Năm 1308

Năm 1308 mồng một Tết, Sơ Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông trao y bát và tâm kệ cho Pháp Loa (Đồng Kiên Cương, 1284 – 1330). Ông cũng được trao 100 hộp đựng kinh sử ngoại điển và 20 hộp đựng Đại Tạng Kinh viết bằng máu, được dặn dò “mở rộng việc học bên trong và bên ngoài”. Pháp Loa, một người dân giả trẻ tuổi chưa đỗ đạt làm quan, xuất gia cũng chưa lâu, trở thành tổ thứ 2 của thiền phái Trúc Lâm. Xứng đáng với sự tin cậy của Điều Ngự Trúc Lâm, ông là một nhà tổ chức giáo hội tài ba, sanh năm 1284 tại Hải Dương, xuất gia năm 1304, tịch năm 1330. Thời Pháp Loa, số người xuất gia và số chùa tăng lên rất mau chóng, sổ tăng tịch được lập để thống nhất tăng sĩ và tự viện thành Giáo hội, mà Pháp Loa là người đầu tiên được cấp độ điệp (thẻ căn cước của tăng sĩ) năm 1308 sau khi nhận chức trú trì chùa Bảo AÂn. Năm 1311, tại chùa Vĩnh Nghiêm, ông lập kế hoạch kiểm tra các tự viện ( vì làng nào cũng có ít nhất là một chùa) và quy định mọi chức vụ của tăng sĩ trong giáo hội. Năm 1312 ông từ chối không nhận thuyền bè và phu kiệu do vua Trần Anh Tông cúng dường. Ông hạn chế việc tổ chức Đại Giới Đàn ba năm một lần để giới hạn số người xuất gia. Tính đến năm 1329, số tăng sĩ xuất gia qua các Đại Giới Đàn do Pháp Loa tổ chức được cấp sổ tăng tịch trên 15 ngàn người. Chùa Vĩnh Nghiêm ở Lương Giang, một trong 7 ngôi chùa lớn của phái Trúc Lâm được Pháp Loa chọn làm văn phòng trung ương của giáo hội.

Pháp Loa chú giải nhiều kinh điển như Pháp Hoa, Lăng Già, Kim Cương, Bát Nhã Tâm Kinh, Hoa Nghiêm và soạn các sách về nghi thức sớ điệp dùng trong các lễ Phật Giáo (Pháp Sự Khoa Văn), nghi thức cúng đàn chẩn tế (Độ Môn Trợ Thành Tập). Qua những khóa giảng kinh Hoa Nghiêm nhiều lần, có lần số người tham dự trên một ngàn, ông tạo nên phong trào học kinh Hoa Nghiêm trong thiền giới Việt Nam thời đó. Lê Mạnh Thát (TTTNT, tr. 325) cho rằng tư tưởng Hoa Nghiêm trở thành lý thuyết phổ quát cho những người lãnh đạo quốc gia Đại Việt nhìn về đất nước cũng như xã hội mình. Tăng già thời Pháp Loa học kinh điển theo cách phân tích, chú giải và bình luận, vấn đáp và đàm thuyết.

Pháp Loa cũng soạn sách Hộ Quốc Nhân Vương Nghi Quý theo lệnh của vua Trần Anh Tông để làm cẩm nang trị quốc theo phẩm hạnh một vị quốc vương bồ tát (như vua A Dục).

Mật Tông đã ảnh hưởng đáng kể tới Pháp Loa, ông làm lễ Quán Đảnh (một nghi thức truyền giới của Mật Tông), tổ chức trai đàn chẩn tế với những ấn quyết và thần chú, thời khóa tụng niệm buổi chiều thường có nghi thức thí thực cô hồn ngắn ( gọi là Mông Sơn Thí Thực Văn). Nghi thức tụng niệm buổi sáng của giáo hội Trúc Lâm chủ yếu là thần chú ( gồm 11 thần chú, không kể thần chú trong Bát Nhã Tâm Kinh). Trong thời Pháp Loa, tăng sĩ Tây Tạng Du-Chi-Bà-Lam qua Đại Việt lần thứ hai năm 1311 và tịch tại đây. Con gái ông được vua Trần Anh Tông tuyển vào cung.

Năm 1318, tăng sĩ Ấn Độ Ban-Để-Ô-Sa-Thất phụng chiếu vua Trần Minh Tông dịch Bạch Tán Cái Thần Chú.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.