Năm 408

Ngài Phật Đà Bạt Đà La (Buddhabhadra, 359 – 429): Hán dịch là Giác Hiền, Ngài người Bắc Thiên Trúc, nghiêm trì giới luật, lại tinh thông về thiền quán, nhận lời thỉnh của vị Tăng “nhập Trúc cầu Pháp” là Trí Nghiêm, Ngài tới Tràng An vào năm thứ 10 niên hiệu Hoằng Thủy (408) nhà Tiền Tần. Khi Ngài tới Tràng An, đương thời Ngài La Thập đã có hơn 3000 học đồ, tiếng tăm lừng lẫy, Ngài cũng đã giao du với Ngài La Thập, bàn luận về Pháp tướng, nhưng sau giáo đoàn của hai Ngài không dung hòa nhau, nên Ngài trở về phương Nam, nhận lời mời của Ngài Tuệ Viễn tới Lư Sơn, dịch ra bộ Đạt Ma Đa La Thiền Kinh. Ngài chỉ ở Lư Sơn trong khoảng hơn một năm rồi rời Lư Sơn tới trụ trì ở chùa Đạo Tràng thuộc Kiến Khang, chuyên về công việc phiên dịch. Ngài ở chùa này hơn 18 năm, tới niên hiệu Nguyên Gia năm thứ 6 (429) thì tịch, thọ 71 tuổi. Các kinh điển Ngài đã dịch như bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh 60 quyển, Ma Ha Tăng Kỳ Luật 40 quyển (nguyên bản Phạn văn do Ngài Pháp Hiển mang về), Đại Bát Nê Hoàn Kinh 6 quyển. Những bộ kinh Ngài dịch chung với Ngài Pháp Hiển có Tân Vô Lượng Thọ Kinh 2 quyển, Quán Phật Tam Muội Kinh 8 quyển v.v. Đặc biệt, Hoa Nghiêm Kinh sau khi được dịch ra có ảnh hưởng rất lớn tới nền giáo học. Sau cũng có Ngài Thực Xoa Nan Đà, đời Đường dịch bộ Hoa Nghiêm Kinh 80 quyển gọi là “Tân dịch”, còn bộ 60 quyển gọi là bản “Cựu dịch”.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.