giới đàn chùa Linh Nguyên, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Hòa thượng Phước Bình – Hành Trụ (1904-1984) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Thiện Tường làm Yết Ma cho giới đàn chùa Giác Nguyên, phường Vĩnh Hội, Sài Gòn.

– Chùa Báo Quốc tại cố đô Huế, tỉnh Thừa Thiên mở giới đàn, Hòa thượng Trừng Thủy – Giác Nhiên (1878-1979) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu.

– Sư cô Diệu Liên – Tâm Hoa (1916-?) khai sơn chùa Tâm Ấn nay tại số 58, đường Ngô Quyền, phường Lê Lợi, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, do nữ thí chủ Tạ Xuân Lan cúng dường.

– Thượng tọa Thị Đạo – Bình Khánh (1909-?) được Môn phái suy cử làm trụ trì chùa Gia Khánh ở xã Phước Lộc (tỉnh Bình Định).

– Chùa Đức Sơn tại làng Hiệp Thành, Thủ Dầu Một (Bình Dương) đại trùng tu. Chùa này do Hòa thượng Quảng Đống – Thiện Hồng (1891-1960) trụ trì.

– Hòa thượng Nguyên Anh – Giác Đức, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 44, được dân làng thỉnh về trụ trì chùa Bình Đông nay tại xã Vĩnh Phú, thị trấn An Thạnh, tỉnh Bình Dương.

– Thượng tọa Thanh Đàm – Trí Dũng (1906-2001) kiến tạo xây dựng chùa Nam Thiên Nhất Trụ nay tại quận Thủ Đức, TP. HCM.

– Chùa Long Thiền hiện tại số K2/3B, ấp Tân Bình, phường Bửu Hòa, Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, đại trùng tu. Chùa trùng tu các công trình : chánh điện, giảng đường, nhà khách, tăng đường, nhà trù.

– Hòa thượng Quảng Huyền – Huệ Phương kế thế trụ trì chùa Phước Lâm nay tại số 1B12, đường Phan Chu Trinh, khu phố 2, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (1956-1971).

– Đại đức Chơn Vinh – Bích Truyền (1911-1961) được suy cử làm Trưởng BTS Hội An Nam Phật học tỉnh Bình Thuận (1956-1960).

– Thượng tọa Phước Bình – Hành Trụ (1904-1984) sáng lập chùa Chánh Giác hiện tại số 100/83, đường Lê Quang Định, phường 14, quận Bình Thạnh, Tp. HCM.

– Đại đức Quảng Động – Phước Thành (1918-2014) được suy cử làm Tuần chúng GHTG tỉnh Bình Định (1956-1963).

– Đại đức Ngộ Trí –  Huệ Hưng (1917-1990) sang Nam Vang dạy khóa hạ tại chùa Chuẩn Đề, khi trở về nước được mời làm trụ trì chùa Kim Huê tại Sa Đéc, Đồng Tháp.

01/01/1956

Năm 1956

Năm 1956, song song với Phật Học Đường Ấn Quang, tại Nha Trang Hội Phật Học Khánh Hòa do Thượng Tọa Thích Thiện Minh làm Hội Trưởng có mở Tăng Học Đường. Sau đó Hòa Thượng Hải Đức cúng ngôi chùa cho Giáo hội Tăng già và Hội Phật học Trung Việt để mở Phật Học Viện do hai Phật Học Đường Báo Quốc và Tăng Học Đường Nha Trang thống nhất lại để đào tạo Tăng tài, gọi là “Phật Học Viện Việt Nam tại Trung Việt” (hay là Phật Học Viện Hải Đức), do Hòa Thượng Thích Trí Thủ làm Giám Viện. Hòa Thượng đóng góp rất nhiều công đức với Phật Học Viện này.

01/01/1956

Năm 1956

Ngày 1/4/1956, nhiệm kỳ thứ II, đại hội Phật-giáo toàn quốc được triệu tập, khai mạc tại chùa Phước Hòa, trụ sở Hội Phật Học Nam Việt, và suốt 5 ngày họp tại chùa Ấn Quang, trụ sở của Giáo Hội Tăng già Nam Việt Sài gòn. Đại hội suy tôn Hòa Thượng Tịnh Khiết làm hội chủ, Hòa Thượng Huệ Quang là Phó nhất Hội chủ, Cụ Chơn An làm Phó Nhì Hội chủ, Cụ Chánh Trí làm Tổng thư ký, Trụ sở đặt tại chùa Ấn Quang, sau dời về chùa Xá Lợi. Tổng hội có ra tạp chí “Phật-giáo Việt-Nam” làm cơ quan Hoằng pháp, do Thượng Tọa Nhất Hạnh, một cây bút xuất sắc của Phật-giáo làm chủ bút. Thượng Tọa sáng tác và phiên dịch nhiểu kinh sách có giá trị.
Ngoài tờ Nguyệt san Phật-giáo Việt-Nam, Tổng hội còn tổ chức Phát thanh hàng tuần trên đài phát thành Sài gòn, mục đích để cụ thể hóa tiếng nói của Phật-giáo toàn quốc.
Sau khi Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất ra đời, tổng hội Phật-giáo Việt-Nam trao lại nhiệm vụ rồi giải tán

1954
01/01/1954

Năm 1954

Năm 1954, vì nước nhà chia đôi, nên một phần Giáo Hội Tăng già Bắc Việt dời vào miền Nam, đặt trụ sở tại chùa Giác Minh, đường Phan Thanh Giản Sài Gòn.

01/01/1954

Năm 1954 (Giáp Ngọ – PL.2498)

Năm 1954 (Giáp Ngọ – PL.2498)

– Ngày 28 tháng 1 năm Giáp Ngọ, Thượng tọa Thích Thiện Tứ (1895-1954), thế danh Trần Văn Tư, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 39, trụ trì chùa Thiên Phước (Cần Đước, Long An), viên tịch, thọ 61 tuổi.

– Ngày 09 tháng 4 năm Giáp Ngọ, Hòa thượng Ấn Nghiêm –  Phổ Thoại (1875-1954) thế danh Nguyễn Văn Thọ, pháp danh Ấn Nghiêm, tự Tổ Thân, hiệu Phổ Thoại, sinh tại làng Kim Bỗng, xã Cẩm Kim, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 39, Tổ khai sơn chùa Long Tuyền (Hội An, Quảng Nam), viên tịch, thọ 80 tuổi.

– Ngày 13 tháng 4 năm Giáp Ngọ, Thượng tọa Tâm Xưởng – Thiện Tường (1928-1954), thế danh Lê Văn Xưởng, húy Tâm Xưởng, thuộc dòng Tế Thượng – Chánh Tông, đời thứ 43, trụ trì chùa Linh Phước (Cần Đước, Long An), thị tịch, trụ thế 37 năm.

– Ngày 06, 07, 08 tháng 6 năm Giáp Ngọ, Hòa thượng Như Điền – Huệ Chấn (1886-1955) tổ chức Lễ lạc thành các chùa Sắc tứ Quốc Ân, chùa Hưng Long, chùa Hưng Hiển tại Sài Gòn.

– Ngày 12 tháng 12 năm Giáp Ngọ, Hòa thượng Nguyên Châu – Huệ Thông (1880-1954), thế danh Nguyễn Thiện Minh, húy Nguyên Châu, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh tông, đời thứ 44, trụ trì chùa Long Phước (Long An), viên tịch, thọ 75 tuổi.

– Thượng tọa Tâm Trí – Viên Giác (1911-1976) được GHTG Trung Việt đề cử đảm đương chức vụ Giám đốc Phật học đường Khánh Hòa. Cũng năm này, ngài được Hòa thượng Phước Huệ giao trách nhiệm trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).

– Thượng tọa Tâm Hoàn – Huệ Long  (1924-1981) được cử giữ chức Phó Hội trưởng Hội Phật Học Trung Phần.

Thượng tọa Nguyên Lưu – Giác Tánh (1911-1987) được công cử ra Huế liên lạc với Phật giáo Trung phần. Sau khi trở về, ngài cùng chư tôn túc thực hiện sứ mạng cải tổ hai tổ chức Phật giáo hoạt động song song với nhau đó là thành lập Giáo Hội Tăng Già và Tổng Hội Phật Giáo (TSDTVN).

– Hòa thượng Như Lý – Thiên Trường (1876-1970) được suy tôn làm Đại Tăng Trưởng Giáo Hội Lục Hòa Tăng.

– Đại đức Nguyên Tánh – Đức Tâm (1828-1988) được cử giữ chức Tổng thư ký nguyệt san Liên Hoa. Cũng năm này, ngài được thỉnh làm Giảng sư cho Tổng hội Phật giáo Trung phần; Giáo sư tại Phật học đường Báo Quốc và các trường Trung học Bồ-đề – Huế.

– Thượng tọa Hồng Đạo – Bửu Ý (1917-1996) khôi phục lại Tổ đình Long Thạnh ở Bà Hom, nay thuộc quận Bình Tân, Tp. HCM, trùng tu tăng đường để thuyết giảng Phật pháp.

– Đại đức Hồng Phương – Trí Đức (1915-1999) được mời làm Giáo thọ tại Trường Hương chùa Khánh Sơn nay thuộc khóm 4, phường 6, thị xã Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

– Thượng tọa Tâm Như – Mật Nguyện (1911-1972) được cung thỉnh giữ chức Trị sự trưởng Sơn Môn Tăng Già Trung Việt (1954-1964).

– Tổ đình Chúc Thánh nay tại đường Hai Bà Trưng, TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam, được Hòa thượng Chơn Chứng – Thiện Quả (1881-1962) trùng tu chánh điện, xây thêm Đông đường, Tây đường. Trước đây vào năm 1929, ngài đã trùng tu phương trượng chùa này.

– Đại đức Như Nhàn – Trí Giác (1915-2005) được cử làm trụ trì Tổ đình Phước Lâm ở Hội An, Quảng Nam.

– Đại đức Như Khánh – Huyền Tấn (1911-1984) kế thế trụ trì Tổ đình Thiên Ấn ở núi Thiên Ấn, nay thuộc xã Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

– Thượng tọa Như Lộc – Viên Phước (1894-1973) kế thế trụ trì Tổ đình Phước Quang ở thôn Phước Long, xã Tư H a, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Nam.

– Đại đức Như Bình – Huyền Tịnh (1914-2003) được Tổng hội Phật giáo Trung Phần bổ nhiệm trụ trì chùa Tỉnh hội Phật giáo Quảng Nam – Đà Nẵng.

– Đại đức Thị Sa – Bình Chánh (1916-1985) kế thế trụ trì chùa Sơn Long ở núi Trường Úc, thôn Thuận Nghi, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Ninh, trấn Bình Định.

– Chùa Bạch Sa (Quy Nhơn) bị giải tỏa để làm sân bay Quy Nhơn, Tăng cang Như Huệ – Hoằng Thông (1894-1972) giao việc trùng kiến chùa lại cho đệ tử Thị Niệm – Giác Nguyên, còn ngài trở về trụ trì chùa Lộc Hòa (Phước Lộc, Quy Nhơn).

– Hòa thượng Như Phụng – Kim Bình (1891-1954) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì chùa Khánh Sơn (tổng Bình Hòa, phủ Tuy Hòa), viên tịch, thọ 64 tuổi.

– Đại đức Như Cảnh – Kim Thiền (1906-1986) kế thế trụ trì chùa Khánh Sơn xã Phước Hậu, tổng Bình Hòa, phủ Tuy Hòa.

– Đại đức Tâm Thanh – Tịch Tràng (1909-1976) khởi công trùng tu chánh điện Tổ đình Linh Sơn (Vạn Ninh, Khánh Hòa), đến năm 1956 mới hoàn thành.

– Sư cô Tâm Đăng – Chơn Như (1915-2005) khởi công trùng tu chùa Linh Sơn tại TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

– Ni sư Đồng Chánh – Tịnh Giác (1909-1995) cất tịnh thất tu dưỡng (sau này trở thành Ni viện Vạn Hạnh) nay tại quận Thủ Đức, Tp. HCM.

– Ni sư  Kiều Nga – Như Nghĩa (1907-1989) được Phật tử thỉnh về trụ trì chùa Hải Huệ (Sa-Đéc, Đồng Tháp).

– Sư cô Không Tánh – Như Đăng (1916-1997) được mời làm trụ trì chùa Phước Hòa nay tại thị trấn Mỹ Xuyên, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

– Thượng tọa Chơn Thông – Đồng Phước (1895-1968) trùng tu Tổ đình Cổ Lâm tại xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

– Thiền sư Trừng Thành – Vạn Ân khai sơn chùa Thất Bửu tại Phán Rí, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

– Thượng tọa Trừng Phước – Vĩnh Lưu trùng tu chùa Sắc tứ Kim Cang nay thuộc phường 1, thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

– Thiền sư Hải Đạt – Huyền Tín (?-1954), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 40, trụ trì chùa Phước Long (Phú Yên), thị tịch.

