Năm 665, Pháp sư Đại Thừa Đăng từ Trường An (kinh đô Trung Quốc) qua Ấn Độ cầu pháp. Tiểu sử của ông được pháp sư Trung Quốc Nghĩa Tịnh ghi lại trong bộ Đại Đường Tây Vức Cầu Pháp Cao Tăng Truyện. Bộ này ghi chép các sự kiện về hơn 60 vị cao tăng từ các nước phương Đông qua Ấn Độ cầu pháp từ năm 650 trở đi. Trong số này có 6 cao tăng từ nước ta: Trí Hành, Đại Thừa Đăng, Giải Thoát Thiên, Huệ Diệm, Vận Kỳ và Khuy Xung.
Đại Thừa Đăng, người Ái Châu (Thanh Hóa), theo cha mẹ qua Thái Lan, có lẽ xuất gia tại đây. Năm 645 qua kinh đô Trường An của Trung Quốc, thọ đại giới với Tam Tạng Pháp Sư Huyền Tráng (600 – 664). Trong số 75 bộ kinh do Huyền Tráng dịch, ông góp công tới 7 phần tám với tư cách bút thọ. Bút Thọ là người chép và chỉnh lại những câu văn dịch sao cho vừa tôn trọng nguyên tác chữ Phạn vừa hợp với văn pháp chữ Hán. Sau khi Huyền Tráng (còn gọi là Huyền Trang) tịch, ông xin qua Ấn Độ cầu pháp. Ông gặp Nghĩa Tịnh tại Ấn Độ năm 671. Ông tịch tại chùa Niết Bàn ở thành Câu Thi Na (Kasia, Ấn Độ).
