Ba La Mật Đà (Paramàntha), (499 – 569): Trung Quốc dịch là Chân Đế, người nước Ưu Thiền Ni (djayani), Tây Thiên Trúc, dòng dõi Bà la môn, sau xuất gia, thông hiểu tam tạng, đi kinh lịch các nước truyền đạo, không quản mọi vất vả khó khăn, nguy hiểm. Ngài đi đường thủy tới Quảng Châu vào niên hiệu Đại Đồng năm thứ 12 (546) rồi tới Kinh Ấp thuộc tỉnh Giang Tô, được vua Lương Võ Đế rất trọng đãi, nhưng xảy ra loạn Hầu Cảnh, Ngài phải lánh nạn tới Phú Xuân, tỉnh Chiết Giang rồi lại trở về Kiến Khang. Sau khi tới Dự Chương, thuộc tỉnh Giang Tây, và phải lưu lạc nhiều nơi, rồi Ngài định trở về Ấn Độ, nhưng trên đường biển về, không may gặp bão, thuyền lại dạt vào Quảng Châu (tỉnh Quảng Đông), quan Thứ Sử ở Quảng Châu liền đón Ngài về trụ trì chùa Chế Chỉ để chuyên việc dịch kinh. Năm đầu Đại Kiến (569), Ngài tịch, thọ 71 tuổi.
Trong hơn 20 năm, từ cuối đời nhà Lương tới đầu nhà Trần, tuy gặp nhiều gian nan, nhưng chưa bao giờ Ngài sao lãng việc phiên dịch kinh điển. Theo Khai Nguyên Lục trong đời Lương, Ngài dịch được 11 bộ 24 quyển, và đời Trần dịch 38 bộ, 118 quyển, cộng lại thành 49 bộ, 142 quyển. Những bộ chủ yếu dịch ở đời Lương như: Kim Quang Minh Kinh (7 quyển), Vô Thượng Y Kinh (2 quyển), Thập Thất Địa Luận (3 quyển), Trung Luận (1 quyển), Như Thực Luận (1 quyển), Đại Thừa Khởi Tín Luận (1 quyển) v.v. Những bộ chủ yếu dịch ở đời Trần như: Kim Cương Bát Nhã Kinh (1 quyển), Nhiếp Đại Thừa Luận Thích (15 quyển), Phật Tính Luận (4 quyển), Duy Thức Luận (1 quyển), Hiển Thức Luận (1 quyển), Chuyển Thức Luận (1 quyển), Tam Vô Tính Luận (2 quyển), Thập Bát Không Luận (1 quyển), A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Thích Luận (22 quyển), Lập Thế A Tỳ Đàm Luận (10 quyển), Tứ Đế Luận (4 quyển), Bộ Chấp Dị Luận (1 quyển) v.v. Đặc biệt những kinh luận do Ngài dịch ra, phần lớn là hệ thống tư tưởng Duy thức học của Ngài Vô Trước, Thế Thân, đưa tư tưởng giáo học Trung Quốc bước sang một giai đoạn mới. Như Nhiếp Đại Thừa Luận, và Khởi Tín Luận của Ngài Mã Minh, là một bộ sách trọng yếu, thuyết minh lý “Chân như duyên khởi” của Phật giáo Đại thừa. Về sự nghiệp dịch kinh của Ngài Chân Đế, cũng như Ngài La Thập, Ngài Huyền Trang, và Ngài Bất Không đời Đường, là bốn bậc Thánh tăng đại phiên dịch của lịch sử Phật giáo Trung Quốc.