– Đại đức Nguyên Minh – Đức Thiệu (1911-1993) được Tổng hội Phật giáo Trung Phần bổ nhiệm trụ trì chùa Khải Đoan nay tại Tp. Buôn Mê Thuộc, tỉnh Đak Lak.

– Đại đức Tâm Giải – Tương Ưng (1912-1994) trùng tu Tổ đình Từ Quang ở Thuận Hóa – Huế, năm sau (1955) hoàn thành. Tổ đình này được ngài tiếp tục trùng tu : hậu đường (1964), đại trùng tu (1968), xây phương trượng (1990).

– Hòa thượng Giác Trang – Hải Tràng (1884-1972) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Phổ Quang thuộc quận Phú Nhuận, tỉnh Gia Định.

– Hòa thượng Ngộ Tánh – Phước Huệ (1875-1963) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn Tổ đình Thiên Bửu, thôn Điềm Tịnh, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

– Chùa Long Vân tại quận Bình Thạnh, tỉnh Gia Định khai Trường Hương – Trường Kỳ giới đàn, Hòa thượng Chơn Trừng – Đạo Thanh (1895-1962) được cung thỉnh làm Giới sư. Tại giới đàn này có giới tử  Như Niệm thọ Tỳ-kheo.

– Đại đức Phát Huệ (1917-2008) được suy cử làm Trị sự phó kiêm Chánh thư ký, GHTGNV tỉnh Vĩnh Long (1954-1964).

– Hòa thượng Thanh Quang về trụ trì Tam Giáo Đường (nơi thờ Phật, Nho và Lão giáo) nay ở xã Dư Hàng Kênh, huyện An Hải, TP. Hải Ph ng, ngài trùng tu đạo tràng này và đổi tên là chùa Phổ Chiếu.

– Thiền sư Liễu Ái khai sáng am Tỉnh Ngộ trên nền đất do thân phụ hiến cúng, nay tại số 197/7, ấp Cầu Ván, xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

– Đại đức Lệ Diệu – Thiện Chánh (1933-1986) khai sáng chùa Linh Phước nay tại số 27/2, ấp Bình Thạnh 2, xã Thuận Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

– Đại đức Minh Sơn (1923-2009) thành lập chùa Đông Sơn nay tại số 40, ấp 1A, xã Long Sơn, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, trên khu đất của gia đình hiến cúng.

– Thượng tọa Giác Phước (1900-1982) khai sáng chùa Bình Phước nay tại ấp 3, xã Lạc Tấn, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An, trên khu đất khoảng 3.000m2 do ông Hội đồng Sô hiến cúng.

– Đại đức Từ Dung – Bình Chánh (1916-1985) về trụ trì chùa Sơn Long tại thôn Thuận Nghi, xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước (nay thuộc xã Nhơn Bình, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định).

– Đại đức Hồng Căn – Chí Tịnh (1913-1972) trùng tu chùa Phước Long nay tại ấp Phú Hòa, xã Phú Phong, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

– Thượng tọa Lệ Quang – Thiện Thành (1903-1986) được Hòa thượng Hoằng Đức bổ nhiệm làm trụ trì chùa Hàng Lâm nay thuộc huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

– Chùa Núi Châu Thới nay thuộc ấp Châu Thới, xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương, được trùng tu. Đến năm 1993, chùa này lại trùng tu lần nữa.

– Thượng tọa Hồng Ân khai sáng chùa Linh Hiển hiện tại số 54/9A, khu phố 4, phường Linh Đông, quận Thủ Đức, Tp. HCM.

– Thượng tọa Thanh Thao – Trí Hải (1906-1979) xây dựng chùa Phật Giáo (nay là chùa Nam Hải) ở Tp. Hải Phòng.

– Mùa xuân năm Giáp Ngọ, Hòa thượng Như Diệu – Tịnh Diệu (?-1954) hiệu Vĩnh Thừa, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 42, trụ trì chùa Thiền Lâm (Huế), viên tịch.

01/01/1954

Năm 1954

Ngài Thiện Hòa thấy việc in kinh, luật, luận, sách cần xuất bản ngày càng nhiều, thì chỉ có việc lập nhà in thì mới tiện lợi. Do đó, Ngài quyết định lập nhà in ngay phía sau nhà Tổ Ấn Quang

Từ năm 1957, ngài Thiện Hoa đặt Nhà Xuất bản Hương Đạo rồi mở phòng phát hành kinh sách Ấn Quang, phòng này do chư Tăng Ấn Quang trực tiếp điều hành, gởi sách đi phát hành khắp nơi.

 

1953
01/01/1953

Năm 1953

Năm 1953, Giáo Hội Tăng già Nam Việt mời Bồ Tát Thích Quảng Đức làm chức Trưởng Ban Nghi Lễ. Và theo lời thỉnh cầu của hội Phật Học Nam Việt, Bồ Tát nhận làm chủ trì chùa Phước Hòa (Bàn Cờ), trụ sở của Hội.

01/01/1953

Năm 1953

Năm 1953, ngài Thiện Hoa, vốn là đồng học với ngài Thiện Hòa ở trường Phật học Báo Quốc từ năm 1938 đến năm 1945, từ Trà Ôn lên tham dự hẳn vào công việc trùng hưng PG ở trung tâm Sài Gòn. Ngài làm Trưởng ban Hoằng pháp của GHTGNV, ban đầu là tiếp dạy hàng tuần các môn Phật pháp, kinh điển cho học tăng tại Phật học đường Nam Việt, Ngài là Đốc giáo (Giám học). Với hai chức vụ Đốc giáo và Trưởng ban Hoằng pháp, ngài chăm lo công việc thật siêng năng hiếm có, suốt tháng ngày dạy học, đi giảng, dịch kinh luận, viết sách, tối lại mở lớp dạy Việt ngữ cho đồng bào quanh đây, phương pháp của ngài là dạy vần chữ O, chỉ một tháng là học viên đọc, viết được chữ. Khi ấy, Hội Truyền bá Quốc ngữ đến dự, họ thấy phương pháp của ngài rất hay, khen chí tình.

Những năm kế tiếp là 54, 55, 56, 57, công việc hoằng pháp trở nên dày đặc, ngày nối ngày với việc nối tiếp mà môn nào cũng phải gia tâm làm tận lực.

Năm 1955, ngài bắt đầu soạn Phật học phổ thông làm sao cho dễ hiểu, giúp người mới học Phật lãnh hội nhẹ nhàng. Mỗi bài có dàn bài chi tiết kỹ lưỡng. Ban đầu đem dạy cho học tăng, từ lớp sơ đẳng tới trung đẳng với từng cahier bài chưa đóng tập, mỗi khóa 10 bài. Khi dạy ấy, ngài Thiện Hoa nhằm huấn luyện người có khả năng để những năm sau sẽ đi giảng các tỉnh. Rốt cuộc đi tới nguyện ước, thì chỉ có quý Thầy Thanh Từ, Huyền Vi, Từ Thông, Thiền Định, Quảng Long, Chính Tiến đi giảng có kết quả khả quan vì quý Thầy này đã tốt nghiệp Trung đẳng Phật học, tuổi lớn, tiếp nhận bài học, diễn nói vững chãi. Thế là từ năm 1956, ngài Thiện Hoa lập Giảng sư đoàn cử đi giảng Phật học phổ thông ở các tỉnh Nam phần. Đây là việc phổ biến giáo lý khắp các tỉnh cho đồng bào Phật tử có tính chất quy mô sâu rộng. Các kỳ giảng Phật học phổ thông được lên lịch kỹ càng với vị trí địa điểm, giảng sư lưu động mỗi nơi giảng hai tuần rồi sang tỉnh khác. Người hăng hái chuẩn bị phép tắc cũng như lo liên hệ hiệu trưởng các trường trung học hoặc tiểu học từng trú xứ trong các tháng nghỉ hè, là ngài Thiện Bình, trụ trì chùa Thiên Phước, Cai Lậy. Ngài là cán bộ đặc biệt thừa lịnh hai thầy Thiện Hòa và Thiện Hoa trong mọi công việc Giáo hội.

Ngài Thiện Bình (1903-1993) vào học Ấn Quang năm 1951, vì tuổi lớn nên ngài Thiện Hoa giao chức Tri khố. Sau thời gian học, ngài được điều đi làm Phật sự như vừa nói. Hai thầy Huyền Vi và Thanh Từ thường đi song song từng nơi mà giảng, còn thầy Từ Thông và Thiền Định thì đi riêng. Hai thầy Quảng Long và Chính Tiến thì đi một hai nơi rồi nghỉ vì hai thầy nói giọng Bắc, đồng bào Nam Kỳ nghe không được. Các buổi giảng còn có chiếu phim thời sự Phật giáo nên tạo được không khí rộn ràng, sôi nổi. Đây là lần đầu tiên, lâu đời tới nay mới có cuộc diễn giảng Phật pháp rộng lớn và đem đến cho mọi người nguồn giáo lý mới lạ, đầy hấp dẫn, dễ nghe, nên các buổi giảng dù ít cũng không dưới 200 người, còn thì từ 3, 400 trở lên. Do vậy, mượn các trường học có sân rộng, giảng ban đêm mát mẻ, đèn sáng, âm thanh tốt. Có nơi Tỉnh trưởng cũng đi nghe, sẵn sàng cho mượn hệ thống âm thanh, loa phát rất tốt. Sự đón rước giảng sư rất long trọng. Cuộc giảng Phật học phổ thông thành phong trào có thế mạnh dần từ đầu và về sau còn kéo dài suốt mấy năm. Thành công trong việc giảng Phật học phổ thông này coi như thành quả đầy khích lệ cho công việc hoằng pháp của GHTGNV. Quần chúng nghe hiểu giáo lý Phật càng nhiều, ở khắp nơi họ trở thành tín đồ có hiểu biết lịch sử, giáo lý rành, từ đó quy y theo Phật càng đông. Các Tỉnh hội Phật học Nam Việt, số hội viên cũng tăng lên. Các chùa hội quán lần lượt được xây cất. Bấy giờ có những nơi rất nhu cầu về trụ trì.

01/01/1953

Năm 1953 (Quý Tỵ – PL.2497)

Năm 1953 (Quý Tỵ – PL.2497)

– Ngày 07 – 09 tháng 3 (nhằm ngày 22, 24 – 1 – Quý Tỵ), Thiền sư Thanh Thao – Trí Hải (1906-1979) vào Nam họp Đại hội đồng GHTG Nam Việt tại chùa Ấn Quang số 635, đường Lorgerit, Chợ Lớn. Cũng năm này, ngày 05 – 8, Thiền sư cùng các đại biểu PGVN sang Campuchia dự lễ rước xá-lợi Phật ở Ấn Độ về làm lễ cầu hòa bình.

– Ngày 08 tháng 3, Hòa thượng Thiện Hải – Huệ Quang (1888-1956) được suy tôn làm Pháp chủ GHTGNV. Hòa thượng thế danh là Nguyễn Văn Ân, quê ở Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ. Năm 1902, ngài xuất gia tại chùa Long Thành ở Trà Cú. Năm 1919, ngài đắc pháp với Hòa thượng Từ Vân, được ban pháp hiệu Huệ Quang. Hòa thượng đã từng cùng chư tôn đức thành lập : Liên Đoàn Phật Học Xã, Hội Lưỡng Xuyên Phật Học (1934), Chủ nhiệm tạp chí Duy Tâm (1935).

– Ngày 19 tháng 6, Hòa thượng Thanh Tiệp (?-1953) trụ trì chùa Liên Phái (Hà Nội), Cố vấn Tổng trị sự GHTG Bắc Việt, viên tịch.

– Ngày 02 tháng 3 năm Quý Tỵ, Đại đức Lệ Huệ – Thiện Chí (1911-1953), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 42, trụ trì chùa Núi Châu Thới (Thuận An, Bình Dương), thị tịch, hưởng dương 43 tuổi.

– Ngày 11 tháng 7 năm Quý Tỵ, Hòa thượng Thanh Kế – Huệ Đăng (1873-1953) thế danh Lê Quang H a, húy Thanh Kế, hiệu Huệ Đăng, sinh tại xã An Đông, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 41, Tổ sư sáng lập “Thiên Thai Thiền Giáo Tông Liên Hữu Hội”, viên tịch tại chùa Thiên Tôn (Bình Định). Những tác phẩm của Tổ sư : Kinh Vu Lan Nghĩa, Kinh Di Đà Nghĩa, Bát Nhã Tâm Kinh Nghĩa, Tịnh Độ Chánh Tông, Bài Sám Thảo Lư (TSDTVN, LSPGĐT).

