Sự Tích Giới Luật – 178 Pháp Ba Dật Đề ( Đơn Đề ) – Phần 1

Tóm tắt

1. Cố ý nói dối 2. Nhiếc mắng thành phần
3. Nói để ly gián 4. Ngủ chung một nhà
5. Ngủ quá ba đêm 6. Đọc tụng ồn náo
7. Nói tội lỗi nặng 8. Nói thật đắc đạo
9. Quá năm sáu lời 10. Đào cuốc đất đai
11. Chặt phá cây sống 12. Xúc não lời lạ
13. Nhiếc mắng tri sự 14. Trải đồ chỗ trống
15. Trải đồ trong phòng 16. Cưỡng hiếm chỗ nằm
17. Lôi ra khỏi phòng 18. Nằm giường sút chân
19. Dùng nước có trùng 20. Lợp nhà quá hạn
21. Ăn quá một lần 22. Ăn thành biệt chúng
23. Nhận ăn quá phần 24. Ăn lúc phi thời
25. Ăn đồ cách đêm 26. Ăn đồ không mời
27. Đi không dặn lại 28. Nhà ăn ngồi dai
29. Nhà ăn ngồi khuất 30. Ngồi chung chỗ trống
31. Đuổi người đi đi 32. Quá hạn thọ thuốc
33. Đi xem quân trận 34. Trong quân quá hạn
35. Xem quân giao chiến 36. Uống các thứ rượu
37. Đùa giỡn trong nước 38. Thọc lét người khác
39. Không nghe can gián 40. Nhát cho người sợ
41. Tắm dưới nửa tháng 42. Đốt lửa đất trống
43. Giấu chơi vật dụng 44. Dùng không hỏi chủ
45. Dùng y mới nguyên 46. Cố giết súc sinh
47. Uống nước có trùng 48. Làm buồn người khác
49. Che giấu tội nặng 50. Khơi lại tranh cãi
51. Hẹn đi với giặc 52. Chống can nói càn
53. Theo người nói bậy 54. Dung kẻ bị đuổi
55. Chống cự khuyên học 56. Hủy báng giới luật
57. Sợ nên nói trước 58. Yết ma rồi hối
59. Không nói gửi dục 60. Gửi dục rồi hối
61. Nghe lén mách lẻo 62. Đánh Tỳ kheo ni
63. Tát Tỳ kheo ni 64. Vu khống tội nặng
65. Vào cửa cung vua 66. Cầm lấy báu vật
67. Vào xóm phi thời 68. Làm giường quá hạn
69. Dồn bông ba chỗ 70. Ăn các thứ tỏi
71. Cạo lông ba chỗ 72. Tẩy tịnh quá hạn
73. Chế ra nam căn 74. Cùng vỗ với nhau
75. Bưng nước hầu quạt 76. Đi xin lúa sống
77. Đại tiểu cỏ tươi 78. Đổ bậy đồ dơ
79. Xem nghe múa hát 80. Vào xóm đứng khuất
81. Cùng vào chỗ khuất 82. Kề tai nói nhỏ
83. Không nói mà đi 84. Không mời cứ ngồi
85. Nằm nhà cư sĩ 86. Cùng vào chỗ tối
87. Không nghe cho kỹ 88. Việc nhỏ thề bồi
89. Đấm ngực khóc la 90. Không bệnh chung giường
91. Chung mền chung nệm 92. Hỏi để quấy rối
93. Không thăm nom bệnh 94. An cư đuổi người
95. Ba mùa du hành 96. Giải hạ ở lì
97. Đi chỗ biên giới 98. Đi chỗ nguy hiểm
99. Thân cận cư sĩ 100. Đi xem hoàng cung
101. Lộ hình tắm sông 102. Khăn tắm quá hạn
103. May y quá lâu 104. Năm ngày không đoái
105. Ngăn cúng tăng y 106. Mặc y người khác
107. Cho y ngoại đạo 108. Ngăn tăng chia vải
109. Xúi khoan xuất y 110. Xúi đừng xuất y
111. Không diệt tranh cãi 112. Cho ngoại đạo ăn
113. Để người sai sử 114. Xe chỉ đánh sợi
115. Không hỏi nằm, ngồi 116. Không từ mà đi
117. Tà mạng chú thuật 118. Dạy người chú thuật
119. Độ người có thai 120. Độ người con bú
121. Độ chưa đủ tuổi 122. Không dạy học giới
123. Không học sáu pháp 124. Độ không hỏi tăng
125. Độ gái có chồng 126. Đủ năm thiếu phép
127. Độ dâm, tặc nữ 128. Độ không nuôi dạy
129. Không hề y chỉ 130. Không phép, làm thầy
131. Thiếu hạ làm thầy 132. Đủ, tăng không cho
133. Hủy báng không cho 134. Độ kẻ có chủ
135. Độ kẻ đáng yêu 136. Gạt thức xoa học
137. Gạt thức xoa y 138. Dưới mười hai tháng
139. Để cách một đêm 140. Không thọ giáo thọ
141. Không cầu giáo thọ 142. Không cầu tự tứ
143. An cư không tăng 144. Không thưa mà vào
145. Mắng tỳ kheo tăng 146. Trách mắng ni chúng
147. Mổ nhọt không thưa 148. Ăn xong ăn nữa
149. Ganh tị với thầy 150. Hương liệu xoa thân
151. Dầu mè xao thân 152. Bảo đồng giới xoa
153. Bảo thức xoa xoa 154. Sa di ni xoa
155. bảo phụ nữ xoa 156. Mặc quần lót độn
157. Sắm đồ trang điểm 158. Mang dày cầm dù
159. Không bệnh ngồi xe 160. Không mặc áo lót
161. Tối đến nhà người 162. Tối mở cổng chùa
163. Trời lặn để cổng 164. Không có an cư
165. Độ người rỉ chảy 166. Độ người hai hình
167. Độ người nhập một 168. Độ người nợ, bệnh
169. Học nghề coi bói 170. Dạy nghề coi bói
171. Đuổi mà không đi 172. Hỏi không xin trước
173. Đi đứng xúc não] 174. Xây tháp chùa tăng
175. Khinh tân Tỳ kheo 176. Đi mà lắc mình
177. Sắm đồ trang sức 178. Bảo ngoại đạo xoa
  1. CỐ Ý NÓI DỐI

