Năm thứ 19 niên hiệu Kiến Nguyên (383), thanh danh của Ngài Cưu Ma La Thập (Kumarajiva, 344 – 413) truyền tới Trung Quốc, vua Phù Kiên nhà Tiền Tần nghe biết, liền sai tướng Lã Quang đem quân tiến đánh Quy Tư, và bảo Lã Quang rằng “Trẫm nghe có Cưu Ma La Thập, hiểu sâu nghĩa pháp tướng, lại khéo biết lẽ âm dương, trẫm muốn học hỏi tông chỉ đó, vậy ngươi phải tới đánh Quy Tư để rước La Thập về” (theo Xuất Tam Tạng Ký Tập). Lã Quang vâng lệnh tiến đánh Quy Tư, và đón được Ngài La Thập, nhưng khi về tới nửa đường, được tin nhà Tiền Tần đã mất, Hậu Tần lên thay thế, Lã Quang liền đưa Ngài về Cô Tàng (tỉnh Cam Túc), và tự lập một nước riêng gọi là Hậu Lương, đóng đô ở Cô Tàng (386).
Ngài La Thập ở Cô Tàng 15 năm, sau Diêu Hưng vua nhà Hậu Tần, sai tướng là Diêu Thạc Đức đem quân đánh Hậu Lương, rước được Ngài La Thập về Tràng An, giữa niên hiệu Hoằng Thủy năm thứ 3 (401) đời Hậu Tần. Sau khi tới Tràng An thì Ngài Đạo An đã mất trước đó 16 năm, và đương thời Ngài Tuệ Viễn hùng cứ ở Lư Sơn phương Nam. Diêu Hưng sau khi đón được Ngài La Thập về, ông rất trọng đãi Ngài, và tôn Ngài là bậc “Quốc sư”, ban cho Ngài gác Tây Minh và vườn Tiêu Dao để làm nơi phiên dịch kinh điển. Ngài ở Tràng An trong khoảng 12 năm trời, chuyên về công việc phiên dịch, tới niên hiệu Hoằng Thủy thứ 13 (413) thì mất, thọ 70 tuổi.
Sự nghiệp phiên dịch kinh điển của Ngài La Thập cũng như Ngài Huyền Trang đời Đường, là hai bậc Thánh Tăng dịch kinh bất hủ của lịch sử Phật giáo. Theo Xuất Tam Tạng Ký Tập, Ngài dịch được tất cả 32 bộ, hơn 300 quyển, theo Lịch Đại Tam Bảo Kỷ có 97 bộ, 425 quyển, theo Khai Nguyên Thích Giáo Lục có 74 bộ, 384 quyển. Kinh điển Ngài đã phiên dịch hầu hết là kinh điển Đại thừa, trong đó có những bộ chính như sau:
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh: 27 quyển
Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh: 10 quyển
Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh: 1 quyển
Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Kinh: 2 quyển
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Thần Chú Kinh: 1 quyển
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh: 7 quyển
Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh: 3 quyển
A Di Đà Kinh: 1 quyển
Tọa Thiền Tam Muội Kinh: 3 quyển
Di Lặc Thành Phật Kinh: 1 quyển
Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh: 3 quyển
Phạm Võng Kinh: 2 quyển
Đại Trang Nghiêm Kinh Luận: 15 quyển
Đại Trí Độ Luận: 100 quyển
Trung Luận: 4 quyển
Thập Nhị Môn Luận: 1 quyển
Bách Luận: 2 quyển
Thành Thực Luận: 20 quyển
Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận: 14 quyển
Các bộ luận kể trên là những bộ luận Đại thừa được dịch thuật đầu tiên ở Trung Quốc. Kinh Bát Nhã, Kinh Pháp Hoa, Kinh Di Đà, Kinh Duy Ma, là những bộ có ảnh hưởng lớn với các tông phái hậu thế. Như vậy, những kinh điển Ngài đã dịch thuật, có một địa vị thực vô cùng quan trọng.
Dịch trường của Ngài không những chuyên việc phiên dịch, mà còn là nơi để diễn giảng, thuyết pháp. Vì vậy môn đồ của Ngài thường tập trung đến mấy ngàn người. Thí dụ, trong khi phiên dịch Kinh Đại Phẩm Bát Nhã trong dịch trường có 500 người, kinh Duy Ma Cật có 1200 người, Kinh Pháp Hoa có 2000 người v.v.
Môn đồ của Ngài có tất cả hơn 3000 người, trong số đó có 80 người gọi là “Đạt Nhân”, và 4 người siêu trác hơn cả gọi là “Tứ Thánh”. Tứ Thánh là Tăng Triệu, Tăng Duệ, Đạo Sinh và Đạo Dong. Ngoài ra như Tuệ Quán, Đạo Hằng, Tăng Đạo, Đàm Ảnh v.v., đều là những đại biểu hoạt động của Phật giáo đương thời.