– Vào lúc 8 giờ 15 phút, ngày 31 tháng 12 (nhằm ngày 26 – 11 – Quý Tỵ), Hòa thượng  Hồng Xưng – Thiện Quang (1895-1953) húy Hồng Xứng, pháp danh Thiện Quang, nguyên quán xã Tân Bình, huyện Mõ Cày, tỉnh Bến Tre, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Tổ khai sơn chùa Vạn Linh (núi Cấm, Châu Đốc, An Giang), viên tịch, trụ thế 59 năm (Kỷ Yếu Trùng Tu chùa Vạn Đức, Vạn Linh, NXB Tổng Hợp Tp. HCM).

– Thượng tọa Tâm Hương – Mật Hiển (1907-1992) được suy tôn làm Trị sự trưởng GHTG Trung Việt.

– Thượng tọa Chơn Tảo – Nhựt Minh (1908-1993) được cử làm Tăng trưởng ba tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau.

– Thượng tọa Thị Huê – Thiện Hương (1903-1971) được Trung ương Giáo hội và tăng tín đồ tỉnh Bình Dương suy cử lên ngôi vị Hòa thượng, đảm nhận Tăng trưởng Phật giáo tỉnh Bình Dương.

– Hòa thượng Nhật Dần – Thiện Thuận (1900-1973) hiến cúng mẫu đất trước khuôn viên chùa Giác Lâm ở Gia Định, dùng làm nơi xây tháp để tôn trí ngọc Xá-lợi Phật do Đại đức Narada từ Tích Lan mang sang tặng, vào ngày 24-6-1953 và trồng một cây Bồ-đề được chiết cành từ cây gốc nơi đất Phật.

– Hòa thượng Hạnh Pháp – Quảng Đức (1897-1963) được thỉnh cử vào chức vụ Phó trị sự và Trưởng ban Nghi lễ GHTGNV, đồng thời trụ trì chùa Phước Hòa (ở Bàn Cờ, nay thuộc Tp. HCM).

– Hòa thượng Chơn Tích – Đạo Triêm – Huệ Hải (1893-1953) thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, trụ trì Tổ đình Quang Lộc (Tư Nghĩa, Quãng Ngãi), viên tịch, thọ 60 tuổi.

– Đại đức Như Bình – Huyền Tịnh (1914-2003) khai sơn chùa Linh Sơn tại đèo Eo Gió, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.

– Thượng tọa Như Đăng – Trí Độ (1894-1979) được chỉ định làm Ủy viên Ủy ban Việt Nam Bảo vệ Hòa Bình Thế giới.

– Đại đức Nhựt Sáu – Từ Nhơn (1926-2013) được cử làm trụ trì chùa Phước Thạnh (Đồng Tháp).

– Thượng tọa Như Quả – Thiện Hoa (1918-1973) được cử giữ chức Trưởng Ban Giáo dục và Trưởng Ban Hoằng pháp GHTG Nam Việt kiêm Đốc giáo Phật học đường Nam Việt tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn.

– Ni sư Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) được cung thỉnh làm Đàn chủ và Hòa thượng Đàn đầu giới đàn Ni tại chùa Dược Sư nay thuộc quận Gò Vấp, Tp. HCM.

– Sư cô Không Tánh – Như Đăng (1916-1997) tổ chức lễ lạc thành chùa Linh Khánh (Long Hồ, Vĩnh Long) và nhận làm trụ trì chùa này.

– Ni sư Trừng Hảo – Diệu Không (1905-1997) về trụ trì chùa Diệu Hỷ và quản lý nhà in Liên Hoa, đồng thời giảng dạy giáo lý cho Phật tử tại chùa Diệu Đế ở Thuận Hóa – Huế.

– Hòa thượng Thiện Hải – Huệ Quang (1888-1956) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Như Quả – Thiện Hoa làm Giới sư cho giới đàn chùa Ấn Quang, thôn Vườn Lài, tỉnh Chợ Lớn. Trong các giới tử tại giới đàn này có ngài Thanh Từ thọ giới Tỳ-kheo.

– Hòa thượng Chơn Thanh – Bích Nguyên (1898-1987) được cung thỉnh về trụ trì chùa Linh Sơn (Đà Lạt) và làm Hội trưởng Hội Phật giáo Lâm Viên.

– Thượng tọa Chánh Định (1901-1991) khai sáng chùa Giác Tông nay tại số 549, ấp Tân Đại, xã Tân Lập, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, trên khu đất gia đình hiến cúng.

– Hòa thượng Quảng Nhu – Huệ Thắng (1899-1970) được Hội Lục hòa Tăng (tại Thủ Dầu Một) cử làm Phó Tăng trưởng Tỉnh hội kiêm Tăng giám Quận hội Châu Thành.

– Thượng tọa Chơn Tân – Thiện Khoa (1901-1964) được suy cử làm Tăng phó Giáo hội Lục hòa Tăng tỉnh Thủ Dầu Một.

– Đại đức Thị Tịnh – Mỹ Phước (1917-?) kế thế trụ trì chùa Long Sơn tại làng Phú Hữu, Thủ Dầu Một nay thuộc xã Phú Mỹ, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

– Thượng tọa Quảng Niệm – Thị Hộ (?-1953) thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 40, trụ trì chùa Long Sơn (Thủ Dầu Một, Bình Dương), thị tịch.

– Đại đức Đồng Lưu – Thiện Phương (1906-1968) đại trùng tu chùa Phước An nay tại phường Phú Hòa, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

– Đại đức Tâm Vương – Trí Viên, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 43, kế thế trụ trì chùa Kim Tiên, nay tại khu 7, thị trấn Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (1953-1960).

– Đại đức Chơn Tảo – Nhựt Minh (1908-1993) về trụ trì chùa Thiền Tâm hiện tại đường Nguyễn Huệ, khóm 4, phường 9, thị xã Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, trùng tu chùa và đổi tên là chùa Đại Giác. Chùa này được Sư cô Huệ Liễu đại trùng tu vào năm 1999.

– Đại đức Tâm Lợi – Thiện Hòa (1907-1978) được suy cử chức vụ Trị sự trưởng GHTGNV.

– Hòa thượng Thiện Tòng (1891-1964) sáng lập chùa Thạnh Đức ở bến Chương Dương, Gia Định, nay ở số 233/32, đường Bến Chương Dương, phường Cô Giang, quận 1, Tp. HCM.

– Đại đức Chân Từ – Thanh Kiểm (1920-2000) được GHTG Bắc Việt cử sang Nhật Bản du học. Năm 1954, ngài đến Nhật Bản lưu học tại Đại học đường Rissho. Năm 1959, ngài Tốt nghiệp Cử Nhân Phật học. Đến năm 1962, tốt nghiệp học vị Tiến sĩ Phật học.

– Sư cô Tâm Huệ – Viên Minh (1914-2014) được mời về trụ trì chùa Hồng Ân nay thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế.

– Sư cô Tâm Ý – Hồng Chí (1913-2007) khai giảng Phật học Ni trường Từ Quang ở Sa Đéc (Đồng Tháp).

1952
01/01/1952

Năm 1952 (Nhâm Thìn – PL.2496)

Năm 1952 (Nhâm Thìn – PL.2496)

– Tháng 2, Thượng tọa Hồng Tín – Huệ Thành (1912-2001) được suy cử làm Đệ nhất Phó tăng giám, Trưởng ban Hoằng pháp Trung ương, Tăng trưởng Giáo hội Lục hòa Tăng tỉnh Biên Hòa. Cũng năm này vào tháng 3, ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho đại giới đàn chùa Đại Phước (Biên Hòa – Đồng Nai) và làm Thiền chủ kiêm Giảng sư trường Hương tại chùa Báo Quốc (Sài Gòn).

Ngày 13 tháng 2 năm Nhâm Thìn, Hòa thượng Chơn Trung – Diệu Quang (1891-1952) họ Trần, pháp danh Chơn Trung, tự Đạo Chí, hiệu Diệu Quang, sinh tại làng Sung Tích, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì chùa Thiên Ấn (Quảng Ngãi), viên tịch, thọ  62 tuổi.

– Ngày 15 tháng 2 năm Nhâm Thìn, Giáo Hội Lục Hòa Tăng và Lục Hòa Phật Tử được thành lập, Hòa thượng Thiện Tòng (1891-1964) được suy tôn làm Đại Tăng Trưởng; Thượng tọa Quảng Châu – Hoằng Thông (1902-1988) được suy cử vào Ban chức sự Trung Ương Giáo Hội Lục Hòa Tăng tại Sài Gòn (TSDTVN).

– Ngày 06 tháng 4 năm Nhâm Thìn, Hòa thượng Trừng Quảng – Pháp Lưu (1888-1952), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì chùa Thiên Khánh (Long An), viên tịch, thọ 65 tuổi.

– Ngày 12 tháng 5, Thiền sư Trí Quang, Ủy viên Giáo lý Tổng hội PGVN, ra Hà Nội thỉnh Hòa thượng Pháp chủ và Thượng tọa Tố Liên vào Huế họp.

– Ngày 27 tháng 5, Thiền sư Mật Nguyện (1911-1972) vào Nam để trực tiếp thảo luận với GHTG Nam Việt về cuộc họp Đại hội GHTG Việt Nam.

– Ngày 04 tháng 7, Hòa thượng Đạo Thông – Trí Thắng (1891-1975) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Tín Quả làm Yết Ma cho giới đàn Tổ đình Thiên Bửu thuộc huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

– Ngày 04 tháng 7 năm Nhâm Thìn, Hòa thượng Từ Chiếu – Quảng Huy (1881-1952), thế danh Võ Văn Tam, húy Từ Chiếu, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 45, Tổ khai sơn chùa Thiền Bửu (Tân Thạnh, Long An), viên tịch, thọ 71 tuổi.

– Ngày 03 tháng 9 (nhằm ngày 15 – 7 – Nhâm Thìn), chùa Phổ Minh tại Quảng Bình mở Đại giới đàn. Hòa thượng Hồng Tuyên Chánh Giáo Từ Thông được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Từ Tường làm Yết Ma, Hòa thượng Huyền Cơ làm Giáo thọ. Tôn chứng : Đệ nhất : Đại sư Thiền Hải; Đệ nhị : Đại sư Thiền Chơn; Đệ tam : Đại sư Thiền Quang; Đệ tứ : Đại sư Thiền Viên; Đệ ngũ : Đại sư Pháp Tạng; Đệ lục : Đại sư Đồng Chơn; Đệ thất : Đại sư Thiền Ấn.

– Ngày 03 tháng 9 (nhằm ngày 15 – 7 – Nhâm Thìn), Thiền sư Thanh Thao – Trí Hải (1906-1979) về thuyết pháp tại chùa Hội quán Chi hội Phật giáo Hải Dương. Cũng năm này, ngày 14 – 9 (26 – 7 – Nhâm Thìn), Thiền sư được suy tôn làm Trị sự trưởng GHTGNV. Đến ngày 06 – 10, Thiền sư được Hội PGVN cử sang Phnom Pênh dự lễ cung nghinh xá-lợi Phật Tổ và Thánh Tăng Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên (BNSPGMB).

– Ngày 18 tháng 10 năm Nhâm Thìn, Hòa thượng Hồng Đạo – Bửu Đức (1893-1952), thế danh Nguyễn Văn Điệu, húy Hồng Đạo, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Tân Sơn (Đức Hòa, Long An), viên tịch, trụ thế 60 năm.

– Ngày 16 tháng 12 năm Nhâm Thìn, Đại đức Nhật Kỷ – Bửu Thắng (1880-1952), thế danh Lê Văn Liễn, húy Nhật Kỷ, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, Tổ khai sơn chùa Long Vĩnh (Thủ Thừa – Long An), viên tịch, thọ 73 tuổi.

– Thiền sư Chân Đạo – Chánh Thống (1901-1968) tham gia cùng phái đoàn Phật giáo miền Trung ra Bắc để họp thống nhất tăng-già Việt Nam.

– Đại đức Trừng Chiếu – Từ Mãn (1918-2007) cung thỉnh Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết vào Đà Lạt chứng minh Lễ đúc tượng Phật và đại hồng chung chùa Linh Sơn – Đà Lạt, tỉnh Lâm Viên. Cũng năm này, Đại đức được Đức Từ Cung Đoan Huy Hoàng thái hậu (mẹ vua Bảo Đại) mời làm trụ trì chùa Sắc Tứ Khải Đoan nay tại số 117, đường Phan Bội Châu, phường Thống Nhất, Tp. Buôn Mê Thuột, tỉnh Đak Lăk.

– Thượng tọa Chơn Sử – Khánh Tín (1896-1992) kế thế trụ trì Tổ đình Thiên Ấn ở núi Thiên Ấn, nay thuộc xã Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

– Thượng tọa Như Từ – Tâm Đạt (1907-1979) khai đại giới đàn tại chùa Thiên Bình (nay thuộc xã Nhơn Phong, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định) và cung thỉnh làm Hòa thượng Không Hoa – Huệ Chiếu (1898-1965) làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Phước Hộ làm Yết-ma, Hòa thượng Giác Tánh làm Giới sư, còn ngài làm Giáo thọ kiêm Hóa chủ.