Phật ở Ca tỳ la vệ, trong vườn Ni câu luật (Nigrodha) Tỳ kheo Trượng lực phạm. Ông thuộc dòng họ Thích ca, có tài biện bác thường tranh luận với ngoại đạo. Mỗi khi người đối thoại chứng minh ông nói sai thì ông quật lại rằng mình chưa từng nói câu ấy. Mọi người chê bai Tỳ kheo gì mà lại chuyên nói dối. Phật quở trách đương sự và chế giới.

  1. NHIẾC MẮNG THÀNH PHẦN

Phật ở Xá vệ chế giới. Lục quần Tỳ kheo phạm. “Thành phần” là như lôi nghề nghiệp, cố tật, thành phần xã hội của người ta ra mà nhiếc móc, như nói “đồ con nhà thợ săn”, “hàng thịt” vân vân.

Kết giới xong, Phật kể một câu chuyện ngụ ngô. Vào một thời xa xưa, khi loài vật cũng biết nói, ở xứ này có người bà la môn nuôi một con trâu đực chỉ có một sừng nhưng sức mạnh phi thường. Bà la môn cho trâu ăn, săn sóc trâu rất chu đáo. Một ngày kia trong nước có hội đấu trâu, trâu ai kéo nặng đi nhanh nhất sẽ thắng cuộc một ngàn lượng vàng. Con trâu nói với chủ: “Xin chủ hãy đem tôi ra đấu, tôi sẽ làm cho chủ được cuộc”. Bà la môn nghe lời trâu, bỏ tiền ra dự cuộc.

Đến ngày dự thi, lúc đem trâu ra trình làng, ông ta giới thiệu: “Thưa bà con cô bác, đây thằng lõi một sừng của tôi đây, xin bà con hãy xem sức mạnh của nó”.

Trâu nghe nhắc đến dị tật “một sừng” của mình, lấy làm hổ thẹn buồn sầu, kéo xe không nổi. Người Bà la môn bị thua cuộc tiu nghỉu dắt trâu về. Về đến nhà, ông bảo trâu: “Bình thường mày mạnh lắm, sao hôm nay bỗng dưng mày trở chứgn kéo xe không nổi, làm ta mất toi một ngàn cây?”.

Trâu nói: “Ai bảo chủ ở trước công chúng mà gọi tôi là thằng lõi một sừng, nghe thế tôi hổ thẹn buồn sầu chẳng còn chút sinh lực nào nữa. Nếu chủ muốn thắng cuộc, hãy đem đặt tiền cuộc gấp đôi, rồi dùng lời êm tai vỗ về trước khi đấu, tôi sẽ đem về cho chủ hai ngàn lượng cho coi”.

Người Bà la môn nghe vậy, hết lời xin lỗi trâu, rồi đem trâu ra đấu nữa. Lần này trước khi đi ông dụ ngọt: “Con cưng của ba ơi, hãy theo ba ra trường đấu, lần này con rán kéo xe cho thắng cuộc, rồi ba sẽ bồi dưỡng cho con nhiều rượu thịt và cho con đi xem cải lưởng hát bóng…”.

Trâu nghe bùi tai, hăng hái ra đi. Đến nơi, bà la môn lại vỗ về trâu mà giới thiệu: “Thưa bà con cô bác, đây là anh chàng Hoàng Ngưu báu vật số một của tôi. Hoàng Ngưu đẹp trai, thông minh, lại khỏe mạnh, dẻo dai vô cùng…”. Rồi ông nói riêng với trâu: “Nào Hoàng Ngưu ra đi con, hãy làm cho mọi người trông thấy tận mắt, thưởng thức cái sức mạnh vô địch của con”. Con trâu hùng dũng bước ra kéo dễ như bỡn một chiếc xe nặng nhất trong trườngđấu, chưa con nào kéo nổi. Mọi người vỗ tay hoan nghênh, và người bà la môn thắng cuộc hai ngàn vàng.

Nhân đấy Phật dạy: “Con vật mà còn ưa nghe lời dịu ngọt như thế, huống chi loài người”.

Nguồn:budsas.org