Năm 820

Năm 820, Thiền sư Vô Ngôn Thông từ Trung Hoa sang Giao Châu, tới chùa Kiến Sơ lập phái thiền Vô Ngôn Thông. Chùa Kiến Sơ vào thời này là ngôi chùa mới lập, do thiền sư trẻ tuổi Cẩm Thành (tịch năm 860) dựng. Theo Lê Mạnh Thát (LSPGVN 2, tr. 352), có thể thiền sư Cẩm Thành theo học tại đạo tràng lớn Chúng Thiện do thiền sư Pháp Hiển (truyền thừa đời thứ 1 dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi) thành lập. Lúc đó nước ta dưới quyền đô hộ của nhà Đường, một chế độ được coi là hà khắc nhất trong gần ngàn năm nước ta bị Trung Quốc đô hộ.

Vô Ngôn Thông (tịch năm 826) tu học với thiền sư Bách Trượng (779 – 803), là người soạn bộ quy chế đầu tiên cho các thiền viện, gọi là Bách Trượng Thanh Quy. Hiện nay, nhiều chùa và tự viện lớn của VN vẫn áp dụng Bách Trượng Thanh Quy). Ông ít nói, nhưng thông minh hiểu biết mau nên có danh hiệu Vô Ngôn Thông hay Thông Thiền sư.

Tông chỉ của phái thiền Vô Ngôn Thông nhắm vào đốn ngộ, tức Tâm tức Phật, không có đối tượng của giác ngộ, nhấn mạnh vào tự lực tự tiến, sử dụng “thoại đầu”. Nhiều thiền sư trong thiền phái Vô Ngôn Thông chuyên trì kinh Viên Giác, một kinh dạy về phương pháp đốn ngộ. Các kinh Bát Nhã và Pháp Hoa cũng được các thiền sư phái này sử dụng nhiều.

Thoại đầu là câu nói hay mẩu đối thoại có tác dụng thúc đẩy hay làm phát khởi sự đạt ngộ. Thiền sư Quy Sơn (Trung Quốc, (771 – 853)) đồng thời với Vô Ngôn Thông, là những người đầu tiên dùng “thoại đầu” để dạy đệ tử. Cả hai đều là đệ tử của thiền sư Bách Trượng. Gần đây, thiền sư Duy Lực (1922 – 1999) là người tiếp nối dùng phương pháp “thoại đầu” tại hệ thống thiền đường Từ AÂn ở Việt Nam và California.

Phái thiền Vô Ngôn Thông truyền tới thiền sư Tiêu Diêu và Nhất Tông quốc sư được 17 đời. Đệ tử nổi tiếng của Tiêu Diêu là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Đệ tử nổi tiếng của Tuệ Trung Thượng Sĩ là Trần Nhân Tông, trở thành sơ tổ dòng thiền Trúc Lâm. Các đệ tử của phái Vô Ngôn Thông như các thiền sư Giác Hải, Không Lộ và Nguyện Học chịu ảnh hưởng khá rõ của Mật Giáo.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.