– Đại đức Nhựt Sáu – Từ Nhơn (1926-2013) được cung cử làm Trị sự trưởng GHTG Nam Việt tỉnh Sa Đéc kiêm giảng sư Tỉnh hội.

– Thượng tọa Chơn Công – Đạo Mậu – Viên Giác (1898-1952), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì chùa Linh Sơn (Vạn Ninh, Khánh Hòa), thị tịch, trụ thế 54 năm.

– Hòa thượng Đạo Thông – Trí Thắng (1891-1975) được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng tại Đại giới đàn chùa Thiên Bửu ở Ninh Hòa.

– Thượng tọa Như Thọ – Huyền Tân (1911-1979) được cung thỉnh giữ chức Giám đốc Phật học đường Nha Trang.

– Tỳ-kheo Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012) xuất dương du học tại Sri Lanka và Ấn Độ.

– Đại đức Tâm Nhẫn – Chí Tín (1922-2013) cùng chư tôn đức xây dựng Tăng học đường Trung Việt tại chùa Sắc tứ Long Sơn nay thuộc Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

– Ni sư Như Nghiêm – Huyền Học (1920-1995) được mời làm Cố vấn Giáo hạnh cho Gia đình Phật tử tỉnh Bình Thuận và dạy giáo lý cho trường Bồ Đề tại Phan Thiết.

– Sư cô Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) mở trường Tiểu Học Kiều Đàm tại chùa Huê Lâm (Sài Gòn) để dạy bổ túc văn hóa cho chư Ni và trẻ em nghèo.

– Thượng tọa Chơn Thông – Đồng Phước (1895-1968) được mời làm Ủy viên của GHTG Quảng Nam Đà Nẵng và đặc trách Phật giáo huyện Đại Lộc.

– Thiền sư Thị Bích – Ngộ Tú khai sơn chùa Bửu Thắng nay thuộc khu phố 11, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

– Ni sư Hồng Nga – Diệu Ngọc (1885-1952) thế danh Huỳnh Thoại Nga, pháp danh Hồng Nga, tự Diệu Ngọc, người tỉnh Bạc Liêu, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Tổ sáng lập chùa Giác Hoa (Bạc Liêu), viên tịch, thọ 67 tuổi.

– Đại đức Tâm Giải – Tương Ưng (1912-1994) kế thế trụ trì Tổ đình Từ Quang ở Thuận Hóa – Huế.

– Thượng tọa Phước Bình – Hành Trụ (1904-1984) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Thiện Tường làm Giới sư cho giới đàn sau mùa An Cư Kiết Hạ tại Phật học viện Tăng Già (chùa Giác Nguyên) thuộc phường Vĩnh Hội, Sài Gòn.

– Hòa thượng Chơn Quý – Khánh Anh (1895-1961) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn tại Phật học đường Nam Việt (chùa Ấn Quang), thôn Vườn Lài, tỉnh Chợ Lớn.

– Hòa thượng Ngộ Giác – Chánh Quả (1885-1956) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Kim Huê, huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc.

– Đại đức Đức Trường – Thiện Lập (1922-1989) kế thế trụ trì chùa Long Hưng nay tại ấp 4, xã Tân Định, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

– Đại đức Bổn An – Thiện Đắc (1927-?) thành lập chùa Phước An nay tại ấp Chợ, xã Phước Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An, do dân làng hiến cúng đất. Chùa làm bằng cây lá đơn sơ.

– Đại đức Nguyên Bình – Minh Cảnh (1905-1986) được suy cử làm Trị sự trưởng GHTG tỉnh Đồng Nai.

– Đại đức Bổn Đức – Thành Đạo (1906-1977) được suy cử làm Tăng giám Giáo hội Lục hòa Tăng.

– Hòa thượng Nguyên Chất – Giác Điền kế thế trụ trì chùa Linh Sơn Tiên Thạch trên núi Bà Đen, nay thuộc ấp Ninh Trung, xã Ninh Sơn, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (1952-1957).

– Thượng tọa Hồng Đạo sáng lập chùa Giác Huệ hiện tại số 80/97, đường Hoàng Hoa Thám, phường 7, quận Bình Thạnh, Tp. HCM.

– Đại đức Tâm Lợi – Thiện Hòa (1907-1978) sáng lập chùa Huệ Nghiêm nay ở An Dưỡng Địa, khu phố 2, thị trấn An Lạc, huyện Bình Chánh, Tp. HCM.

– Đại đức Quảng Động – Phước Thành (1918-2014) kế thế trụ trì Tổ đình Thiên Phước nay thuộc xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

– Hòa thượng Như Chất – Nhơn Trực (1886-1987) khai sơn chùa Từ Vân hiện tại số 9, đường Trần Nhật Duật, phường Phước Tiến, Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

– Đại đức Hồng Tín – Huệ Thành (1912-2001) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Đại Phước ở tỉnh Biên Hòa (Đồng Nai). Cũng năm này, ngài được cung thỉnh làm Thiền chủ trường Hương tại chùa Báo Quốc (Chợ Lớn, Sài Gòn). Trường Hương này có trên 100 vị Tăng về tu học.

1951
01/01/1951

Năm 1951

Ngày 6/5/1963, chính quyền Ngô Đình Diệm (NĐD) ra lệnh cấm treo cờ PG thế giới trong dịp lễ Phật Đản 2507-1963 bằng Công điện số 9159

Ngày 10-5-1963, trong cuộc mít-tinh của Tăng Ni, Phật tử tại chùa Từ Đàm – Huế, giới lãnh đạo PG miền Nam đã đưa ra Tuyên ngôn gồm 5 nguyện vọng tối thiểu [i] , khẳng định mục tiêu và quyết tâm tranh đấu của mình: “Chúng tôi sẵn sàng hy sinh cho đến lúc nào những nguyện vọng hợp lý trên đây được thực hiện” [ii].

[i] . 5 nguyện vọng như sau :

1- Yêu cầu Chính phủ Việt Nam Cộng hòa thu hồi vĩnh viễn công điện triệt giáo kỳ của PG ;

2- Yêu cầu PG phải được hưởng một quy chế đặc biệt như các Hội Truyền giáo Thiên Chúa đa được ghi trong Dụ số 10 ;

3- Yêu cầu Chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ, khủng bố tín đồ PG ;

4- Yêu cầu cho Tăng, tín đồ PG được tự do truyền đạo và hành đạo ;

5- Yêu cầu Chính phủ đền bồi một cách xứng đáng cho những kẻ giết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải đền bồi đúng mức.

[ii] . Bản Tuyên ngôn của Tăng, tín đồ PG Việt Nam đọc trong cuộc metting của Phật tử tại chùa Từ Đàm – Huế, ngày 10-5-1963. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Ký hiệu tài liệu SC.04-HS.8352

01/01/1951

Năm 1951

Năm 1951, Đại hội Phật giáo toàn quốc nhóm họp tại chùa Từ Đàm, gồm 51 đại biểu Tăng già, Cư sĩ ba miền Nam, Trung, Bắc. Đại hội này thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam và suy tôn Hòa thượng Tịnh Khiết làm hội chủ.

01/01/1951

Năm 1951 (Tân Mão – PL.2495)

Năm 1951 (Tân Mão – PL.2495)

– Ngày 25 tháng 2 (nhằm ngày 20 – 1 – Tân Mão), Hòa thượng Như Điền – Huệ Chấn (1886-1955) được cung thỉnh làm Chứng minh Đạo sư cho Hội Phật học Nam Việt, thành lập tại chùa Khánh Hưng.

– Ngày 21 tháng 2 năm Tân Mão, Hòa thượng Chơn Đĩnh –  Phước Thông (1866-1951) thế danh Lê Hữu Đạt, pháp danh Chơn Đĩnh, tự Đạo Đạt, hiệu Phước Thông, sinh tại làng Lệ Sơn, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, Tổ khai sơn chùa Tôn Tam (Ngũ Hành Sơn, Quảng Nam), viên tịch, thọ 86 tuổi.

– Ngày 27 tháng Giêng năm Tân Mão, Hòa thượng Như Phước – Huyền Ý (1891-1951) thế danh Võ Trấp, pháp danh Như Phước, tự Giải Tiềm, hiệu Huyền Ý, sinh tại làng Hưng Trị, xã Cát Thắng, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, Tổ khai sơn chùa Liên Tôn (Phù Cát, Bình Định), viên tịch, thọ 60 tuổi, 22 giới lạp. Những  tác phẩm của Hòa thượng : Sa-di Luật diễn nghĩa, A-di-đà kinh diễn nghĩa, Chứng Đạo Ca diễn nghĩa, Kinh Pháp Bảo Đàn, Luận về Nhân Quả, Luận về Niết Bàn, Nghiên cứu Duy thức A-lạida, Luận về Sáu pháp Ba-la-mật, Luận về Chánh tín – Mê tín,…(LSTTTPLTCT).

– Ngày 02, 03 tháng 3 (nhằm ngày 07, 08 – 2 – Tân Mão), Thiền sư Thanh Thao – Trí Hải (1906-1979) xuống Hải Ph ng dự lễ kỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca xuất gia. Các Phật tử hành hương dự lễ có đến mấy vạn người. Ngày 13 – 9 năm này,   Thiền sư về thuyết pháp và truyền thụ Tam quy cho hội viên Chi hội Phật giáo Kênh Khê, quận Khoái Châu, Hưng Yên. Đến ngày 20 – 9, ngài đi dự lễ  thành lập Chi hội Phật giáo Yên Phú, Thường Tín, Hà Đông. Cũng năm này, ngài được suy tôn làm Đệ nhất Phó Hội chủ Tổng Hội PGVN.

– Ngày 27 tháng 4 năm Tân Mão, Hòa thượng Nguyên Thắng –  Vĩnh Sung (1878-1951) thế danh Lê Thắng, húy Nguyên Thắng, hiệu Vĩnh Sung, người làng Hội An, đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 42, trụ trì chùa Liên Trì (Bình Thuận), viên tịch, thọ 73 tuổi.

– Ngày 09 tháng 5, Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) được suy tôn làm Hội chủ Tổng Hội PGVN tại Đại hội Phật giáo toàn quốc nhóm họp tại chùa Từ Đàm (Huế), gồm 51 đại biểu tăng-già.

– Ngày 15 tháng 7 năm Tân Mão, Thiền sư Như Thọ – Huyền Tân (1911-1979) thành lập Chi Hội An Nam Phật học Ninh Thuận đặt tại thôn Đắc Nhơn, đồng thời ngài vận động thành lập Phật học đường Ninh Thuận. Cũng năm này, Thiền sư thành lập Hội Phổ Tương tế tại Tổ đình Thiền Lâm.

– Ngày 15 tháng 7 năm Tân Mão, Hòa thượng Chơn Phổ – Minh Tịnh (1889-1951) thế danh Nguyễn Tấn Tạo, pháp danh Chơn Phổ, hiệu Nhẫn Tế, sinh tại làng An Thạnh, Lái Thiêu, Bình Dương, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì chùa Thiên Chơn (Bình Dương), viên tịch, thọ 63 tuổi, 25 hạ lạp. Những tác phẩm của Hòa thượng : Lăng Nghiêm Tông Thông, Nhật Ký Tham Bái Ấn Độ, Tây Tạng.

– Ngày 14 tháng 12 (nhằm ngày 01 – 9 – Tân Mão), Hòa thượng Nhật Trung – Tịnh Trì (?-1951), thế danh Đinh Văn Chánh, húy Nhật Trung, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, hoằng hóa ở chùa Tịnh Độ (Long An), thị tịch, hưởng dương 54 tuổi.

– Ngày 22 tháng 11 năm Tân Mão, Hòa thượng Hồng Khoa – Từ Tâm (1889-1951), thế danh Nguyễn Hồng Khoa, húy Hồng Khoa, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Long Thành (Đức Hòa, Long An), viên tịch, thọ 63 tuổi.

– Ngày 25 tháng 11 năm Tân Mão, Đại đức Nhuận Đức – Huệ Thông (1905-1952), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 46, trụ trì chùa Long Hưng (Bến Cát, Bình Dương), thị tịch, trụ thế 47 năm.

– Thượng tọa Phước Bình – Hành Trụ (1904-1984) được đề cử làm Trưởng ban Nghi lễ của GHTGNV.

– Hòa thượng Trừng Nguyên – Đôn Hậu (1905-1992) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho đại giới đàn chùa Ấn Quang tại thôn Vườn Lài, tỉnh Chợ Lớn.

