Ngài Đàm Ma Ca La (Dharmakàla): Ngài là người Trung Ấn tới Lạc Dương vào niên hiệu Gia Bình năm thứ hai (250) đời nhà Ngụy (đời vua Ngụy Tề vương, tức Tào Phi) . Trong khi lưu tại Lạc Dương, Ngài đã dịch bộ Tăng Kỳ Giới Bản (Cao Tăng Truyện). Hai năm sau, lại có Ngài Khương Tăng Khải (Sangha – varman), người nước Khương Cư (Sogdian) tới Lạc Dương, dịch Kinh Vô Lượng Thọ. Sau hai năm (254), lại có Ngài Đàm Đế (Dharmatràta) tới, và phiên dịch bộ Đàm Vô Đức Yết Ma, cách tác pháp thụ giới. Sau nữa là Ngài Bạch Diên, người nước Quy Tư (Kucha) tới dịch bộ Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh. Trong việc dịch kinh sau này còn có Ngài An Pháp Hiền là người Tây Vực.
Các vị Phạm tăng tới nước Ngụy phiên dịch kinh điển, đặc biệt có hai Ngài Đàm Ma Ca La và Đàm Đế đã dịch về giới luật, là những vị truyền bá giới luật đầu tiên ở Trung Quốc, có ảnh hưởng rất lớn đến hậu thế. Vì khi Ngài Đàm Ma Ca La tới Trung Quốc, tuy đời Hậu Hán cũng đã có người đi xuất gia, nhưng chưa biết cách thọ giới pháp1chỉ cạo đầu và đắp y trơn (y của sa di), chứ không có luật pháp gì để hành trì, sau khi bộ Tăng Kỳ Giới Bản của Ngài ra đời, mới nương vào ó để làm giới pháp căn bản cho người xuất gia; và sau khi bộ Đàm Vô Đức Yết Ma của Ngài Đàm Đế ra đời, mới dựa vào đó mà biết cách tác pháp thọ giới (thỉnh 10 vị Phạn tăng tác pháp yết ma, truyền trao giới luật). Tương truyền, vị tăng Trung-quốc đầu tiên được thọ giới là Chu Sĩ Hành (204-282). Pháp chế truyền giới ở Trung-quốc bắt đầu từ lúc đó. Hành trạng của ngài từ sau đó, không thấy tài liệu nào ghi chép. Luật tông ở Trung-quốc đã tôn xưng ngài là vị sơ tổ của tông Tứ Phần Luật của Phật giáo Trung Quốc.