– Nam Phổ Đà Tự tọa lạc đường Lục Tỉnh, Chợ Lớn, tổ chức lễ khánh thành, sau 3 năm trùng tu. Đại đức Thích Thanh Tuyền (1914-1994) về Trung Quốc thỉnh Bổn sư của ngài là Hòa thượng Ngưỡng Tham và Y chỉ sư Chứng Lượng (thuộc Tổ đình Trường Khánh, thiền phái Lâm Tế, Trung Quốc) sang Việt Nam dự khánh thành và ở lại trụ trì hoằng dương Phật pháp (TSDTVN).

– Đại đức Tâm Như – Mật Nguyện (1911-1972) được suy cử làm Chánh Trị sự Sơn Môn Tăng Già Thừa Thiên, và cuối năm ấy lại được mời làm giảng sư tại Phật học đường Báo Quốc (Huế).

– Đại đức Chơn Ngọc – Long Trí (1928-1998) về trụ trì chùa Viên Giác ở Quảng Nam – Đà Nẵng.

– Đại đức Chơn Khai – Quang Lý (1918-1990) trùng tu và thiên di chùa Bửu Long ở làng Hiệp Phố về làng Xuân Vinh, xã Nghĩa Chánh, quận Nghĩa Hành, Quảng Ngãi.

– Ni cô Như Ái – Hoằng Thâm (1924-2000) kế thế trụ trì chùa Liên Tôn ở xã Cát Thắng, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

– Sư cô Tâm Đăng – Chơn Như (1915-2005) tiếp nhận trụ trì và trùng tu chùa Minh Hương tại Diên Toàn, Diên Khánh, Khánh Hòa, đồng thời đổi tên thành chùa Minh Phước.

– Thượng tọa Đạo Thông – Trí Thắng (1891-1975) được mời đảm trách chức Giám đốc Phật học đường Nha Trang.

– Thượng tọa Hành Nguyện – Viên Thành (1904-1973) được cử làm trụ trì kiêm Tổng sự chùa Giác Nguyên ở Sài Gòn, nay tại số 129F/186/2, đường Bến Vân Đồn, phường 4, quận 4, Tp. HCM.

– Thiền sư Như Trạm – Tịch Chiếu (1912-?) kế thế trụ trì chùa Tây Tạng tại tỉnh Bình Dương.

– Đại đức Tâm Trí – Minh Châu (1918-2012) được mời giữ chức Hiệu trưởng Trường Trung Học Bồ-đề đầu tiên tại Huế.

– Ni trưởng Hồng Từ – Diệu Nga (1885-1951) thế danh Huỳnh Thị Ngó, pháp danh Hồng Từ, hiệu Diệu Nga, sinh tại làng Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, Tổ sáng lập chùa Giác Hoa (Bạc Liêu), viên tịch, thọ 66 tuổi, 26 hạ lạp.

– Sa môn Thích Quảng Tu soạn văn bia “Thiên Hưng Tự bi ký” được dựng tại chùa Thiên Hưng  ở núi Hoàng Long, làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy, Huế.

– Đại đức Nguyên Phước – Quang Thể (1922-2005) được Giáo hội Trung Phần cử làm trụ trì chùa Pháp Lâm tại Đà Nẵng.

– Thiền sư Phước Trí (1920-?), kế thừa trụ trì chùa Phước Sơn ở Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.

– Thượng tọa Nguyên Bình – Minh Cảnh (1906-1986) được cử giữ chức Trị sự trưởng GHTG Tuyên Đức.

– Đại đức Không Tâm – Trí Quảng (1915-1992) được mời về trụ trì chùa Từ Ân (Huế).

– Đại đức Nguyên Minh – Đức Thiệu (1911-1993) được Tổng hội Phật giáo Trung Phần bổ nhiệm trụ trì chùa Viên Giác tại Cầu Đất, xã Xuân Trường, TP. Đà Lạt.

– Thượng tọa Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được bầu làm Chánh hội trưởng Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên (1951-1955).

– Hòa thượng Chơn Quý – Khánh Anh (1895-1961) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Hoàn Tuyên – Thiện Hoa làm Giới sư cho giới đàn chùa Phước Hậu, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

– Hòa thượng Ấn Nghiêm – Phổ Thoại (1875-1954) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn phương trượng chùa Long Tuyền tại xã Cẩm Kim, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam.

– Thượng tọa Chơn Trí – Pháp Hải (1895-1961) được suy cử làm Trưởng BTS GHTG Nam Việt tại Vĩnh Long.

Đại đức Trí Hải – Quảng Liên (?-2009) được Hội Phật Học Nam Việt cử đi du học tại trường Phật Giáo Thế Giới Colombo – Tích Lan, trường Đại Học Quốc Gia Kandy, Tích Lan.

– Đại đức Hồng Tín – Huệ Thành (1912-2001) được Tổ Đạt Thanh, Pháp chủ Tăng già miền Nam Việt Nam, ấn chứng và truyền kệ phó pháp :

“Ngộ đạo tu hành Bát-nhã tông,

Tính tâm thanh tịnh phổ viên thông,

Huệ nhật trung thiên quang tứ đại,

Thành minh cảm cách chứng Phật ông” (phatgiaodongnai.vn).

– Hòa thượng Quảng Nhuận (?-1951), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 45, trụ trì chùa Sắc tứ Linh Quang (TP. Đà Lạt), viên tịch.

– Đại đức Nguyên Bình – Minh Cảnh (1905-1986) kế thế trụ trì chùa Sắc tứ Linh Quang nay tại số 133, đường Hai Bà Trưng, ấp Đa Thuận, khóm Lạc Thành, phường 6, TP. Đà Lạt.

– Đại đức Hồng Căn – Chí Tịnh (1913-1972) kế thế trụ trì chùa Phước Long nay tại ấp Phú Hòa, xã Phú Phong, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

– Hòa thượng Nguyên Chất – Giác Điền kế thế trụ trì chùa Phước Lâm nay tại số 1B12, đường Phan Chu Trinh, khu phố 2, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (1951-1956).

– Đại đức Tâm Lợi – Thiện Hòa (1907-1978) được Thượng tọa Trí Hữu cúng cho ngôi chùa Ứng Quang gần ngã ba Vườn Lài. Ngài cho trùng tu chùa này thành trường học, để hiệu là Phật học đường Nam Việt (nay là chùa Ấn Quang, quận 10, Tp. HCM).

– Đại đức Chân Từ – Thanh Kiểm (1920-2000) được đề cử làm Thư ký GHTG Bắc Việt, kiêm Giảng sư.

01/01/1951

Năm 1951

Ngày 7/9/1951, một Đại Hội Tăng già Toàn Quốc Việt Nam được triệu tập, đại biểu cả Nam, trung và Bắc đều họp tại Quán Sứ Hà Nội. Một Giáo Hội Tăng già Toàn quốc Việt Nam được thành lập. Đại hội suy tôn Hòa Thượng Tuệ Tạng làm Thượng thủ (1951). Trụ sở đặt tại chùa Quán Sứ.

01/01/1951

Năm 1951

Năm 1951, từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 5 (tức mùng 1 đến mùng 4 tháng 4 âm lịch), một đại hội Phật-giáo toàn quốc ra đời, nhóm tại Huế, gồm 51 đại biểu cả Tăng già và Cư sĩ 3 miền Nam, Trung, Bắc để thành lập “Tổng Hội Phật-giáo Việt-Nam” (không phải Tổng Giáo Hội hiện nay của Hòa Thượng Minh Trực).
Do 3 tập đoàn Tăng già và 3 tập đoàn Cư sĩ Nam, Trung, Bắc làm hội viên sáng lập. Đại hội suy tôn Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ. Quý vị Tăng già và Cư sĩ trong 6 tập đoàn Phật-giáo làm ban Tổng Trị sự và các Uỷ viên chuyên môn.
Phật tử toàn quốc rất hoan hỷ đón chào “Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất”. Toàn thể Thanh thiếu niên Phật tử rất hân hoan và vang lừng tiếng hát, ca ngợi tinh thần đoàn kết thống nhất Phật-giáo:
“Phật-giáo Việt-Nam thống nhất Bắc, Nam, Trung từ nay
Một lòng chúng ta tiến lên vì Đạo thiêng!
Nào cùng vui trong ánh đạo vàng rạng ngời bốn phương
Vang ca đón chào Phật-giáo Việt-Nam!”

01/01/1951

Năm 1951

Ngày 5/6/1951 (mùng 1 tháng 5 âm lịch) một “Giáo Hội Tăng già Nam Việt” được thành lập tại chùa Hưng Long ngả sáu Chợ Lớn, trụ sở đặt tại chùa Ấn Quang. Khắp cả miền Nam đều có chi Giáo Hội Tỉnh và Quận. Niên khóa đầu, đại hội suy tôn Hòa Thượng Đạt Thanh chùa Giác Ngộ làm Pháp chủ Lâm thời, Thượng Tọa Đạt Từ làm Trị Sự Trưởng, Thượng Tọa Nhựt Liên làm Tổng Thư ký. Thượng Tọa Nhựt Liên là người có công nhiều với Giáo Hội Tăng già Nam Việt lúc thành lập. Nhiệm kỳ thứ II, Đại hội ngày 8/3/1953 (nhằm 21/1 Quý Tỵ) suy tôn Hòa Thượng Huệ Quang làm Pháp chủ, Thượng Tọa Thiện Hòa là Trị Sự Trưởng. Nhiệm kỳ thứ III, đại hội ngày 31/3/1957 (nhằm mùng 1.3 Đinh Dậu) suy tôn Hòa Thượng Khánh Anh làm Pháp Chủ.
Giáo Hội Tăng già Nam Việt còn triệu tập Ni chúng miền Nam, tổ chức đại hội chùa Huê Lâm Chợ Lớn vào ngày 6 và 7/10/1956 để thành lập “Ni Bộ Nam Việt”. Trụ sở đặt tại Từ Nghiêm đường Bà Hạt – Chợ Lớn.
Những vị Ni kỳ cựu được Ni chúng kinh quý coi như trụ cột của Ni bộ Việt Nam, như Sư bà Diệu Tánh (Huê Lâm), Diệu Hường (Diệu Ấn), Diệu Tấn (Kiêm Sơn, tịch), Diệu Tịnh (Hải Ấn, tịch), Diệu Kim (Bảo An), Diệu Ninh (Vĩnh Bữu), Diệu Không (Huế), Diệu Hoa (Sa Đéc) … những phật học viện của Ni Bộ như: Từ Nghiêm (Cholon), Dược Sư (Gia Định), Diệu Đức, Hồng Ân (Huế), …
Giáo Hội Tăng già Nam Việt hoạt động đến năm 1963, sau khi Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất ra đời thì chấm dứt nhiệm vụ.

Song song với Giáo Hội Tăng già nam Việt, Hội Phật Học Nam Việt ra đời vào ngày 25/2/1951 tại Sài gòn; đầu tiên đặt trụ sở tạm tại chùa Khánh Hưng, sau dời về chùa Phước Hòa Bàn Cờ, rốt sau dời về Chùa Xá Lợi. Hội Phật Học Nam Việt mở chi nhánh hầu hết có tổ chức Gia Đình Phật tử . hội có tạp chí Từ Quang để truyền bá giáo lý.
Nhiệm kỳ đầu, Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe làm Hội Trưởng, tiếp theo là Thầy Quảng Minh làm hội trưởng, cụ Chánh Trí làm Tổng Thư Ký. Sau khi Thầy Quảng Minh đi Nhật, cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền liên tiếp làm Hội Trưởng cho đến ngày nay (1970). Cụ Chánh Trí là một Thạch trụ, có công lớn nhất với Hội Phật Học Nam Việt. Cụ có phiên dịch, sáng tác một số kinh sách quý giá.

Năm 1951, một đại hội Tăng Ni họp tại chùa Quán Sứ, lần đầu tiên suy tôn Tổ Mật-Ứng lên ngôi “Thiền Gia Pháp Chủ”, lãnh đạo “Giáo Hội Tăng già Bắc Việt”.

1950
01/01/1950

Năm 1950

Bước sang thập niên 1950, PG phát triển rõ nét, các hội đoàn không ngớt ra đời. Giới lãnh đạo PG mới tính đến chuyện thống nhất các tổ chức hội đoàn thành Tổng hội hay Giáo hội.

Các kỳ thống nhất PG từ thập niên 1950 về sau được lịch sử ghi đậm nét là:

– Thống nhất PG 1951 tại chùa Từ Đàm – Huế, nhằm kết hợp 6 tập đoàn PG thành một tổ chức có tên Tổng hội PG Việt Nam.

– Thống nhất Phật giáo 1952 tại chùa Quán Sứ – Hà Nội, nhằm liên kết các bậc cao tăng lãnh đạo PG trên ba miền đất nước để thành lập Giáo hội Tăng già Toàn quốc Việt Nam.

– Thống nhất PG 1958 tại chùa Quán Sứ  – Hà Nội và Hội PG Thống nhất Việt Nam ra đời.

– Thống nhất PG vào cuối năm 1963, đầu năm 1964, để kết hợp 11 tập đoàn PG khác nhau thành tổ chức lớn mạnh mang tên Giáo hội PG Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN).

Như vậy, trong hai thập niên 1950,1960, có đến 4 lần thống nhất PG ; ở thập niên 1950 có 3 lần. Kỳ thống nhất PG vào đầu năm 1964 tại miền Nam được xem là kỳ thống nhất lớn mạnh nhất, Giáo hội đã kết hợp được 11 tổ chức PG khác nhau và quy tụ được một khối lượng tín đồ khổng lồ của các tỉnh miền Trung và miền Nam làm hậu thuẫn. Phải thừa nhận rằng, các tổ chức PG trước đó, chưa có tổ chức nào quy mô và hiện đại như cơ chế tổ chức của GHPGVNTN. Sức mạnh của Giáo hội này đã làm cho thế giới biết nhiều hơn về PG Việt Nam; song, bên cạnh đó cũng có những khuyết điểm trầm trọng không tránh khỏi.

Giáo hội này vẫn chưa thống nhất PG được một cách toàn diện. Mặc dù đã quy tụ được 11 tập đoàn khác nhau nhưng vẫn còn một số Giáo hội tương đối lớn hoạt động riêng lẻ như: Giáo hội Lục hòa Tăng Việt Nam, đạo Phật Khất sĩ Việt Nam (lúc này hệ phái Khất sĩ chưa thành lập Giáo hội), Giáo hội Thiền Tịnh Đạo tràng… chứng tỏ sự thống nhất này chưa toàn triệt. Trên danh nghĩa tuy đã thống nhất, sự thống nhất này còn yếu về mặt đoàn kết hòa hợp; nên chỉ 3 năm sau đó, 1967, Giáo hội bị phân hóa thành hai khối hoạt động theo 2 bản Hiến chương khác nhau. Sự phân hóa này ngày càng trầm trọng hơn dẫn đến chống đối kịch liệt và xung đột nhau vào đêm 5/5/1970 tại Việt Nam Quốc tự. Đây là hệ quả chia rẽ trầm trọng của Giáo hội này. Mặc dù bị chia rẽ (tất nhiên có yếu đi), GHPGVNTN vẫn tồn tại và hoạt động cho đến khi Giáo hội PG Việt Nam ra đời. Đại hội kỳ VII của Giáo hội này được khai mạc vào sáng 23/1/1977 tại Văn phòng Viện Hóa đạo (chùa Ấn Quang, Q.10) gồm 160 đại biểu của 54 đơn vị trực thuộc tham dự. HT Thích Trí Thủ, nhân danh Viện trưởng tân nhiệm, đã ký Thông bạch 7 điểm, trong đó có điểm thứ 6 nguyên văn như sau: “Đại hội cẩn ủy Giáo hội Trung ương tiếp tục vận động thống nhất PG cả nước trong tinh thần đạo pháp và truyền thống dân tộc” (Trích Tiểu sử cố HT. Thích Trí Thủ).

01/01/1950

Năm 1950 (Canh Dần – PL.2494)

Năm 1950 (Canh Dần – PL.2494)

– Ngày 25 tháng Giêng năm Canh Dần, Hòa thượng Nhật Liên – Thiện Hóa (1883-1950), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 41, trụ trì chùa Núi Châu Thới (Thuận An, Bình Dương), viên tịch, thọ 68 tuổi.

– Ngày 09 tháng 5 năm Canh Dần, Thiền sư Tâm Thông – Quảng Huệ (1903-1950) thế danh Nguyễn Quảng Huệ, pháp danh Tâm Thông, hiệu Quảng Huệ, sinh tại làng Khuông Ph , Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 43, trụ trì chùa Thiên Minh (Huế), thị tịch, hưởng dương 48 tuổi, 26 hạ lạp.

– Ngày 03 tháng 6 năm Canh Dần, Hòa thượng Chơn Giám – Trí Hải (1876-1950) thế danh Nguyễn Trọng Khải, pháp danh Chơn Giám, tự Đạo Quang, hiệu Trí Hải (còn hiệu khác Mai Đình) sinh tại ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh  Bình Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, Tổ khai sơn chùa Bích Liên (Bình Định), viên tịch, thọ 74 tuổi.

– Ngày 03 tháng 9 năm Canh Dần, Thiền sư Nhựt Nhơn – Trí Huyền (1907-1950) thế danh Lê Văn Nhơn, húy Nhựt Nhơn, sinh tại Tân Ba, tỉnh Thủ Dầu Một, thuộc Tông Lâm Tế, đời thứ 41, trụ trì chùa Đại Giác (Biên Hòa – Đồng Nai), thị tịch, trụ thế 43 năm.

– Ngày 19 tháng 9 năm Canh Dần, Hòa thượng Như Đắc – Từ Nhẫn (1899-1950) thế danh Lê Ngọc Thập, húy Như Đắc, hiệu Từ Nhẫn, sinh tại làng Long Hậu Tây, tổng Phước Điền Hạ, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 39, trụ trì chùa Linh Nguyên (Đức Hòa, Long An), thị tịch, trụ thế 52 năm, 31 hạ lạp.

– Ngày 23 tháng 12, Hòa thượng Chơn Hòa – Thiện Hữu (?-1950), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 40, trụ trì chùa Bửu Nghiêm (Thủ Dầu Một, Bình Dương), viên tịch.

– Ngày 05 tháng 12 năm Canh Dần, Hòa thượng Trừng Tương –  Nhơn Sanh (1896-1950) thế danh Võ Sanh, húy Trừng Tương, tự Thiện Thọ, hiệu Nhơn Sanh, sinh tại làng Ngọc Hội, xã Vĩnh Ngọc, TP. Nha Trang, thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì Tổ đình Sắc tứ Thiên Bửu (Ninh Hòa, Khánh Hòa), viên tịch, trụ thế 55 năm, 29 hạ lạp.

– Đại đức Thanh Giới – Thiện Tường (1917-1984) được Hội Vạn Thọ hiến cúng ngôi chùa Vạn Thọ ở Tân Định, nay thuộc quận 1, Tp. HCM, để ngài tiếp tăng độ chúng.

– Thượng tọa Tâm Như – Trí Thủ (1909-11984) được bầu làm Hội trưởng hội Việt Nam Phật Học tại đại hội thường niên của hội.

– Đại đức Như Nhàn – Trí Giác (1915-2005) thành lập Sơn môn Tăng Già Quảng Nam.

– Thượng tọa Như Đăng – Trí Độ (1894-1979) được bầu làm Ủy viên Ủy ban Liên Việt tại tỉnh Thanh Hóa.

– Đại đức Thị Tín – Phước Trí (1920-2002) kế thế trụ trì Tổ đình Phước Sơn nay tại xã Xuân Sơn Bắc, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.

– Thượng tọa Đạo Thông – Trí Thắng (1891-1975) được cung thỉnh vào ngôi vị Chứng minh Đạo hạnh của Hội Việt Nam Phật học Trung Việt và kiêm chức vụ Hội trưởng Hội Việt Nam Phật học tỉnh Ninh Thuận. Cũng năm này, ngài được chư sơn cung thỉnh làm Trị sự trưởng GHTG Ninh Thuận, đồng thời ngài cho tái thiết chùa Long Quang.

– Đại đức Như Vinh – An Chánh (1922-1990) đảm nhận trụ trì chùa Bác Ái tại Kontum.

– Đại đức Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được suy cử làm Chánh Hội trưởng Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên (1950-1955).

– Sư cô Tâm Niệm – Như Trí (1918-2006) về trụ trì chùa Thiên Long nay thuộc quận Phú Nhuận, Tp. HCM.

– Sư cô Nhựt Trinh – Liễu Tánh (1916-1982) khai trường Hương tại chùa Phật Quang – Bến Tre và làm Thiền chủ kiêm Pháp sư.

– Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) được suy tôn chức vị Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam.

– Thiền sư Giải Thâm – Kế Châu (1922-1996) được cung thỉnh trụ trì chùa Bảo Sơn tại xã Mỹ Thành, huyện Phú Mỹ.

– Đại đức Nguyên Cao – Mãn Giác (1929-2006) được suy cử giữ chức trụ trì chùa Thiên Minh ở Thuận Hóa – Huế.

– Thượng tọa Phước Bình – Hành Trụ (1904-1984) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Hòa thượng Hải Tràng, Hòa thượng Đạo Thanh làm Giới sư cho Trường Kỳ giới đàn chùa Pháp Hoa thuộc quận Phú Nhuận, tỉnh Gia Định.

– Hòa thượng Giác Trang – Hải Tràng (1884-1972) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho Trường Kỳ giới đàn chùa Thanh Trước tỉnh Gò Công.

– Hòa thượng Trừng Kệ – Tôn Thắng (1889-1976) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Sắc tứ Phổ Thiên nay tại thị xã Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam.

– Hòa thượng Như Đắc – Từ Nhẫn (1899-1950) được cung thỉnh làm Đàn sư cho đàn giới pháp chùa Tôn Thạnh tại xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc, tỉnh Tân An.

– Đầu năm, Thiền sư Thanh Thao – Trí Hải (1909-1979) vận động quyên góp tiền nhiều nơi, gởi sang Nhật Bản thỉnh được bộ “Tân Tu Đại chính Đại tạng”. Toàn tạng đóng thành 100 tập, nội dung có 2920 kinh sách khác nhau, bao gồm cả Kinh, Luật và Luận, gởi về chùa Quán Sứ, Hà Nội, phí tổn hơn 2 vạn đồng Đông Dương (BNSPGMB).

– Các nhà sư Thiền phái Lâm Tế thuê dỡ chùa Cần Dà ở thôn Thịnh Yên, đem vật liệu về tu sửa chùa Linh Quang (chùa Bà Đá ở phố Nhà Thờ, Hà Nội), vì chùa này bị phá hủy nhiều trong chiến tranh cuối năm 1946.

– Hòa thượng Như Hiển – Đạt Dương (1883-1971) thành lập chùa Hoằng Khai trên khu đất rộng khoảng 1.000m2, hiện tọa lạc tại số 94/2, khu phố Nhơn H a, phường 5, TP. Tân An, tỉnh Long An.

– Sư cô Diệu Thành (1910-1980) thành lập Tịnh Thiền viện (sau đổi hiệu là chùa Hội Nguyên) nay tọa lạc tại số 3/171, đường Nguyễn Thị Hạnh, phường 6, TP. Tân An, tỉnh Long An, trên khu đất của gia đình hiến cúng, được Hòa thượng Như Thuận – Hoằng Đức (1888-1992) chứng minh và đặt tên viện.

– Đại đức Nguyên Nhân – Giác Lễ (?-1977) khai sơn chùa Phước Lộc nay tại xã Lộc Giang, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

– Đại đức Thiện Thạnh – Hồng Trọng (1904-1980) khai sơn chùa Long Nguyên nay tại số 58, ấp Chánh, xã Đức Lập Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, trên khu đất gia đình hiến cúng.

– Đại đức Thích Thiện Lợi (1907-1978) sáng lập chùa Cửu Long nay tại số 52/2, ấp Tân Bình, thị trấn Tân Trụ, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An, do vợ chồng Phật tử Trần Quang Thố và Nguyễn Thị Kiên hiến cúng 6.000m2 đất.

– Khoảng năm 1950, Thiền sư Trừng Chiêm – Chánh Lễ (?-1950 ?), thuộc thiền phái Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì chùa Long Thạnh (Quy Nhơn, Bình Định), viên tịch.

– Đại đức Lệ Huệ – Thiện Chí (1911-1953) kế thế trụ trì chùa Núi Châu Thới nay thuộc xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

– Đại đức Chơn Dung – Chí An (1902-1970) kế thế trụ trì chùa Bửu Nghiêm nay thuộc phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

– Sư cô Nhật Thiền – Như Chơn (1919-2004) cùng bổn đạo khai sơn xây dựng đạo tràng chùa Vạn Phước tại xã Kim Sơn, tỉnh Bến Tre. Đến năm 1960, Chùa xây dựng hoàn thành.

– Hòa thượng Hồng Tôi – Thiện Tường (1890-1959) trở về Cần Thơ tiếp nhận chùa Bửu Liên để hành đạo, hoằng dương Phật pháp.

01/01/1950

Năm 1950

Năm 1950, Thượng Tọa Thích Thiện Hòa, từ Bắc trở về Nam. Lúc bấy giờ các Phật Học Đường như: Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức và Ứng Quang hiệp lại một, gọi là Phật Học Đường Nam Việt, do Thượng Tọa Thích Thiện Hòa làm Giám Đốc. Trường đặt tại chùa Ấn Quang 243 Sư Vạn Hạnh Chợ Lớn. Chùa Ứng Quang đổi tên lại là chùa Ấn Quang. Và trường Ni thì đặt tại chùa Từ Nghiêm, sau dời về chùa Dược Sư.

01/01/1950

Năm 1950

Năm 1950, Thượng Tọa Thích Thiện Hòa, từ Bắc trở về Nam. Lúc bấy giờ các Phật Học Đường như: Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức và Ứng Quang hiệp lại một, gọi là Phật Học Đường Nam Việt, do Thượng Tọa Thích Thiện Hòa làm Giám Đốc. Trường đặt tại chùa Ấn Quang 243 Sư Vạn Hạnh Cholon. Chùa Ứng Quang đổi tên lại là chùa Ấn Quang. Và trường Ni thì đặt tại chùa Từ Nghiêm, sau dời về chùa Dược Sư.
Đến năm 1953, đáp lời mời của Thượng Tọa Thiện Hòa, Quảng Minh và Nhật Liên, chúng tôi (T.T. Thiện Hoa) thu xếp Phật Học Đường Phật Quang, đầu xuân, 8 Thầy Trò quảy gói lên Sài Gòn để thống nhất và hợp tác với Quý Thượng Tọa ở Phật Học Đường Nam Việt. Cùng trong năm này, quý Thầy Huyền Dung, Quảng Minh và Nhựt Liên đều giao lại gánh nặng cho chúng tôi rồi xuất dương tất cả. Thượng Tọa Quảng Liên thì đi trước một năm (16.3.1962). chúng tôi bắt đầu lãnh 2 trọng trách vừa Giáo dục và vừa Hoằng Pháp (nhân dịp này xin ghi lại kỷ niệm trong 10 năm (1953-1963) hoằng pháp, đóng góp cho Phật-giáo vừa qua tại Thủ Đô, của chúng tôi):
1. Về Hoằng Pháp, chúng tôi lãnh nhiệm vụ: Ủy Viên Hoằng Pháp Tổng Hội Phật-giáo Việt-Nam (1956), xuất bản tạp chí “Phật-giáo Việt-Nam” với sự cộng tác đắc lực của Thượng Tọa Nhất Hạnh làm chủ bút, và tổ chức hàng tuần phát thanh Phật-giáo trên đài phát thanh Sài gòn.
Trưởng ban Hoằng Pháp Giáo hội Tăng già Nam Việt (năm 1953) và Trưởng Ban Hoằng Pháp Hội Phật Học Nam Việt (năm 1953), chúng tôi đào tạo được một số Giảng sư nổi tiếng là 12 vị như: Đại Đức Huyền Vi, Thanh Từ, Từ Thông, Thiền Định, Quảng Long, Chánh Tiến, Liễu Minh … và hai lớp Như Lai sứ giả (năm 1957): bên Tăng tại chùa Pháp hội được 52 vị, như Đại Đức Trường Lạc, Bửu Lai, Trí Châu, Nhựt Long, Hồng Tịnh, Hồng Đạo, Hiển Pháp, Huyền Quý, Hoằng Thông, Phước Hảo, Huệ Thành, … bên Ni tại chùa Dược Sư được 30 vị như: Ni Trưởng Huê Lâm, Ni sư Vĩnh Bữu, Như Hoa, Phật Bửu, Giác Thiên, Như Huy, Như Huyền, Như Chí, … những vị Tăng Ni trên đây đều là những bậc trụ trì kỳ cựu ở miền Nam (xem tập đặc san Ngày Hoan Hỷ).
Sau 3 tháng huấn luyện, một buổi đại lễ rất trang nghiêm và trọng thể được tổ chức ban đêm dưới mái chùa Ấn Quang vào ngày Phật Hoan Hỷ năm Đinh Dậu (1957) dưới sự chứng minh Tối cao của Đức Pháp Chủ Giáo Hội Tăng già Nam Việt, Hòa Thượng Thích Khánh Anh. Ngài ban Pháp phục, cẩm nang và những đạo từ thâm thúy! Đinh ninh phú chúc cho các vị Như Lai Sứ giả, với giọng nói rung rung của một vị Trưởng Lão! Làm cho hàng ngàn Tăng Ni và Phật tử đều vô cùng cảm động!.
Tiếp theo là một cuộc lễ nhộn nhịp rầm rộ và linh đình đưa tiển các vị Như Lai Sứ giả đi bổ xứ trụ trì các tỉnh miền Nam (năm 1957) làm cho Tăng Ni và đồng bào Phật tử ở các tỉnh, đón tiếp phái đoàn Như Lai Sứ Giả với một niềm hân hoan phấn khởi và đầy tin tưởng…!
Mỗi năm 3 kỳ, chúng tôi cử các vị giảng sư đến các tỉnh, mỗi nơi 10 đêm giảng Phật Học Phổ Thông, gây được 1 trong trào học giáo lý rất hào hứng. Mỗi kỳ giảng 1 khóa phổ thông 10 bài.
Chúng tôi soạn được 1 chương trình học Phật Pháp rất đầy đủ và in thành bài, từ sơ cấp đến cao đằng, tức là 12 khóa Phật Học Phổ Thông. Cũng trong thời gian này, chúng tôi còn sáng tác phiên dịch và xuất bản các loại sách Phật Học Tùng Thư như: Duy Thức Học, Bản đồ Tu Phật, Phật học Giáo Khoa, Tám quyển sách quý, Tu Tâm, Dưỡng Tánh và Bài học Ngàn Vàng, … tất cả gần 100 thứ.
2. Về Giáo dục, chúng tôi lãnh nhiệm vụ: Trưởng Ban Giáo Thụ Giáo Hội Tăng già toàn quốc V.N. (năm 1959), Ủy Viên Giáo Dục Tổng Hội Phật-giáo Việt-Nam (1959), Trưởng Ban Giáo Dục Giáo Hội Tăng già Việt Nam (năm 1953) và Đốc Giáo Phật Học Đường Nam Việt (năm 1953). Chúng tôi soạn chương trình giáo dục cho tăng Ni, Phật tử và hằng ngày giảng dạy cả 2 trường: Tăng ở Ấn Quang và Ni ở Dược Sư. Và mở thêm các Phật Học Đường như: Chùa Pháp Hội (năm 1954) ở vườn Bà Lớn Sài gòn, chùa Bình An ở Long Xuyên (1954), Chùa Hội Phật Học Biên Hòa, Chùa Phật Ân Mỹ Tho, Chùa Phước Hòa Vĩnh Bình (1956 – hai vị giáo sư đầu tiên chịu trách nhiệm trường này là Đại Đức Trường Lạc và Tịnh Đức). Chùa Long Phước ở Lưỡng Xuyên Vĩnh Bình.
Mỗi năm tại chùa Pháp Hội (vườn Bà Lớn) chúng tôi mở khóa Hạ và khóa Đông để huấn luyện cán bộ trụ trì, Như Lai Sứ Giả, cán bộ Hoằng Pháp và Giáo dục. Sau khi huấn luyện xong, Giáo Hội bổ xứ họ đến các địa phương để phục vụ Đạo pháp.
Mỗi bài phát nguyện đã in sâu vào tâm trí và thường ngày Văng vẳng bên tai họ (năm 1957) như sau:
“ Con là Sứ Giả Như Lai
Phát nguyện suốt đời hiến thân cho Đạo
Để phụng sự Đạo pháp và phục vụ chúng sánh
Chổ nào chúng sanh mời, con đến
Chổ nào Đạo pháp cần, con đi
Không kể gian lao, chẳng từ khó nhọc
Nam Mô Đại hạnh Phổ Hiền Vương Bồ Tát”
Một khóa tối hậu, huấn luyện cấp tốc các vị Như lai Sứ Giả tại chùa Ấn Quang vào ngày 1 đến ngày 6 tháng 4 trước (2 tháng 4) năm Quý Mão (tức 24 đến 29.4.1963). với sự tham dự trên 300 Tăng Ni kỳ cựu ở khắp miền Nam, rồi đình chỉ luôn vì Pháp nạn năm 1963.
Trong thời gian 10 năm (1953-1963) vừa qua, hàng tuần vào thứ 4 và thứ 5, chúng tôi mở khóa giáo lý dạy các Phật tử, Cư sĩ ở chùa Ấn Quang và Xá Lợi, theo chương trình Phật Học Phổ Thông 12 khóa. Và huấn luyện một lớp giảng viên Cư sĩ 6 vị như: Bác sĩ cầm, Bác sĩ Khoẻ, Đạo Hữu Nhuận Chưỡng, Đạo hữu Minh Phúc, …
Những vị xuất thân từ Phật Học Đường Nam Việt như: Thượng Tọa Tắc Phước (Đương kiêm Chánh đại diện Miền Khánh Anh), Thượng Tọa Bửu Huệ (Đương kiêm Giám Đốc Phật Học Viện Huệ Nghiêm), Thượng Tọa Tịnh Đức (tịch), Thượng Tọa Thiền Tâm, Huyền Vi, Thanh Từ, Từ Thông, Thiện Giải (Thiền Ấn), Thiện Định, Chánh Tiến (ở Vĩnh Nghiêm) Quảng Long (Tổng vụ trưởng Tổng Vụ xã hội), Hoàn Quan, Đại Đức Liễu Minh, Huệ Thới, Nhựt Thường, Thắng Hoan, và Đức Niệm, …
Những Phật tử giúp đắc lực cho Phật Học Đường Nam Việt là các Phật tử Ấn Quang, Ban Bảo Trợ (do Bác sĩ Lê Văn Cầm làm Trưởng Ban), Ban Công Quả, Ban Hộ Niệm và còn nhiều Phật tử xa gần.
Trường Ni Dược Sư thì có Hội Phụ Nữ Phật Tử (do bà Nguyễn Hữu Pha pháp danh Diệu Huấn làm hội trưởng) tận tâm ủng hộ. Ngoài việc bảo trợ Ni trường, Hội còn làm công tác từ thiện xã hội như: Ký Nhi Viện, Phòng phát thuốc ở xóm Gà, Gia Định, …

01/01/1950

Năm 1950

Ngày 9/9/1950 (27/7 Canh Dần), 146 Tăng Ni họp tại chùa Quán Sứ, cải tổ “Hội tăng Ni chỉnh lý Bắc Việt” ra “Phật-giáo Tăng già Bắc Việt”

01/01/1950

Năm 1950

Thượng Tọa Tố Liên, người đã có công hướng dẫn một phái đoàn Phật-giáo Việt-Nam đi dự Đại Hội Phật-giáo Thế Giới, lần đầu tiên họp tại Colombo, thủ đô Tích Lan, từ ngày 26/5/1950 đến ngày 7/6/1950, gồm có đại diện 26 nước Phật-giáo tham dự.
Từ đấy (1950) Phật-giáo Việt-Nam vừa là một sáng lập viên của Hội Phật-giáo Thế Giới vừa là một chi bộ của hội Phật-giáo Thế Giới tại Việt Nam. Thượng Tọa Tố Liên làm đại diện ban chấp hành Hội Phật-giáo Thế Giới tại Việt Nam, trụ sở địa phương hội Phật-giáo thế Giới tại Việt Nam đặt tại chùa Quán Sứ, Hà Nội.
Lá cờ Phật-giáo Thế giới lần đầu tiên tại Việt Nam được treo ở chùa Quán Sứ Hà Hội, trụ sở của chi bộ Hội Phật-giáo Thế Giới tại Việt Nam, nhân ngày Đại lễ Phật Đản, mùng 8.4 năm Tân Mão (nhằm ngày 13/5/1951).
Cùng năm 1951, ngày Đại hội Phật-giáo thống nhất toàn quốc của 6 tập đoàn họp tại chùa Từ Đàm Huế, lá cờ Phật-giáo Thế giới đầu tiên được treo tại miền Trung.
Và lá cờ Phật-giáo cũng lần đầu tiên tại miền Nam, rất uy nghiêm treo tại trụ sở Hội Phật Học Nam Việt, chùa Phước Hòa Sài gòn, trước hơn 300 hội viên và một số đông đồng bào, nhơn ngày Đại hội của Hội Phật Học Nam Việt, ngày 24/2/1952.

1949
01/01/1949

Năm 1949 (Kỷ Sửu – PL.2493)

Năm 1949 (Kỷ Sửu – PL.2493)

– Ngày 30 tháng 2 năm Kỷ Sửu, Hòa thượng Trừng Thịnh –  Phước Hậu (1862-1949) thế danh Lê Văn Gia, pháp húy Trừng Thịnh, tự Như Trung, hiệu Phước Hậu, sinh tại xã An Tiêm, huyện Đồng Quan, tỉnh Thái Bình, thuộc Tông Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, Tăng cang chùa Báo Quốc (Huế), trụ trì chùa Linh Quang, viên tịch, thọ 87 tuổi, 55 hạ lạp.

– Ngày 11 tháng 3 năm Kỷ Sửu, Thượng tọa Đồng Nhất – Khánh Tường (1899-1949), thuộc thiền phái Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 43, trụ trì chùa Phước An (Thủ Dầu Một, Bình Dương), thị tịch, trụ thế 50 năm.

– Ngày 03 tháng 4 năm Kỷ Sửu, Hòa thượng Từ Phong (1865-1949), thế danh Võ Văn Vạn, người quê ở huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, thuộc thiền phái Lâm Tế, đời thứ 39, trụ trì chùa Liên Trì (Bến Tre), viên tịch, thọ 84 tuổi.

– Ngày 22 tháng 4 năm Kỷ Sửu, Hòa thượng Hồng Hưng – Thạnh Đạo (1877-1949), thuộc Tông Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Giác Lâm (Gia Định), viên tịch, thọ 73 tuổi.

– Ngày 25 tháng 6 năm Kỷ Sửu, Hòa thượng Đạt Thới – Chánh Thành (1872-1949), thế danh Phạm Văn Vịnh, pháp danh Đạt Thới, hiệu Chánh Thành, sinh tại làng Tân Nhuận Đông, tỉnh Sa Đéc, thuộc thiền phái Lâm Tế,  trụ trì chùa Vạn An (Sa Đéc), viên tịch, thọ 77 tuổi, 54 hạ lạp. Tác phẩm dịch thuật của ngài có : Di Đà Sớ Sao, Kinh Pháp Hoa, kinh Pháp Bảo Đàn, Phật Tổ Tam Kinh, Quy Nguyên Trực Chỉ, Long Thơ Tịnh Độ, Luật Tứ Phần Như Thích, Bồ Tát Giới Kinh, Tỳ Kheo Giới Kinh, Sa Di Sớ, Tỳ Ni Hương Nhũ, Sám Quy Mạng, Sám Khể Thủ,…

– Ngày 10 tháng 8 năm Kỷ Sửu, Hòa thượng Như Đắc – Thiền Phương (1879-1949) họ Dương, pháp danh Như Đắc, tự Giải Tường, hiệu Thiền Phương, sinh tại làng Phong Thắng, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, thuộc dòng Lâm Tế – Chúc Thánh, đời thứ 41, trụ trì tổ đình Phước Sơn (Đồng Xuân, Phú Yên), viên tịch, thọ 70 tuổi, 55 tuổi đạo.

– Ngày 01, 02, 03 tháng 10 (nhằm ngày 11, 12, 13 – 8 – Kỷ Sửu), Tổ đình Báo Quốc (Huế) mở “Hộ quốc giới đàn” do Tăng Già Sơn môn Thừa Thiên tổ chức, Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu; các giới sư : Hòa thượng Giác Nhiên làm Yết Ma, Hòa thượng Viên Quang làm Giáo thọ, Hòa thượng Giác Nguyên làm Đệ nhất tôn chứng, Hòa thượng Chơn Thiệt làm Đệ nhị tôn chứng, Hòa thượng Giác Hạnh làm Đệ tam tôn chứng, Hòa thượng Tịnh Phổ làm Đệ tứ tôn chứng, Hòa thượng Mật Hiển làm Đệ ngũ tôn chứng, Hòa thượng Từ Tường làm Đệ lục tôn chứng, Hòa thượng Quảng Nhuận làm Đệ thất tôn chứng. Trong số giới tử của giới đàn này có các ngài : Thiện Siêu (thủ Sa-di), Mãn Giác, Minh Châu, Thiên Ân, Viên Giác, Quang Thể,…(BNSGĐTVN).

– Ngày 17 tháng 10 năm Kỷ Sửu, Đại đức Hồng Tồn – Huệ Nhựt (1914-1987) trùng tu chùa Giác Tịnh nay tại số 345, tổ 10, ấp Thuận Nam, xã Thuận Thành, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Chùa này tiếp tục trùng tu vào năm 1969.

– Đại đức Thị Thọ – Giác Đạo (1913-2001) được Hòa thượng Bổn sư Như Huệ – Hoằng Thông (1894-1972) cử về làm trụ trì chùa Hưng Phước nay tại thôn Lương Nông, xã Nhơn Bình, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Thượng tọa Hành Thiện – Phúc Hộ (1904-1985) được cử giữ chức Chánh Hội Trưởng Hội Phật Học tỉnh Phú Yên (1949-1954).

– Thượng tọa Trừng Nguyện – Đôn Hậu (1905-1992) được cử giữ chức Chánh hội trưởng Tổng Trị sự hội Phật học Trung phần.

– Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám (1897-1969) tập kết ra Bắc, sau đó được đề cử làm Chủ tịch phong trào vận động Hòa Bình thế giới.

– Thượng tọa Nhựt Dần – Thiện Thuận (1900-1973) được đại chúng suy tôn kế thế trụ trì chùa Giác Lâm ở Gia Định, nay thuộc quận Tân Bình, Tp. HCM.

– Thiền sư Hương Sơn – Trí Hữu (1912-1975) lập ngôi chùa nhỏ, đặt tên là chùa Ứng Quang tại Sài Gòn – Gia Định, mở lớp dạy chúng điệu các chùa lân cận.

– Thiền sư Chơn Thống – Đạo Tô – Phước Hậu (1905-?) kế thế trụ trì Tổ đình Phước Quang ở thôn Phước Long, xã Tư H a, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Nam.

– Thượng tọa Như Phước – Huyền Ý (1891-1951) được mời làm Hội trưởng Hội Phật giáo Cứu quốc Liên khu 5, tỉnh Bình Định.

– Đại đức Thị Huệ – Bảo An (1914-?) được cử làm Hội trưởng Hội Phật giáo Tuy Phước, tỉnh Bình Đình.

– Thượng tọa Đồng Kính – Tín Quả (1891-1979) kế thế trụ trì chùa Hội Phước nay thuộc TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

– Đại đức Trí Đức – Thiện Siêu (1921-2001) được cử làm trụ trì Tổ đình Từ Đàm – Huế, đồng thời giảng dạy tại Phật học đường Báo Quốc và Ni viện Diệu Đức ở Thuận Hóa – Huế.

– Ni sư Hồng Ẩn – Như Thanh (1911-1999) được cung thỉnh làm Đàn chủ và Hòa thượng Đàn đầu giới đàn Ni tại chùa Giác Nguyên nay thuộc quận 4, Tp. HCM.

– Hòa thượng Chơn Hương – Chí Bảo được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu, Quốc sư Chơn Luân – Phước Huệ (1869-1945) làm Chứng minh Đạo sư, Hòa thượng Giác Hạnh làm Yết Ma, Hòa thượng Vĩnh Thừa làm Giáo thọ cho giới đàn chùa Hưng Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.

– Hòa thượng Như Hiển – Chí Thiền (1861-1933) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Phi Lai, huyện Tịnh Biên, tỉnh Châu Đốc.

– Hòa thượng Trừng Thành – Vạn Ân (1886-1967) được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu cho giới đàn chùa Bảo Sơn thuộc thôn Phong Thăng, xã An Định, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

– Thiền sư Nhựt Điện – Thiện Ký (1921-?) đắc pháp với Hòa thượng Ngộ Lý – Từ Phong (Tổ Liên Trì) được nối dòng thiền Lâm Tế – Chánh tông, đời thứ 40, được ban kệ phú pháp như sau : “Chơn như giai bình đẳng, ký tâm toàn thể dụng, phổ chiếu chấn tông phong, minh tánh lập nhơn duyên” (LSNNCPHCT-BT).

– Đại đức Đồng Lưu – Thiện Phương (1906-1968) kế thế trụ trì chùa Phước An nay tại phường Phú Hòa, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

– Đại đức Quảng Cẩn – Hoằng Văn (1892-1960) kế thế trụ trì chùa Khánh Quới nay tại xã Tân Bình, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

01/01/1949

Năm 1949

Ngày 20/8/1949 (26.9 Âm lịch) Thượng Tọa Tố Liên triệu tập trên 100 Tăng Ni lập hội “Tăng Ni chỉnh lý Bắc Việt”, trụ sở đặt tại chùa Quán Sứ hà Nội, do Thượng Tọa Tố Liên làm Hội Trường.
Hội ra tạp chí Phương Tiện và Bồ Đề Tân Thanh, để làm cơ quan hoằng pháp, mở Phật Học Đường Tăng tại chùa Quán Sứ, khai giảng ngày 2/8 Kỷ Sữu (1949), trường Ni tại chùa Vân Hồ, khai giảng ngày 6/8 Kỷ Sữu (26/9/1949).

01/01/1949

Năm 1949

Năm Kỷ Sửu (1949) Hội Việt Nam Phật-giáo Bắc Việt ra đời, cụ Bùi Thiện Cơ làm Hội Trưởng, đạo hữu Viên Quang làm Tổng Thư Ký, trụ sở đặt tại chùa Quán Sứ Hà Nội.
Hội lập cơ quan từ thiện xã hội tại chùa Quán Sứ, lập nhi cô viện để nuôi trẻ em mồ côi và trường bảo trợ giáo dục nhi đồng trên 160 em. Ngày 17.9.1949, Quốc Trưởng Bảo Đại đã đến thăm cơ sở từ thiện xã hội này. Đây là lần đầu tiên, Phật-giáo Việt-Nam lập cơ sở xã hội.
Ngày 15.10.1950, Thượng Tọa Tố Liên, nhân danh Phó Hội Trưởng Hội Việt Nam Phật-giáo Bắc Việt triệu tập và thành lập “Gia Đình Phật hóa Phổ Bắc Việt” tại chùa Quán Sứ. Ông Nguyễn Văn Nhã là người đầu tiên ở Bắc Việt làm Trưởng Ban hướng dẫn, Ông Đạt làm phó trưởng ban hướng dẫn.
Hội mở niều chi bộ ở các tỉnh miền Bắc. Đến năm 1954, vì nước nhà chia đôi nên Hội dời vào nam, đặt trụ sở tại chùa Phước Hòa, Bàn Cờ Sài gòn.

1948
01/01/1948

Năm 1948

Năm 1948, Hòa thượng Tâm Như – Đạo Giám hiệu Trí Thủ trụ trì chùa Báo Quốc. Hòa thượng Trí Thủ lo trùng tu chùa Báo Quốc lập chùa Quảng Hương Già Lam ở Sài Gòn.

01/01/1948

Năm 1948 (Mậu Tý – PL.2492)

Năm 1948 (Mậu Tý – PL.2492)

– Ngày 19 tháng Giêng năm Mậu Tý, Hòa thượng Nguyên Hồng – Từ Hóa (?-1948), thuộc thiền phái Lâm Tế chánh tông, đời thứ 42, trụ trì chùa Cổ Thạch (Tuy Phong – Bình Thuận), viên tịch.

– Ngày 23 tháng 1 năm Mậu Tý, Hòa thượng Ngộ Huệ – Bửu Tuyên (1878-1948), thế danh Nguyễn Văn Tượng, húy Ngộ Huệ,  thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 39, trụ trì chùa Khải Phước (Tân Trụ, Long An), viên tịch, thọ 71 tuổi.

– Ngày 15 tháng 7 năm Mậu Tý, Hòa thượng Trừng Chấn – Chánh Nhơn (1882-1948), húy Trừng Chấn, tự Thiện Tiếp, hiệu Chánh Nhơn, thuộc Tông Lâm Tế – Liễu Quán, đời thứ 42, trụ trì chùa Long Khánh (Qui Nhơn – Bình Định), viên tịch, thọ 67 tuổi.

– Ngày 18 tháng 8, Đại đức Tâm Lương – Diệu Hoằng (1914-1983) được Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết cử về trụ trì chùa Diệu Đế ở Thuận Hóa – Huế.

Ngày 02 tháng 9, Hòa thượng Hồng Lang – Bửu Đăng (1904-1948) thế danh Trần Ngọc Lang, pháp danh Hồng Lang, hiệu Bửu Đăng, sinh tại xã Bình Mỹ, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định, thuộc thiền phái Lâm Tế – Gia Phổ, đời thứ 40, trụ trì chùa Linh Sơn Hải Hội (Gò Vấp, Sài Gòn), bị giặc Pháp bắt đem ra cầu Tham Lương – Hóc Môn xử bắn, hưởng dương 44 tuổi, 20 tuổi đạo.

– Ngày 09 tháng 11 năm Mậu Tý, Thượng tọa Thích Thiện Duyên (1884-1948), thế danh Lê Văn Nghĩa, thuộc thiền phái Lâm Tế – Chánh Tông, đời thứ 43, trụ trì chùa Minh Phước (Bến Lức, Long An), viên tịch, thọ 64 tuổi.

– Hòa thượng Trừng Phong – Phước Nhàn (1886-1962) được suy tôn ngôi vị Thượng thủ GHTG Bình Thuận.

– Chùa Báo Quốc ở Thuận Hóa – Huế mở Đại giới đàn, Hòa thượng Trừng Thông – Tịnh Khiết (1890-1973) được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng.

– Thượng tọa Phước Bình – Hành Trụ (1904-1984) mở giới đàn tại Phật học đư